Home / Sức Khỏe / Bệnh viêm khớp: nguyên nhân, triệu chứng, điều trị, phòng ngừa

Bệnh viêm khớp: nguyên nhân, triệu chứng, điều trị, phòng ngừa

/

Thuật ngữ “viêm khớp” được sử dụng để mô tả một loạt các tình trạng ảnh hưởng đến sức khỏe xương khớp bệnh nhân.

bệnh viêm khớp là gì

1. Bệnh viêm khớp là gì?

Thuật ngữ “viêm khớp” được sử dụng để mô tả một loạt các tình trạng ảnh hưởng đến sức khỏe xương khớp bệnh nhân. Những cơn đau mãn tính do tình trạng này gây ra khiến cuộc sống hàng ngày, hoạt động sinh hoạt và làm việc của nhiều người trở nên khó khăn. Đau và cứng khớp là các triệu chứng phổ biến nhất của bệnh viêm khớp. Cứng cơ, nóng và đỏ quanh khớp bị ảnh hưởng cũng là những triệu chứng có thể xảy ra. Viêm khớp có nhiều dạng khác nhau, từ dạng phổ biến nhất đến dạng biểu hiện ở các cơ quan khác. Viêm khớp dạng thấp (RA) và viêm xương khớp (OA) là hai dạng viêm khớp phổ biến nhất.

2. Những nguyên nhân chính gây bệnh viêm khớp

2.1. Độ tuổi

Tuổi tác tỉ lệ thuận với nguy cơ mắc bệnh thấp khớp. Theo thống kê có khoảng ẵ số người từ 65 tuổi mắc bệnh viêm khớp, trong khi đó chỉ có 1 trong 250 trẻ em bị bệnh này.

2.2. Gien

Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn. Các nhà khoa học đang tìm cách xác định loại gen nào tương ứng gây bệnh thấp khớp để tạo ra loại thuốc đặc trị cho các bệnh thấp khớp có nguồn gốc từ gien.

2.3. Giới tính

Các thống kê đã chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, trong khi đó nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới. 

2.4. Hút thuốc lá

Các nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa hút thuốc và bệnh viêm khớp. Nếu bạn có cha mẹ hoặc họ hàng mắc bệnh viêm khớp thì nên ngừng hút thuốc ngay để giảm nguy cơ mắc bệnh. Các nghiên cứu tại Thụy Điển đã chỉ ra rằng những người hút thuốc làm tăng 21% nguy cơ mắc viêm khớp.

2.5. Nghề nghiệp

Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối liên quan giữa các dạng của bệnh thấp khớp và nghề nghiệp đã thấy rằng những người làm nghề sơn sửa móng tay chân, thợ sơn, thường xuyên sử dụng acetone và thuốc trừ sâu dễ mắc bệnh viêm khớp hơn. Nghiên cứu gần đây tại Thụy Điển chỉ ra rằng những người thường xuyên tiếp xúc với các loại xăng dầu tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

2.6. Chế độ ăn uống

Cơ thể thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp vì thế cần điều chỉnh cân nặng hợp lý. Việc sử dụng thực phẩm giàu chất béo bão hoà, thiếu chất chống oxy hóa, các vitamin và chất khoáng cần thiết làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

3. Các dạng viêm khớp thường gặp

Phổ biến nhất có 5 dạng:

– Viêm khớp dạng thấp ở phụ nữ trẻ, là một trong những bệnh tự miễn khó tránh, gây nên bởi kèn một phản ứng dị ứng trong cơ thể, chủ yếu ảnh bệnh hưởng đến các khớp xương ở bàn tay, bàn chân, cổ tay và mắt cá chân.

– Bệnh thoái hóa khớp hoàn toàn khác hẳn dạng trên vì thực ra không có viêm tấy và xuất hiện vào cuối tuổi trung niên, được xem là do tiến trình lão hóa “tự nhiên” của các khớp. Tuy nhiên với người “già trước tuổi” thì hiện tượng này xuất hiện sớm hơn.

– Viêm khớp nhiễm trùng có thể xuất hiện khi cơ thể mắc phải một bệnh nhiễm trùng, chẳng hạn như bệnh cúm, hay có thể là hậu quả của một bệnh nhiễm vi khuẩn với một bệnh lây bằng đường tình dục, chẳng hạn như bệnh lậu.

– Viêm đốt sống. Cột sống là bộ phận phải chịu rất nhiều sức ép trong suốt cuộc đời. Khi các khớp cột sống bị ảnh hưởng của bệnh viêm khớp, chúng có thể gây sức ép lên các dây thần kinh và phát sinh ra chứng đau dọc theo cánh tay với cảm giác tê và đau nhức ngón tay, đau ở vùng thắt lưng, sinh ra chứng đau dây thần kinh hông lan xuống mông và phía sau cẳng chân.

– Thống phong hay xảy ra khi hàm lượng tăng trong máu phần nhiều do ăn uống các loại thức ăn có nhiều chất đạm từ phủ tạng động vật (có nhiều nhân tế bào), gan, tim, cật… kèm với uống rượu mạnh, cà phê, trà đậm. Người bị bệnh này hay đau các khớp như khớp ngón chân cái đầu gối… và thường dư cân.

3.1. Viêm khớp dạng thấp

3.1.1. Triệu chứng và tác hại của viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một dạng thường gặp của bệnh viêm khớp. Trên thế giới, cứ 8 người ở độ tuổi từ 18 đến 79 lại có một người bị bệnh này. Theo quỹ nghiên cứu về bệnh viêm khớp Hoa Kỳ, có tới 16 triệu người Mỹ bị bệnh này, trong đó số bệnh nhân nữ nhiều gấp 3 lần so với nam giới.

Cùng với sự lão hóa của cơ thể, các khớp sụn cũng bị bào mòn dần đi. Khi người ta tới ngưỡng 50 tuổi thì có tới 90% khả năng các lớp bị hỏng hóc đi đôi chút. Bệnh viêm khớp dạng thấp xảy ra khi các lớp sụn bị bào mòn và mất đi. Vì lớp sụn là một phức hợp bao gồm dịch nhầy, mô sụn có tác dụng hạn chế bớt lực ma sát khi khớp chuyển động nên nếu bị bào mòn sẽ sinh ra đau khớp. Hầu hết các khớp chịu lực lớn trong cơ thể như khớp háng, gối và cột sống đều bị ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp.

Trước đây, viêm khớp dạng thấp được coi là một bệnh của tuổi già, tuy nhiên hiện nay do cuộc sống có nhiều thay đổi nên người ở mọi độ tuổi đều có thể là nạn nhân của căn bệnh này.

Những miếng sụn bị văng ra từ các khớp là một nguyên nhân viêm khớp dạng thấp. Do đó những người tham gia các môn thể thao vận động mạnh như tennis, trượt tuyết là những người thuộc nhóm có nguy cơ lớn bị viêm khớp dạng thấp.

3.1.2. Những biểu hiện của viêm khớp dạng thấp

Tổn thương khớp: Thường xảy ra ở một hay nhiều khớp: khớp gối, mắt cá, ngón chân, cổ tay, ngón tay… với các biểu hiện sưng, nóng, đau khi cử động. Có tình trạng cứng khớp: thường xảy ra buổi sáng sau khi ngủ hoặc sau khi bất động. Người bệnh thường vận động khó khăn, gọi là hiện tượng phá gỉ khớp buổi sáng. Các khớp đốt ngón tay thường gây biến dạng ngón tay ở khoảng 50% số người mắc bệnh.

Các biểu hiện toàn thân: Thường ở trạng thái dễ bị kích thích, biếng ăn, mệt mỏi. Có thể sốt cao tới 41 độ C hoặc thấp hơn và kéo dài. Có thể có ban thấp với đặc trưng là các chấm màu hồng nhỏ, kín đáo ở giữa nhạt màu. Ban thấp thường mọc ở thân mình và chân tay. Thiếu máu phổ biến gặp ở các thể nặng. Gan, lách to và nổi hạch ở nhiều nơi. Ngoài ra có thể gặp viêm mống mắt và thể mi với các triệu chứng đỏ và đau mắt, sợ ánh sáng, giảm thị lực.

Tiến triển và tiên lượng bệnh: Nói chung có tiên lượng tốt, ít khi đe dọa tính mạng. Bệnh có thể kéo dài hàng năm với các biến chứng như biến dạng khớp.

3.1.3. Viêm khớp dạng thấp có thể gây tàn phế

Nếu bệnh nhân không điều trị theo chỉ định của bác sĩ mà tự điều trị một cách sai lầm, bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có thể bị cứng các khớp, ngón tay co quắp lại, không cầm nắm được, vai không thể giơ lên cao, ngón chân bị trẹo ra ngoài, rất đau đớn. Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến tàn phế.

Ở Việt Nam có khoảng 0,5% dân số mắc bệnh viêm khớp dạng thấp. Năm 2000 và đầu năm 2001, khoa Nội khớp (Trung tâm Chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh) đã tiếp nhận điều trị nội trú cho 63 bệnh nhân bị bệnh này, trong đó có nhiều trường hợp đã bị tàn phế do tự điều trị một cách sai lầm.

Nguyên nhân gây bệnh là do cơ thể tự sản xuất một kháng thể chống lại các cơ quan, bộ phận, nhất là các khớp Khoa học hiện chưa giải thích được vì sao cơ thể lại sản xuất ra kháng thể này.

Biểu hiện đầu tiên của bệnh là cứng khớp vào các buổi sáng thức dậy, rồi sưng viêm và đau các khớp vai, khuỷu, cổ tay, bàn tay, đốt ngón tay, đầu gối, bàn chân, đốt ngón chân. Khi có những triệu chứng trên, bệnh nhân hãy đến ngay các bệnh viện, trung tâm chuyên khoa về nội khớp để khám và điều trị.

3.1.4. Nguyên nhân dẫn đến viêm khớp dạng thấp

  • Dầu máy có thể gây viêm khớp
  • Nữ cầu thủ dễ bị viêm khớp T
  • Ăn uống thiếu vitamin C dễ mắc bệnh viêm khớp 
  • Nhuộm tóc nhiều dễ gây viêm khớp mãn tính
  • Đi giày đế rộng dễ bị viêm khớp
  • Ăn nhiều thịt đỏ dễ bị viêm khớp
  • Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp
  • Nguy cơ viêm khớp ở trẻ em sinh nặng cân
  • Sảy thai làm bệnh viêm khớp nặng thêm

3.1.5. Chế độ dinh dưỡng cho người bị viêm khớp

Nên bổ sung một số axit béo

– Axit béo hệ Omega – 3 chủ yếu gặp trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng làm thuyên giảm triệu chứng bệnh viêm khớp dạng thấp do chúng ngăn chặn được phản ứng hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp.

– Một số công trình nghiên cứu khi cho bệnh nhân dùng những liều dầu cá từ 2 – 4 đến 5g/ngày, đã cho một số kết quả khá hứa hẹn: khớp bớt cứng và đau hơn.

– Những loại cá giàu axit béo hệ Omega 3 gồm: cá hồi cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ, cá trống. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi quyết định dùng dầu cá liều cao vì dầu cá cũng có thể ảnh hưởng đến tiến trình đông máu (chẳng hạn phải nhổ răng hay tiểu phẫu}, hoặc có thể tương tác bất lợi với những loại thuốc đang uống theo toa để điều trị một bệnh khác (chẳng hạn như thuốc hạ huyết áp). 

– Axit béo hệ Omega – 6 GLA (tức axit gam mà – linolenic) có khả năng ngăn chặn tiến trình sản sinh ra các chất prostaglandin gây chứng viêm. Tuy nhiên vấn đề tìm ra được một nguồn GLA còn khó hơn. Dầu anh thảo có GLA, nhưng tính ra giá thành khá cao. Ở Việt Nam, có thể tận dụng vi tảo Spirulina (9 -11g/kg) dưới dạng viên nang 400mg tảo khô (tên biệt dược Linaforce).

Bổ sung các vitamin:

– Tác dụng kháng oxy-hóa của các vitamin C, D, E và beta caroten có thể giúp phòng tránh được một số dạng viêm khớp. Với những người bị viêm xương – khớp (osteoarthritis) thì vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh. Một công trình nghiên cứu mới đây đã chứng minh được khả năng làm chậm hẳn lại sự tiến triển của căn bệnh này ở đầu gối, chỉ với liều nhỏ dưới 150mg vitamin C (tương đương với hàm lượng sinh tố của 2 ly cam vắt) và 400 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D/ngày. Người ta cũng đã chứng minh vitamin E có tác dụng giảm đau chống viêm. Còn những mức hàm lượng beta – caroten thấp luôn gắn liền với bệnh viêm khớp dạng thấp, có nghĩa là nếu làm tăng được lượng beta – caroten cũng có thể giúp bệnh giảm xuống. Như vậy vấn đề bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ các vitamin nói trên, ăn nhiều rau và trái cây tươi là việc rất nên làm đối với các bệnh nhận cơ xương khớp.

3.1.6. Người bị viêm khớp dạng thấp không nên ăn kiêng

Việc áp dụng chế độ ăn kiêng chỉ dẫn đến sự thiếu hụt dinh dưỡng, suy giảm sức khỏe. Trong khi chế độ ăn hợp lý lại giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp và độ rắn chắc của xương, hỗ trợ tốt hơn cho các khớp, nhất là khi thời tiết thay đổi.

Bệnh viêm khớp dạng thấp rất khó chữa khỏi.

Trong đa số trường hợp, thuốc chỉ tạm thời đẩy lùi bệnh. Nhiều người vẫn truyền nhau các phương pháp như nhịn đói trị bệnh, loại bỏ những thức ăn gây đau đớn, chọn ăn những thực phẩm đặc biệt… Tuy nhiên, cho đến nay, khoa học vẫn chưa chứng minh được hiệu quả của những biện pháp này.

Viêm khớp dạng thấp thường đi kèm các đợt viêm (bệnh nhân bị sốt, khớp bị sưng đau). Điều này làm tiêu hao năng lượng và gây chán ăn, khiến người bệnh dễ bị thiếu dinh dưỡng. Họ cần ăn uống nhiều hơn để tích lũy các chất dinh dưỡng.

Người bệnh viêm khớp dạng thấp thường thấy mệt mỏi, cứng các khớp xương vào buổi sáng. Vì vậy họ cần ăn điểm tâm đầy đủ để tăng thêm sức lực. Ngoài 3 bữa chính, nên ăn thêm 2-3 bữa phụ với thực phẩm giàu năng lượng. Thức ăn càng đa dạng càng tốt. Hàm lượng khuyến cáo với từng thành phần dinh dưỡng là:

Rau quả: Nên dùng trên 300g rau và 200g hoa quả mỗi ngày. Chất xơ trong rau trái giúp giảm cholesterol máu, tránh táo bón (vốn là tình trạng thường gặp ở người bệnh khớp).

Chất đạm: Dùng 50g thịt, 100g đậu đỗ mỗi ngày. Có thể ăn 3 – 4 quả trứng/tuần (người có cholesterol máu cao cần giảm xuống 1-2 qua/tuần). Các loại thực phẩm giàu chất đạm như thịt cá, trứng, sữa, nghêu, sò tào phớ và đậu các loại… đều có lợi cho sức khỏe. Chú ý chỉ ăn thịt nạc bỏ da, không ăn phủ tạng. Nên thay bớt đạm động vật bằng đạm thực vật. Cần tăng cường uống sữa vì đây là nguồn cung cấp canxi quan trọng, rất tốt cho người bệnh khớp.

Chất béo: Không nên dùng quá 20g dầu thực vật mỗi ngày. Nên sử dụng dầu lạc, dầu vừng.

Tinh bột: Ăn đầy đủ các thức ăn giàu chất bột như cơm, mì, khoai củ để không bị thiếu dinh dưỡng.

Muối, đường: Không nên ăn thực phẩm quá mặn hoặc quá nhạt. Cần hạn chế lượng muối ở mức không quá 10g/ngày và đường ở mức 20g/ngày.

3.1.7. Những người bị bệnh khớp mãn tính nên ăn kiêng

Nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển công bố trên tạp chí Arthritis Research and Therapy ngày 18.3 cho biết: Chế độ ăn kiêng sẽ rất có ích cho những người bị bệnh khớp mạn tính (RA).

Nghiên cứu chỉ ra rằng, vấn để tim mạch không phải là nỗi ám ảnh của riêng những người bị cao huyết áp mà cả đối với những người bị RA.

Lượng cholesterol xấu (LDL} tác động lên bệnh nhân tim mạch cũng giống như đối với bệnh nhân, do vậy, bệnh nhân RA cũng dễ bị đột quỵ, gây tử vong hoặc tàn phế.

Các loại thực phẩm và ngũ cốc làm giảm lượng LDL, có lợi cho cơ thể: Các loại rau củ, lạc, hạt hướng dương, kê, ngô, dầu vừng Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng khuyến cáo không nên ăn kiêng quá mức vì bên cạnh tác dụng giảm lượng LDL thì cơ thể dễ rơi vào tình trạng không đủ dinh dưỡng.

3.1.8. Cho con vú làm giảm nguy cơ viêm khớp dạng thấp

Một nghiên cứu gần đây cho thấy, những phụ nữ nuôi con bằng sữa của mình ít có khả năng bị viêm khớp mãn tính hơn những người không cho con bú.

Ngoài tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư vú và buồng trứng, giảm nguy cơ bị viêm khớp mãn tính có thể là một lợi ích nữa của việc cho con bú, tiến sĩ Elizabeth Wood Karlson tại bệnh viện Brigham and Women, Boston, Mỹ tuyên bố.

Karlson và cộng sự đã phân tích số liệu của nhiều phụ nữ để tìm hiểu vai trò của các yếu tố hoóc môn đối với bệnh viêm khớp. Họ nhận thấy những bà mẹ cho con bú với tổng thời gian từ 12 đến 23 tháng trong cuộc đời giảm được 30% nguy cơ bị viêm) khớp mãn tính, còn những người cho con bú từ 24 tháng trở lên giảm được 50% nguy cơ.

Kết quả phân tích cũng cho thấy, chu kỳ kinh nguyệt không đều và tình trạng có kinh nguyệt sớm cũng làm tăng nguy cơ bị viêm khớp mãn tính. Song tình hình sử dụng thuốc tránh thai, số con và số tuổi của phụ nữ trong lần sinh nở đầu tiên không có tác động gì tới nguy cơ mắc bệnh.

3.2. Thoái hóa khớp

3.2.1. Thoái hóa khớp là gì?

Thoái hóa khớp hay còn gọi là viêm xương khớp phổ là bệnh khá biến ở người cao tuổi, bệnh ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống, sinh hoạt, công việc do triệu chứng đau, tê, hạn chế cử động ở khớp.

Khớp là phần tiếp nối giữa 2 đầu xương trong cơ thể gồm có bao khớp bọc xung quanh, sụn mềm đệm giữa 2 đầu xương, dịch nhầy để khớp được trơn láng khi cử động.

Thoái hóa khớp là hư hỏng xảy ra ở sụn khớp là chính, kèm theo là phản ứng đầu xương tại khớp và giảm thiểu dịch nhầy về số lượng và chất lượng.

Thoái hóa khớp thường gặp ở các khớp cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp vai, khớp bàn tay, khớp háng, khớp gối, khớp ở gót chân.

Thoái hóa khớp thường gặp ở tuổi trên 40 nhất là tuổi sau 60. Nhưng quá trình thoái hóa khớp thực sự đã xảy ra từ những năm 20 tuổi.

3.2.2. Nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp

Người ta nhận thấy rằng hầu hết thoái hóa khớp ở người cao tuổi là nguyên phát, nghĩa là không tìm thấy có một số yếu tố sau đây tham gia trong quá trình thoái hóa khớp: tuổi cao, tình trạng béo phì, tính di truyền, chấn thương nhẹ mãn tính ở khớp. Ngoài ra thoái hóa khớp cũng có thể là thứ phát nghĩa là do những nguyên nhân cụ thể như xảy ra sau viêm khớp dạng thấp, viêm khớp nhiễm trùng, chấn thương khớp nặng, đái tháo đường, suy tuyến giáp trạng…

Thoái hóa khớp nguyên phát thường gặp ở người cao tuổi và trong trường hợp này tuổi tác giữ một vai trò quan trọng. Người ta cho rằng sụn trong quá trình lão hóa chống đỡ kém, dễ bị hư hỏng trong quá trình khớp cử động và béo phì với cân nặng dư thừa góp phần làm tăng thêm gánh nặng cho các khớp nhất là khớp háng, khớp gối. Trong quá trình sống các chấn thương nhẹ mãn tính tại khớp dễ xảy ra nếu ta không chú ý như khuân vác hay xách đồ nặng làm tăng gánh nặng cho khớp cột sống, khớp gối, khớp háng, khớp ở gót chân. Các chấn thương tại khớp mạnh hơn như đá bóng làm tổn thương khớp gối nặng là nguyên nhân thường gặp của thoái hóa khớp thứ phát. Ngược lại ở những người không vận động nhất là những trường hợp bệnh nặng liệt giường, bất động kéo dài thì quá trình thoái hóa khớp cũng xảy ra khá nhanh chóng.

3.2.3. Triệu chứng của thoái hóa khớp và tác hại

Thoái hóa khớp có biểu hiện gì và khớp nào thường bị thoái hóa.

Để phát hiện sớm bệnh thoái hóa khớp, cần lưu ý triệu chứng của thoái hóa khớp là:

– Đau tại khớp bị thoái hóa.

– Cứng khớp vào buổi sáng.

Cả 2 triệu chứng này đều có những đặc điểm khác với viêm khớp dạng thấp.

Hiện tượng cứng khớp nghĩa là khớp cử động khó khăn vào buổi sáng là triệu chứng thường gặp kéo dài trong thời gian ngắn 5-15 phút, tối đa không quá 30 phút, khu trú ở vai khớp bị thoái hóa. Trong khi đó viêm khớp dạng thấp có thể kéo dài lâu hơn đến vài giờ, cứng khớp có ở nhiều khớp và đối xứng cả 2 bên.

Đau tại khớp bị thoái hóa:

Đau do thoái hóa khớp có một số đặc điểm như: xuất hiện ở một vài khớp riêng lẻ bị thoái hóa như ở khớp gối, khớp háng, cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp ngón chân. Đau có thể 1 bên hoặc 2 bên khớp. Đau do thoái hóa khớp không đi kèm theo sưng nóng đỏ tại khớp, khác với đau do viêm khớp dạng thấp thường kèm theo sưng to hay nóng đỏ tại khớp.

Đau khớp vệ buổi sáng:

Trong trường hợp thoái hóa khớp ở cột sống thắt lưng giai đoạn đầu, người bệnh thấy đau lưng nhiều về buổi sáng khi mới ngủ dậy kéo dài không quá 30 phút thì giảm đau, sau đó không đau cả ngày dù vẫn làm việc bình thường. Sau một thời gian tiến triển thì bệnh nặng hơn, đau lưng kéo dài cả ngày, đau tăng khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi.

Trong trường hợp thoái hóa khớp gót chân, bệnh nhân có cảm giác đau thốn ở gót vào buổi sáng lúc mới ngủ dậy bước xuống giường đi những bước đầu tiên. Khi đi được vài chục mét thì thấy giảm đau nhiều và đi đứng bình thường. Sáng hôm sau tình trạng đau lại tái diễn càng ngày càng nặng hơn.

Thoái hóa ở khớp háng ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co duỗi khớp gối, đau khớp gối nhiều khi đi lại vận động, đau nhất là khi ngồi xổm đứng dậy nhiều khi phải níu vào vật gì khác để đứng dậy. Nặng hơn là tê chân, biến dạng nhẹ ở khớp gối.

Thoái hóa khớp gối làm người bệnh đi lại khó khăn ngay từ ngày đầu do triệu chứng đau vì khớp háng chịu đựng trọng lượng cơ thể nhiều nhất.

Thoái hóa cột sống cổ thường gặp ở cột sống thứ 4, 5, 6 biểu hiện bằng cảm giác đau mỏi phía sau gáy lan đến cánh tay bên có dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Thoái hóa cột sống thắt lưng hay gặp từ đốt sống thắt lưng thứ 3 trở xuống. Khi có ảnh hưởng thần kinh tọa người bệnh có cảm giác đau lan từ lưng xuống chân đôi khi rất mạnh như một luồng điện chạy từ trên xuống khi có một cử động không đúng hướng.

Cảm giác thường xuyên mỏi ở khớp làm cho người bệnh thích bẻ khớp, hay giật mạnh khớp để tạo tiếng kêu răng rắc, những động tác này có thể gây hại cho khớp.

Ngoài các triệu chứng lâm sàng nêu trên thị chụp X quang khớp phần nào giúp xác định chẩn đoán và đánh giá mức độ nặng của bệnh. Trên phim X quang, ta có thể thấy:

– Hẹp khe khớp do biến đổi của sụn khớp.

– Hình ảnh gai xương thường mọc ở bên bờ khớp có thể là nhiều gai. Gai xương thường gặp ở cột sống, ít gặp hơn ở các khớp khác như khớp gối, khớp gót chân.

Cũng có nhiều trường hợp thoái khớp trong giai đoạn sớm hình ảnh X quang khớp còn bình thường. Nhưng do người bệnh không biết nên chủ quan không điều trị vì đây là giai đoạn điều trị và phòng ngừa cho kết quả tốt.

Ngoài chụp X quang khớp thì xét nghiệm máu không phát hiện gì bất thường.

3.2.3. Phương pháp điều trị thoái hóa khớp

Cho tới nay, chưa có dược phẩm hay cách nào có thể phục hồi tế bào sụn và chữa dứt bệnh thoái hóa khớp, mà chỉ chữa theo triệu chứng: đau đâu chữa đó, đau lúc nào uống thuốc lúc ấy.

Tuy nhiên, với những phương tiện hiện đại, người bệnh có thể duy trì, cải thiện một số chức năng của khớp bị bệnh, làm bớt đau và làm đời sống linh động tốt hơn.

Người bệnh cần được hướng dẫn, tìm hiểu về bệnh, biết rõ căn nguyên, nguy cơ gây bệnh để tránh, biết phải làm gì để bớt đau và thích nghi với khó khăn, khiếm dụng do bệnh gây ra.

Các phương pháp cơ bản điều trị thoái hóa khớp:

  • Vật lý trị liệu.
  • Vận động.
  • Giảm béo.
  • Dược phẩm.
  • Dinh dưỡng.

Tóm lại trong các phương pháp điều trị thoái hóa khớp chúng ta có thể rút ra những kết luận sau:

– Thoái hóa khớp kinh niên đưa tới nhiều trở ngại, khó khăn cho người bệnh. Ngoài thuốc men và các phương thức trị liệu khác, bệnh nhân cũng nên khéo léo tổ chức trong sinh hoạt hàng ngày để tránh khớp đau nhiều hơn:

– Khi làm việc, khi ăn, nên ngồi nhiều hơn là đứng. Ghế ngồi có chỗ dựa lưng để giảm căng thẳng cho bắp thịt ở lưng. Ghế có dựa tay để giúp đứng lên ngồi xuống dễ dàng.

– Mở hộp thức ăn với dụng cụ thay vì dùng sức mạnh của bàn tay. Đừng cầm vật gì nặng quá lâu.

– Nên thường xuyên co duỗi các khớp xương, vươn vai để cột sống khỏi cứng nhắc.

– Cần nâng một vật nặng, nên sử dụng cả hai tay thay vì một tay và chịu sức nặng vào hai chân chứ không vào xương sống lưng.

Làm được như vậy là ta đã phần nào tránh được sự mất khả năng vận động, một trong những nguyên nhân đưa tới việc lệ thuộc vào người khác của tuổi già.

3.3. Đau thấp khớp (Rheumatoid arthritis)

Tên gọi “Rheumatoid arthritis” là do một tiến sĩ y khoa người Anh, tên là Alfred Baring Garrod đặt ra. Ông chọn chữ “Rheumatoid” để diễn tả loại đau khớp này do triệu chứng của bệnh, nhất là ở giai đoạn đầu có sốt kèm.

Đau khớp Rheumatoid thường là viêm sưng các khớp trên cơ thể, đặc biệt là ở vùng hoạt dịch bao phủ các khớp. Cùng với sự giãn nở màng hoạt dịch là thể tích các chất nhờn của khớp tăng lên.

Trong bệnh này, các khớp rối loạn trở nên sưng phồng do màng hoạt dịch sưng viêm: Các mô trong màng hoạt dịch phân chia ra và viêm sưng tại các khớp lan ra các phần khác của cơ thể. Kết quả là khớp trở nên sưng phồng và cứng. Dòng máu làm cho các khớp nóng lên. Các dưỡng tố thoát ra từ các mô chảy vào trong các khớp gây đau đớn. Triệu chứng thường là đau đớn khi cử động hay đau đột xuất. Nếu tiến trình này tiếp diễn, sụn và xương bị ăn mòn làm méo mó các khớp và cuối cùng là hoá cứng toàn bộ.

Mắt cá và cổ tay là nơi thường bị đau khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis). Khi đó thì đầu gối và kế đến là xương mu bàn chân cũng bị ảnh hưởng và có thể dẫn tới các khớp khác cũng bị đau.

Bệnh đau khớp dạng thấp không chỉ gây đau tại chỗ bị viêm sưng mà toàn bộ cơ thể cũng bị ảnh hưởng, kèm theo đó là các triệu chứng sốt nhẹ, mệt mỏi và ngủ mất ngon, sụt cân. Vài trường hợp còn gây ra bệnh thiếu máu, nhất là trong những ca nghiêm trọng. Phổi có thể cũng bị ảnh hưởng dẫn tới viêm màng phổi, màng lồng ngực. Tụy tạng nở to do sự sản xuất bất ổn của bạch cầu. Bệnh tim đập nhanh cũng có thể xuất hiện. Người bệnh luôn cảm thấy lạnh, ẩm ướt, có cảm giác như kim đâm bàn tay và bàn chân, thường vã mồ hôi, nổi cục dưới da. Trường hợp này được gọi là bệnh khớp bướu, các bướu này có kích thước nhỏ như hạt đậu hay mọc ở vùng cùi chỏ.

Bệnh để lâu nặng sẽ trở thành mãn tính. Tuy nhiên có hai trường hợp cần được xem xét. Có người chỉ bị cơn bệnh ngắn và rồi bệnh rút lui không bao giờ trở lại. Đó gọi là bệnh đơn chu kỳ (Monocyclic). Loại thứ hai cơn đau trở lại sau một thời gian bình thường, được gọi là bệnh đa chu kỳ (Polycyclic).

Số người mắc bệnh đau khớp dạng thấp đa chu kỳ có tới 75% là nữ giới, nhiều nhất là ở độ tuổi từ 36 đến 45 tuổi.

Có nhiều cách để chẩn đoán bệnh đau khớp dạng thấp. Thường trên 80% ca là dựa vào xét nghiệm nhân tố Latex dương tính, thử nghiệm lắng cặn để tìm tỷ lệ các thành phần nặng của máu, tỷ lệ càng cao chứng tỏ bệnh càng nghiêm trọng. Cuối cùng, X quang sẽ cho biết các phần tổn hại của xương và sụn,

Cách chữa trị thông thường cho các bệnh đau khớp dạng thấp là sử dụng thuốc aspirin kết hợp với một vài dược phẩm khác. Aspirin được coi là thành phần đặc trị chính do có tác dụng giảm đau và chống viêm sưng.

Người thầy thuốc có thể chọn dược phẩm cơ bản cho các bệnh nghiêm trọng và xem xét các phản ứng thuốc của bệnh nhân. Khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân phải được giám sát cẩn thận và tăng liều lượng, kéo dài thời gian điều trị tình trạng bệnh .

Thêm vào đó, vật lý trị liệu là cần thiết để giúp cho các khớp hoạt động. Các loại trị liệu khác như chườm túi nóng, túi lạnh, túi ấm và điện nhiệt cũng được sử dụng.

Đặt thời khoá biểu cho việc tập luyện dành cho các bệnh nhân còn có thể hoạt động được ở các khớp bị thương tổn cũng giúp ích rất nhiều.

Nghỉ ngơi cũng quan trọng bởi các bài tập luyện bình thường bị hạn chế do bị đau đớn. Sự đau đớn liên miên hàng ngày làm mệt mỏi và nản lòng cần phải được dưỡng sức đặc biệt.

3.4. Bệnh viêm khớp dạng ban đỏ (Lupus)

Bệnh đau khớp dạng ban đỏ (Lupus) là bệnh gây ra nhiều triệu chứng. Danh từ đầy đủ để gọi tên bệnh là Systemic lupus erythematosus và một lối viết tắt khác là “lupus” hoặc là “sle”. Hệ thống miễn dịch tự động dùng để bảo vệ cơ thể này lại đi tàn phá các mô. Nguyên do gây ra bệnh còn chưa được biết.

Triệu chứng của bệnh ban đỏ ảnh hưởng đến phần lớn cơ thể thường thấy sự phát ban hình cánh bướm ở sống mũi và gò má, hiện tượng Raynaud (đổi màu sắc ở bàn tay), bị tróc những mảng lớn ở da đầu. Các lớp da của bệnh nhân bị phản ứng khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng, miệng bệnh nhân có thể bị lở loét. Loại viêm màng phổi (Pleuritis) có thể gây nguy hại cho màng phổi, loại Percarditis làm viêm ở vùng tim và viêm sưng phúc mạc vùng bụng.

Phân nửa số bệnh nhân ban đỏ (lupus) còn bị viêm thận, hồng cầu giảm dẫn đến bệnh thiếu máu, bạch cầu cũng giảm thiểu.

Thêm vào các triệu chứng là khớp bị viêm, nhất là ở vùng hoạt động. Giống như viêm khớp dạng thấp dù triệu chứng có khác nhau tùy theo tình trạng, các khớp thường không sưng ở bệnh viêm khớp ban đỏ và không nghiêm trọng như viêm dạng thấp, khi cử động thì ít đau đớn hơn… Viêm khớp ban đỏ tác hại vào các khớp cũng giống như viêm khớp dạng thấp. Cổ tay và mắt cá, đặc biệt là ở ngón tay giữa và đầu gối phần dưới cơ thể là thường bị tấn công nhiều nhất. Cột xương sống thường không bị ảnh hưởng.

Đến 90% trường hợp viêm khớp ban đỏ xuất hiện ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai, đặc biệt trong thời kỳ thai đầu của thai phụ. Sau khi sinh nở, triệu chứng có thể trở nên xấu hơn.

Thử nghiệm chẩn trị gồm thử độ máu giảm, phân tích nước tiểu, chiếu X quang, xem điện tâm đồ hoặc thanh tâm đồ. Các thử nghiệm trên được bổ sung thêm phương pháp thử nghiệm vật lý cơ bản.

Thuốc viên để trị bệnh viêm khớp ban đỏ tuỳ thuộc vào tình trạng nghiêm trọng của bệnh. Chất cortisone và ngăn miễn nhiễm được dùng trong ca nghiêm trọng. Các chất thường là chất chống viêm sưng như aspirin và hydroxychloroquine.

3.5. Bệnh khớp (osteoarthritis)

Bệnh này ăn mòn dần và làm suy sụp chất sụn ở các khớp, sau một thời kỳ chất sụn trở nên lõm và mòn hồng, và hai đầu xương có thể cọ vào nhau, các xương phát triển dày lên và làm các khớp dính vào nhau.

Các loại viêm khớp được phân biệt nhiều loại do nhiều yếu tố khác nhau. Ở bệnh hư khớp này không hề có một viêm sưng nào, hoặc có rất ít. Nó diễn tiến chậm chạp và âm thầm thay vì các chu kỳ có cường độ mạnh hơn của các loại viêm khớp khác. Và thường không kèm theo triệu chứng gì. Trong quá khứ bệnh này thường đi kèm với quá trình tuổi tác. 

Một phần lý do của lý thuyết trên là bệnh ngày càng tăng lên khi tuổi càng cao. Ở độ tuổi 40, 90% mọi người đều bị thoái hoá ở khắp các khớp chịu lực và ở tuổi 60 không có ai ngoại lệ. Dù có sự thay đổi này, nhiều người cũng không có triệu chứng rõ ràng lắm để ghi nhận là có bệnh chính thức.

Mục tiêu tấn công hàng đầu của bệnh hư khớp dường như là ở các khớp chịu lực. Hông, gối, chân, cột sống. Gai xương có thể xuất hiện ở cổ hoặc phần cuối cột sống. Các đốt cột sống hẹp lại và các đĩa đệm cột sống bị xẹp lại? Đối với các phần trên cơ thể phần cuối các ngón tay thưởng có ảnh hưởng. Gai xương lan ra ở đầu các ngón tay, như là bị bướu cứng, có thể có cả gai xương ở các khớp thứ nhì của ngón tay bướu. Kết quả là các ngón tay cong queo, đầy gai xương và cứng.

Chẩn trị bệnh thường bằng X quang cho thấy khoảng giữa các khớp ở khớp hẹp lại và cuối cùng dính vào nhau. Các ngón tay rất đau. Nói chung, các xét nghiệm về máu của bệnh nhân được ghi nhận là vẫn bình thường.

Chương trình tập luyện cho bệnh nhân là cốt làm tăng trưởng phạm vi hoạt động của khớp và làm cho dẻo khớp một liều vừa phải aspirin được kê đơn, và các loại thuốc viên chống viêm sưng được khuyên dùng. Để làm giảm đau, đắp nóng và lạnh lên chỗ khớp đau.

3.6. Viêm khớp đốt sống (Ankylosing spondylitis)

Loại viêm khớp Ankylosing spondylitis gọi tắt là AS được gọi khi mô viêm sưng tỏa rộng khắp đầu gân, dây chằng bám vào xương, gai xương mục giữa khớp và làm cho khớp dính lại. Quá trình này tiến dọc theo cột sống.

Trong bệnh viêm khớp đốt sống, đĩa đệm xẹp đi và các đốt sống dính lại. Trước tiên bệnh tấn công vào phần dưới của đốt sống và từ từ tiến lên phía trên. Không phải nó làm cho cột sống cứng và đứng thẳng mà xương sống ngày càng cong xuống, mắt chỉ nhìn xuống đất, ngực xẹp lại và không giữ được dáng đi bình thường do các đốt sống bên dưới dính lại. Tư thế này chúng ta thường thấy ở người cao tuổi, chân bước lê và phải dùng gậy chống.

Bệnh viêm đốt sống tiến triển chậm và cường độ không mạnh. Lớp tuổi tiêu biểu bắt đầu từ 16 đến 35 tuổi và tiến triển dần dần trong thời gian dài cho đến khi bệnh được phát hiện ra.

Thường bệnh tấn công vào đàn ông. Triệu chứng thường là giảm cân và mệt nhọc…. Trường hợp nghiêm trọng là đôi mắt bị đau đỏ. Trong vài trường hợp vành động mạch chủ của tim bị tấn công.

Bệnh có nhân tố di truyền, gen JLA 26 được tìm thấy ở 80% ca bệnh, X quang được sử dụng để kiểm tra sự hợp nhất của các đốt sống.

Trị liệu thông thường cho bệnh AS là vật lý trị liệu và luyện tập cá nhân để giữ cho các khớp mềm dẻo. Aspirin không được dùng cho bệnh này.

3.7. Thống phong (Gout)

Xuyên qua lịch sử, có rất nhiều nhân vật lừng danh đã chịu đau đớn về bệnh này. Trong số đó có Benjamin, Franklin, Michelangelo, Leonardo de Vinci, Milton, Sir Isaac Newton, Charles Darwin…. đã nhiễm phải một trong các loại viêm khớp gây đau đớn nhiều nhất. Tiến trình của bệnh thường đi theo một kiểu mẫu. Trước tiên axit uric tăng cao trong máu. Axit uric là một sản phẩm bình thường sinh ra từ sự biến dưỡng của cơ thể, có giao động chút ít ở tuổi dậy thì, thời kỳ mãn kinh ở phái nữ thường lượng axit tăng cao. Nếu tiếp tục một lượng thái quá trong máu, axit uric sẽ biến thành dạng tinh thể và đóng ở các khớp và mô. Các tinh thể này gồm có muối urat được gọi là Tophus, đóng trú trong các khớp và gây viêm sưng khớp kèm nóng đỏ. Không phải chỉ những các khớp bị nhiễm mà ở thân cũng vậy và tiến đều hình thành sỏi thận.

Thông thường cơn đau đớn đầu tiên khởi vào buổi tối và sẽ tấn công theo từ chu kỳ. Trước hết là tấn công với cường độ cao trong vài ngày và đến một thời kỳ hơn hai tuần lễ không thấy triệu chứng gì trước khi có một đợt tấn công kế tiếp. Thời gian có thể thay đổi từng cá nhân nhưng kiểu mẫu bệnh tổng quát là xen kẽ giữa hai chu kỳ đau và không đau liên tục. Sau đó nếu bệnh trở nên xấu đi, cơn đau sẽ liên tục không bao giờ ngừng.

Thống phong là một bệnh tương đối ít khắc nghiệt, 90% bệnh nhân thống phong có kinh nghiệm bị tấn công vào ngón chân cái nhiều lần trong thời gian họ bị bệnh này, loại đặc biệt này có tên là Podagra.

Thống phong thường xuất hiện ở ngón chân cái. Sưng viêm, nóng và đau đớn nhiều, chỗ khớp nổi đầy những gai nhọn tinh thể.

Ở các vùng thấp khác, như mu bàn chân, mắt cá, gót chân, đầu gối cũng có thể bị dính líu. Các phần phía trên cơ thể như cổ tay, ngón tay, củi chỏ cũng vậy. Vài trường hợp có triệu chứng bong gân mắt cá, nứt ngón chân, đau nhói ở ngón chân cái.

Để chẩn trị người ta thử nghiệm mẫu nước tiểu, độ cao của axit trong máu, hoặc mẫu nước nhờn ở khớp (xác định tinh thể).

Trị liệu thống phong bao gồm phương pháp kiêng ăn và dược phẩm. Do yếu tố ăn kiêng trong bệnh thống phong được nhận định là có liên quan. Một khẩu phần ăn nhiều thịt đặc biệt là nhiều purin được tin tưởng là sẽ gây ra bệnh thống phong, do biến dưỡng của cơ thể không thể phá vỡ nổi sự quá tải này. Thêm vào đó nếu lại uống nhiều rượu thì khó lòng tránh khỏi bệnh này.

Trong sự liên quan giữa thức ăn và bệnh thống phong có một dữ kiện rất lý thú trong khoa học dịch tễ học ở thế kỷ 20 này. Đó là hiện tượng bệnh phong thấp giảm thiểu rõ rệt trong và sau thời kỳ chiến tranh thế giới thứ thứ nhất và thứ hai. Lý do là trong hai thời kỳ này thực phẩm hiếm hoi, nhất là loại thực phẩm giàu chất lượng. Bệnh thống phong cũng ít thấy ở những người thổ dân sống trong vùng của họ, dường như đời sống nơi đó gần thiên nhiên hơn, lối sống và cách dùng thực phẩm truyền thống nên bệnh thống phong rất là hiếm thấy.

Dược phẩm trị liệu hàng đầu cho bệnh này là Colchicine phenylbutazon, Indomethacin và một vài loại chống viêm sưng khác thường được dùng. Đôi khi người ta tiêm thẳng Corticosteroid vào khớp viêm. Thêm vào đó là các dược phẩm làm giảm axit uric dùng giữa hai thời kỳ bệnh tấn công.

Để tránh nhầm lẫn, nên biết có một dạng khác của viêm khớp, gọi là giả thống phong (pseudogout) cũng có thể có, dù nó tương tự như bệnh thống phong (gout), nhưng đặc biệt khác ở chỗ các tinh thể phát triển ở khớp, đó là những tinh thể pyrophosphate, và gồm có nhiều calcium. Các tinh thể này được tạo thành ở các phần bên dưới cơ thể, và gây nhiều vấn để cho người cao tuổi. Tuổi là 70 là mức bình quân của lần bệnh đầu tiên. Đầu gối thường hay bị nhất, kế đó là cườm tay và mắt cá. Cơn bệnh không rõ rệt và kéo dài hơn là trong bệnh gout.

4. Những cách chữa viêm khớp hiện nay

– Cách chữa viêm khớp ngày nay gồm có dược phẩm vật lý trị liệu và luyện tập, nếu bệnh không khỏi, giải phẫu là biện pháp sau cùng.

– Thuốc viên là cách trị liệu hàng đầu, dùng làm giảm đau và viêm nóng. Do phải dùng thuốc thường xuyên để giảm triệu chứng, thuốc viên cố khuynh hướng trở thành nghiện.

– Aspirin là thuốc hàng đầu trị viêm khớp, trên 22 tỉ viên được sử dụng cho một năm ở Mỹ, quá nửa là dùng cho bệnh viêm khớp. Loại viêm sưng nóng của thấp khớp Rheumatoid và viêm ban đỏ lupus bitis sử dụng aspirin.

– Aspirin ngày nay gốc được làm từ than đá hoặc dầu hoả, salicylic acid. Nhóm acetyl của nguyên tử được thêm vào để “chế ngự” hoặc làm giảm độc tính của phản ứng phụ của salicylic acid. Sau khi trộn và chế hoá, hỗn hợp thuốc được lọc và sấy khô. Bột bắp hoặc hoạt thạch được thêm vào kế đó. Sau hết tùy theo nhãn hiệu và tỉ lệ aspirin được bổ sung 90/10 hoặc 80/20.

Lý thuyết hiện nay để hiểu tác dụng của aspirin là nó khử được hoạt động của prostaglandin (sản phẩm của cơ thể chứa hơn 20 hóc môn). Một phần chức năng của prostaglandin tự nhiên này bị khử và kết quả là cơn đau và viêm giảm.

Hỗ trợ cho aspirin, có nhiều loại dược phẩm mạnh được kê đơn tùy theo mức độ nghiêm trọng của khớp viêm. Một chương trình vật lý trị liệu được dùng để chữa viêm khớp: chườm túi nóng và lạnh, điện nhiệt, tắm thuốc, xoa bóp, cử động tại các khớp có vấn đề và các kỹ thuật khác nhằm làm giảm đau và giữ cho khớp mềm dẻo tăng phạm vi hoạt động.

Nếu không kết quả, phải tiến hành giải phẫu. Khoảng 40.000 bộ xương hông được thay thế hàng năm ở Mỹ, và con số ngày càng tăng hàng năm. Người ta sản xuất những khớp háng bằng thép, vitali, plastic và polyethylene. Ngoài ra còn có ngón chân, ngón tay, đầu gối, mắt cá, vai, cùi chỏ nhân tạo nữa!

Do số lượng các loại chứa nhiều như khớp hông nên chưa được phổ biến và giải phẫu không có nghĩa là không còn bị viêm khớp nữa, mà chỉ cho thấy được sự bất lực của các phương pháp trị liệu, phần bị bệnh được cắt khỏi cơ thể và ngay khi giải phẫu thay thế rồi thì bệnh viêm khớp lại có thể tấn công các phần khác của cơ thể.

5. Phương pháp ăn uống cho người bệnh viêm khớp

Phương pháp thực dưỡng này thích hợp và thay đổi tùy từng cá nhân, có thể cải tạo cơ bản sức khoẻ và ngăn ngừa bệnh tật. Bằng thực đơn thiết thực cơ bản hàng ngày xoay quanh các thực phẩm quân bình như ngũ cốc lứt, đậu, rau củ tơi tại địa phương, rong biển và vài loại khác, các độc chất tích lũy trong cơ thể, gồm trong các khớp bị giảm thiểu hoặc loại trừ hẳn.

Dưỡng sinh cung cấp một phương pháp thực dưỡng hợp trật tự thiên nhiên, nói cách khác là một cách sống tôn trọng nhân bản và trật tự vũ trụ, với tinh thần thúc đẩy con người và xã hội hoàn thiện cũng như tạo sức khoẻ và mong muốn hoà bình cho thế giới.

Đối chiếu với các thói quen thực dưỡng loại tân tiến, cách ăn dưỡng sinh căn cứ nhiều trên chế độ dinh dưỡng sau:

– Nhiều loại bột đậu rau (carbohydrates) toàn phần quân bình và ít đường đơn.

– Nhiều protein gốc từ thực vật và giảm thiểu protein nguồn gốc động vật.

– Giảm hẳn sự tiêu thụ mỡ bão hoà và dùng ít các loại mỡ chưa bão hoà.

– Quan tâm đặc biệt về sự cân bằng lý tưởng giữa các vitamin, khoáng chất và các nhân tố dinh dưỡng.

– Dùng các loại phân hữu cơ cho cây trồng thực phẩm chất lượng thiên nhiên, giảm thiểu các loại phân bón hoá chất.

– Dùng các thực phẩm chế biến theo phương pháp cổ truyền và giảm thiểu các loại thức ăn tinh chế hoặc đoản phần (thành phần dinh dưỡng thiếu).

– Dùng nhiều thức ăn giàu chất xơ hơn các thứ đã mất sinh khí.

Cách thực dưỡng căn bản này đã được thực hành hàng ngày trong hơn hai mươi năm nay cho hàng trăm ngàn người trên thế giới, gồm nhiều gia đình. Hơn thế nữa nó đã được thực hành từ xưa qua hàng nghìn năm bởi nhiều nền văn hoá khác nhau .

Nguyên tắc hướng dẫn thực dưỡng phần này dành cho người sống ở khí hậu ôn hoà. Sự sửa đổi sẽ cần thiết cho người sống ở vùng nhiệt đới và bản nhiệt đới, hoặc ở vùng địa cực hay là khi di chuyển đến các vùng này. Cũng cần thiết áp dụng linh hoạt cho phù hợp với đòi hỏi và tình trạng của từng cá nhân.

6. Lời khuyên đối với người có tuổi bị bệnh viêm khớp

Người có tuổi bị đau khớp hoặc viêm khớp kinh niên thì không chữa khỏi hẳn được. 

Một số cách xử lý làm bệnh giảm đau:

Nghỉ ngơi: Nên tránh lao động nặng và vận động mạnh làm cho khớp đau. Nếu viêm khớp có sốt nên ngủ ban ngày là tốt nhất.

Đắp gạc nóng: Dùng vải thấm nước nóng đắp lên khớp đau.

Uống aspirin giảm đau: Uống 100 mg mỗi ngày, chia 4 lần đến 6 lần. Nếu thấy ù tai uống bớt đi. Nên uống aspirin cùng với thức ăn, hoặc sữa, hoặc natri bicarbonat, hoặc uống nhiều nước để tránh hại dạ dày.

Làm những động tác vận động đơn giản để giữ nguyên hoặc làm tăng khả năng vận động của các khớp đau.

Nếu chỉ có một khớp bị sưng, nóng và có sốt, có lẽ khớp bị viêm phải dùng kháng sinh như penicillin.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :