Home / Sức Khỏe / Đái tháo đường: nguyên nhân, dấu hiệu, điều trị, phòng ngừa

Đái tháo đường: nguyên nhân, dấu hiệu, điều trị, phòng ngừa

/

Cơ thể cho thải số đường dư này ra ngoài bằng đường tiểu và người nào bị lâm vào tình trạng trên thì người đó bị bệnh đái tháo đường.

bệnh đái tháo đường là gì

1. Bệnh đái tháo đường là gì?

Trong cơ thể có nhiều hormon được tiết ra bởi các tuyến nội tiết để góp phần duy trì sự sống. Insulin là một loại hormon do tuyến tụy tiết ra (Đông y cho rằng tuyến tụy thuộc tỳ tạng) để cân bằng lượng đường trong máu. Nếu vì một lý do nào đó lượng Insulin được tiết ra ít quá thì lượng đường trong máu tăng lên quá cao. Do đó cơ thể sẽ cho thải số đường dư này ra ngoài bằng đường tiểu và người nào bị lâm vào tình trạng trên thì người đó bị bệnh đái đường (diabetes – tiểu đường).

Vì sao gọi Insulin là chất “sinh mệnh chi bảo”? Trong cơ thể con người ngoài tế bào não, tế bào hồng cầu và thận không bị Insulin – một chất nội tiết do tuyến tụy tiết ra để điều hòa lượng đường trong máu như đã nói ở trên. Năng lượng 70% do hoạt động cơ thể người yêu cầu do đường cung cấp, mà chất Insulin làm hạ đường trong máu, làm đường trong máu thấm qua mô tế bào đưa chất kích thích duy nhất vào trong tế bào để duy trì sự sống. Vì vậy, chất Insulin gọi là “sinh mệnh chi bảo”.

2. Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường

– Người ít hoạt động thể lực và không chịu tập thể dục thường xuyên.

– Người quá mập (béo).

– Gia tộc có người bị bệnh đái đường.

– Vốn bị cao huyết áp trước đó.

– Trẻ sơ sinh dư cân.

– Thường tham gia tiệc tùng, tiệc nhậu.

– Có thói quen ăn đêm.

– Thích ăn quà vặt và ăn thực phẩm có chứa nhiều đường tức là thích đồ ăn ngọt.

– Thích ăn đồ ăn nhiều dầu mỡ (chất béo nói chung), trong đó có các thức ăn chiên xào như cơm chiên thập cẩm.

– Uống quá nhiều rượu bia.

– Không thích hoặc ít ăn rau xanh.

3. Triệu chứng bệnh đái tháo đường

– Miệng luôn khát là triệu chứng đầu tiên của bệnh đái đường. Người trước đây không hề uống nước nhiều, nay đột nhiên uống với lượng nước khá lớn, so với nhu cầu bình thường tăng rõ rệt.

– Đi tiểu nhiều lần, lượng nước tiểu cũng tăng, một ngày đi tiểu 3 – 4 lít nước tiểu.

– Cảm thấy đói, không kể ăn nhiều hay ít vẫn đói, thích ăn đồ ngọt.

– Người mỏi mệt, sức khỏe kém, đường glucose trong máu tăng, nhưng không cung cấp đủ nhu cầu của tổ chức tế bào.

– Thể trọng giảm, gầy gò tuy lượng ăn uống không giảm.

– Da bị nhiễm trùng, tác dụng chống đỡ của bạch cầu giảm rõ rệt, rất dễ bị viêm nang lông, ghẻ nhọt, nấm ngoài da. 

– Bắp thịt co giật, chân bị rút gân, lượng đường trong máu, trong nước tiểu tăng; lượng canxi trong máu bị thải ra ngoài qua nước tiểu, làm cho lượng canxi trong máu giảm.

– Người bị đái đường thường bị liệt dương (tỷ lệ 50%).

– Thị lực giảm rõ rệt, không rõ nguyên nhân.

– Chảy mủ ở kẽ răng, đây là hiện tượng thường thấy ở người bị bệnh đái đường.

Nếu phát hiện người nào có 8 trong 10 triệu chứng trên, cần kịp thời đi khám và điều trị.

Các triệu chứng khác:

– Nữ giới cơ thể mập, chỉ số vòng lưng so với vòng bụng là 0,7 – 0,85, bất luận cân nặng bao nhiêu. Thực nghiệm lượng chịu đường glucose người dị thường đạt 60%, người dưới thể béo mập không liệt vào thể khác thường.

– Đi tiểu khó khăn do cơ vòng bàng quang trở ngại, dễ nhiễm trùng đường tiểu, hiện tượng này ở nam là 42/3%, ở nữ là 26,7%.

Viêm lưỡi hình quả trám: Trên lưỡi có một khu khuyết tổn hình quả trám, không có rêu lưỡi che phủ, tỷ lệ phát bệnh của dạng này là 61%. 

Viêm thần kinh: Thể hiện chân tay tê cứng, có cảm giác như sâu bò, cảm thấy nóng, khi đi như dẫm lên bông hoặc đau đớn, triệu chứng này chiếm 40% người bị bệnh đái đường.

– Người sinh thai quá to, trọng lượng trẻ sơ sinh vượt quá 4kg, loại này tỷ lệ 15 – 25%.

– Kết hạch phổi khó khống chế: Người bị bệnh đái đường sinh ra kết hạch phổi cao 3 – 5 lần người bình thường, chiếm khoảng 10 -15 người bệnh, đường cao sẽ tạo điều kiện cho sự phát sinh các hạch hình que, sức đề kháng kém, tác dụng của thuốc thấp.

– Đường trong máu thấp, người bị bệnh đái đường thời kỳ đầu tuy cũng tiết ra một lượng chất Insulin, nhưng quá trình tiết ra chậm, khi đường trong máu đạt đỉnh cao qua đi, chất Insulin lúc này tiết ra nhiều, tác dụng với nồng độ đường hạ thấp, khiến đường trong máu thấp.

– Huyết áp thấp, sau khi ngồi lâu hoặc nằm lâu đột nhiên đứng lên hoặc đứng lâu, huyết áp đột nhiên hạ xuống.

– Ra mồ hôi nhiều, thường ở tay, mình; ít thấy ở chân.

– Ỉa chảy kinh niên, đau bụng phần nhiều sau bữa ăn, ban đêm, sáng sớm, ỉa chảy 10 – 12 lần nhưng không đau bụng.

Khi có các triệu chứng trên cần kiểm tra lượng đường trong máu và trong nước tiểu để phát hiện bệnh, tránh bỏ sót.

4. Tự chẩn đoán bệnh đái tháo đường

Căn cứ vào tình hình cơ thể 3 tháng gần nhất và căn cứ vào những mục dưới đây để tự chẩn đoán bệnh:

– Bệnh phát chậm chạp, ngẫu nhiên có bệnh cấp tính.

Triệu chứng điển hình: 3 nhiều (ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều). 1 ít (thể trạng gầy gò). 

– Người gầy mệt mỏi. 

– Da dẻ ngứa ngáy, bị nhiễm cảm lập lại nhiều lần. Kiểm tra đường trong máu tăng, nước tiểu có đường. 

– Nghiêm trọng là đái ra axeton, trúng độc axit hôn mê, hoặc xuất hiện các chứng xơ cứng động mạch, cao huyết áp, viêm thần kinh, biến thị võng mạc.

5. Trúng độc Ceton là gì?

Do trao đổi chất đường bị rối loạn, sự chế tạo và dự trữ đường trong gan giảm bớt, do đó cơ thể cần bổ sung chất béo, người bị bệnh đái đường chất béo bị phân giải quá nhiều. Thể ceton của gan phân giải chất béo sinh ra vượt quá khả năng tiêu thụ của cơ bắp, chúng oxy hóa sinh ra nhiệt năng, thể ceton thừa ra. Người bệnh sẽ thở ra mùi giống mùi rượu và hình thành ceton tiểu ra ngoài gọi là trúng độc ceton. Đó là tín hiệu nguy hiểm!

6. Phân loại đái tháo đường

Người bị bệnh đái đường (tiểu đường) – Đông y gọi bệnh này là bệnh tiêu khát – sẽ nằm vào một trong hai trường hợp sau :

Đài đường tuýp I: Do tuyến tụy không hoạt động tạo ra đủ insulin để cân bằng đường huyết nên phải tiêm hoặc uống insulin. Do đó loại đái đường này còn được gọi là đái đường lệ thuộc insulin.

Đái đường tuýp II: Cơ thể người bệnh vẫn tiết ra insulin nhưng không đủ khiến đường không được đưa vào tế bào mà chỉ lưu hành ở trong máu. Muốn trị bệnh này người ta chỉ cần áp dụng một chế độ ăn uống hợp lý là kiềm chế được bệnh. Những người này nếu không chữa trị kịp thời cũng sẽ dẫn đến đái đường tuýp I. Trường hợp này gọi là đái đường không lệ thuộc insulin.

Ngoài ra còn có một dạng đái đường gọi là đái đường thứ phát. Loại dạng này là một biến chứng của các tình trạng sau:

– Tổn thương tuyến tụy.

– Cơ thể tăng tiết quá nhiều những loại hormon đối kháng với Insulin khiến đường huyết quá cao.

– Dinh dưỡng sai lầm làm ảnh hưởng đến tụy – tang.

Loại này tùy theo nguyên nhân phát bệnh mà có phương cách trị thích hợp

7. Các biến chứng bệnh đái tháo đường

Mặc dù trong máu có nhiều đường nhưng cơ thể không thể sử dụng được do thiếu Insulin, các tế bào phải sử dụng chất béo (cụ thể là mỡ) để cung ứng năng lượng cho cơ thể hoạt động. Quá trình đốt chất béo này để tạo năng lượng thường sản sinh ra các chất có khuynh hướng tích tụ trong lòng và thành các mạch máu khiến mạch máu bị xơ cứng. Trước tiên vì các mạch máu hẹp lại nên người bệnh dễ bị cao huyết áp. Sau đó là:

– Nếu hẹp mạch vành, sẽ bị đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim.

– Nếu hẹp các mạch máu ở chân, vết thương ở chân khó lành, dễ bị hoại tử và đau cách hồi.

– Đi một khoảng rất ngắn phải dừng lại nghỉ vì đau mỏi ở chân và mất sức.

– Nếu hẹp các mạch ở vòng cơ quan sinh dục dễ đưa đến suy nhược sinh dục (lãnh cảm hoặc liệt dương).

– Ngoài ra việc hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia và dinh dưỡng sai chế độ cũng góp phần làm cho tình trạng người bệnh xấu thêm.

8. Lưu ý cho người bệnh đái tháo đường

8.1. Không ngừng bổ sung lượng canxi

Người bị bệnh đái đường thường bị mỏi lưng, chân đau, có giật bắp chân co rút, dễ bị chảy máu không cầm, vì trong cơ thể thiếu lượng canxi, sự tăng cường lợi tiểu khiến cho canxi bị đẩy ra ngoài, canxi trong máu giảm đồng thời ức chế tác dụng kích thích của tế bào beta tuyến tụy giảm chất Insulin làm tăng thêm bệnh. 

Canxi là thành phần chủ yếu của xương và răng, giúp đông máu, giúp đỡ sự hoạt động của nhiều xúc tác hóa học trong cơ thể duy trì tính năng dẫn truyền thần kinh, duy trì nhịp đập của tim, duy trì áp suất thẩm thấu của mao quản, cân bằng axit và kiềm trong cơ thể. 

Vì vậy người bị bệnh đái đường khi được bổ sung canxi thì bệnh giảm và phòng ngừa bệnh đái đường. Các thứ thuốc có canxi nhũ toan, vitamin D… Các thức ăn có nhiều canxi như tôm khô, sữa bò, lòng đỏ trứng gà, đậu phụ, rau xanh, tương, vừng, hải đới…

8.2. Nên ăn thức ăn có chất xơ nhiều

Thức ăn xơ có tác dụng chữa bệnh đái đường rõ rệt. Tại Anh quốc người bị bệnh đái đường ăn chất xơ cao như bánh mì chế thô, các loại ngũ cốc, các loại đậu, các loại rau quả làm cho lượng đường trong nước tiểu trong máu giảm rõ rệt, làm giảm lượng Insulin điều trị. 

Nghiên cứu ở nước ta cũng thấy các thức ăn chứa các chất đường cao, chất béo thấp, của các chất xơ có tác dụng hạ thấp đường trong máu – cải thiện chất béo trong máu làm giảm thiểu lượng insulin cần thiết cho chữa bệnh (giảm 30-40%).

Ở Mỹ người bị bệnh đái đường sau khi ăn táo tây, mật quả 10 phút làm cho insulin trong máu tiêu hóa chậm chạp, nồng độ đường trong máu được khống chế ở mức thấp. Đường trong gạo đối với việc chữa bệnh đái đường cũng rất tốt, nhưng so với cà chua, tiểu mạch, yến mạch thì những loại này tốt hơn đường trong gạo. 

Thực phẩm chứa nhiều chất xơ có thể cải thiện thay thế đường của người đái đường, tăng thêm insulin làm đường trong máu hạ xuống, lượng insulin nhờ đó mà giảm. Thức ăn xơ còn có thể làm cho nồng độ đường trong máu tăng chậm chạp, đề phòng mức đường trong máu tăng đột ngột, do đó có tác dụng bảo vệ tuyến tụy. 

Chất keo trái cây trong trái cây cũng có tác dụng trong việc khống chế đái đường, vì nó làm tăng độ dẻo đặc của thức ăn nhừ, hạ thấp sự hấp thụ đường của ruột non. Gia tăng tính chịu đựng đối với đường glucose, chất xơ còn có tác dụng hạ thấp lượng cholesterol trong huyết thanh. 

Người Pakistan hấp thụ chất xơ nhiều, nên số người bị đái đường thấp (2%), ngược lại người ở Mỹ hấp thụ xơ trong thức ăn ít, dẫn đến tỷ lệ đái đường cao (17,2%). Các thức ăn có chất xơ cao như bột gạo, cám kiều mạch, đại mạch, các loại củ, đường gạo, hoài sơn, bí đỏ, củ cải, rau cần, măng, súp lơ, bắp cải, rau hẹ, hành tây, các loại đậu, tảo biển…

8.3. Nên ăn cá

Căn cứ vào các nghiên cứu cho thấy, ăn cá có tác dụng quan trọng đối với việc cải thiện các triệu chứng của người bị bệnh đái đường điều trị bằng insulin. Công năng bảo vệ đó của cá nhờ axit béo anpha và beta bổ sung dầu cá có thể gia tăng nồng độ huyết sắc tố, muối, axit gốc đường, tình trạng người bệnh được cải thiện rõ rệt. 

Định kỳ ăn cá giúp chăn chặn bệnh đái đường độ 2 ở người bệnh tuổi già. Người thường xuyên ăn cá, công năng phân giải và sử dụng đường tốt hơn so với người không ăn thường xuyên. 

Lấy 75 người ăn ít hoặc không ăn cá, tỷ lệ phát sinh không bình thường, lượng chịu đường tích lũy 34%, 34 người phát sinh bệnh đái đường, tỷ lệ người bị bệnh 45%, trong 100 người ăn cá chỉ có 25 người sinh bệnh tỷ lệ 25%; các nghiên cứu bệnh đái đường cho rằng kết quả này là chắc chắn. Đối với người bị bệnh đái đường nên thường xuyên ăn cá và giảm ăn chất béo.

8.4. Ít dùng sữa bò

Vì sao trẻ sơ sinh ăn sữa bò bị bệnh đái đường? Các nghiên cứu cho thấy kháng thể chống lại albumin sữa bò trong cơ thể trẻ bị bệnh đái đường cao hơn 7 lần so với trẻ khỏe mạnh và người thành niên. 

Loại kháng thể chống lại albumin sữa bò đã ngộ nhận tế bào insulin là albumin của sữa bò. Đối với người khỏe mạnh kháng thể này rất thấp hoặc không có.

Chất albumin có thể làm tăng tốc độ oxy hóa và lợi dụng đường glucose trong tổ chức, từ đó mà điều tiết lượng đường máu của cơ thể, khi lượng chất insulin tiết ra thấp làm dẫn tới bệnh đái đường. 

Do trẻ sơ sinh ra sau mấy tháng đã có hệ thống miễn dịch nội thể thuộc về một chức năng đặc biệt. Đối với trẻ sơ sinh bị bệnh đái đường do di truyền, lượng insulin trong cơ thể đã có sẵn, lúc uống sữa bò hệ thống miễn dịch xem tế bào insulin là vật nguy hiểm nên tiêu diệt cả albumin sữa bò và tế bào insulin. 

Sau khi tế bào insulin bị diệt, do thiếu chất insulin dẫn tới bệnh đái đường nặng hơn. Trẻ sơ sinh có di truyền bệnh đái đường, nên dùng sữa mẹ để nuôi, thì tỷ lệ phát sinh bệnh giảm 2/3. Các gia đình có tiền sử bệnh đái đường không nên dùng sữa hoặc chế phẩm từ sữa bò để nuôi trẻ trong vòng 9 tháng.

8.5. Kiêng ăn béo, ngọt, nồng

Đông y cho rằng nguyên nhân của bệnh đái đường phần nhiều do âm hư táo nhiệt dẫn đến, nếu ăn các thức ăn có vị béo, ngọt, nồng là loại “thương âm trợ nhiệt”. Sách Tổ vấn nói : “Kết nhị dương gọi là tiêu”, nhị dương là dạ dày và ruột, nên ăn thức ăn ngọt, nồng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa của tỳ vị. 

Thức ăn thừa trong ruột và dạ dày sinh nóng, sinh táo bón, thiếu độ mát, xuất hiện chứng đói ngũ cốc sinh ra bệnh đái đường. Các thực phẩm có nhiều chất béo như thịt mỡ, bơ, lòng đỏ trứng… 

Các thực phẩm có đường (vị ngọt) cao như khoai tây, ngó sen, mứt ngào, đường quả, kẹo, kem có sữa… Sau khi ăn đường phải đánh răng để khỏi tồn tại vi khuẩn nhũ toan làm cho răng bị chất chua xâm thực, để lâu sẽ rụng răng. Ăn đường nhiều sẽ dẫn tới thiếu crom. 

Crom có tác dụng lớn đối với việc phát huy hiệu năng của insulin. Nếu người thiếu crom, đường trong máu sẽ tăng; ngoài ra ăn nhiều đường chất béo trong huyết cũng tăng rõ rệt, rất dễ lắng đọng trên thành mạch, lâu ngày sẽ sinh ra bệnh vành tim. Vị nồng là những thực phẩm cay, nóng như rượu, thuốc lá, ớt, hồ tiêu, gừng, quế, hồi…

Bình thường lượng mỡ mỗi ngày cho mỗi kg thể trọng cần ít hơn 1 gam. Mỡ quá nhiều sẽ trở ngại việc sử dụng đường, dễ trúng độc aceton. Kiêng ăn các thực phẩm có nhiều cholesterol như não, thận, ruột, tim. 

Ăn mỡ nhiều sẽ tăng gánh nặng cho tụy, tăng tiết của tuyến tụy sẽ dẫn đến tụy suy kiệt tế bào insulin dẫn tới bệnh đái đường. Đường trong máu người bệnh đái đường tăng cao, sức đề kháng hạ thấp sẽ bị nhiễm khuẩn. 

Chất béo đối với người bị bệnh đái đường rất nguy hiểm, vì vậy phải thường xuyên chú ý tính toán ăn uống cho thích hợp. Nếu thể trọng thực tế của người bệnh cao hơn thể trọng lý tưởng thì tổng nhiệt lượng mỗi ngày phải được cung cấp ít đi một tí. Ngược lại nếu thể trọng thực tế thấp hơn thể trọng lý tưởng thì tổng nhiệt lượng cao hơn.

8.6. Ăn ít muối

Người bị bệnh đái đường ngoài hạn chế ăn uống ra, còn hạn chế ăn muối. Người bị bệnh đái đường thường khát và trong người nóng, nếu không hạn chế ăn muối thì nồng độ natri trong máu cao làm tăng lượng đường trong máu, làm tăng sự thoát nước trong tế bào dẫn đến việc trao đổi chất bị hỗn loạn. 

Ngoài ra ăn muối nhiều còn gián tiếp làm giảm tác dụng của insulin, năng lượng thay thế mất cân bằng làm người bệnh đói nhiều mệt mỏi; nhiều muối còn có tác dụng làm tăng hoạt tính của men amilaza làm tăng sự tiêu hóa tinh bột, làm ruột non hấp thụ đường glucose tăng, làm cho nồng độ đường trong máu tăng, dẫn tới bệnh đái đường nặng thêm. 

Nghiên cứu các bữa ăn sáng của một nhóm người bị bệnh đái đường chia thành hai loại: nhóm có thêm muối và nhóm không thêm muối, làm đối chiếu so sánh kết quả cho thấy: Người ăn sáng có thêm muối trong suốt thời gian làm thí nghiệm nồng độ đường glucose của huyết tương cao so với người ăn sáng không thêm muối, chất insulin cũng tăng cao.

8.7. Kiêng uống rượu bia

Uống rượu làm tăng nhiệt của cơ thể. 1 gam muối giải phóng ra 7 calo nhiệt lượng mà bệnh đái đường thì nhiệt lượng đã cao. Đối với người bị bệnh đái đường chức năng giải độc của gan đã rất kém, uống rượu là thay đổi dung môi tiêu hóa làm cho tuyến tụy hoạt động yếu.

Insulin có thể làm tăng cường độc tính trong rượu. Vì vậy người bệnh trong thời gian dùng Insulin tuyệt đối cấm rượu trắng, rượu có đường, bia. Uống rượu lâu ngày có thể dẫn tới các chứng bệnh vành tim, cao huyết áp, xơ cứng động mạch, bệnh về não như đại não thu nhỏ, trí nhớ kém. Người bị bệnh đái đường nếu không cai rượu ngay được thì có thể giảm từng bước. Lượng rượu cho phép đối với người bệnh đái đường là 75ml rượu 35° cho một ngày hoặc 60ml rượu Whisky hoặc 300ml bia, nên dùng 1/3 hay 1/2 lượng trên là được. 

Nhiệt lượng của rượu uống sinh ra trong tổng nhiệt lượng một ngày tính theo công thức:

Nhiệt lượng = Số độ của rượu x lượng rượu uống (ml) x 29.7.

8.8. Không nên uống Cam thảo và thuốc chế từ nhung hươu

Người bị bệnh đái đường do lượng đường trong máu tăng. Trong cam thảo và nhung hươu có chứa loại đường tuyến thượng thận sẽ thúc đẩy sinh đường và thúc đẩy phân giải protein và mỡ; từ đó làm cho glycerin, nhũ toan và các loại đường dưới tác dụng của dung môi trong gan chuyển thành đường làm đường trong máu tăng cao.

8.9. Phải cai nghiện thuốc lá

Chất kiềm trong thuốc lá có tác dụng kích thích tuyến thượng thận làm cho đường trong máu tăng cao. Người bệnh sau khi hút thuốc lá, khí cacbonic, khí amoniac trong máu tăng, huyết áp tăng, tim đập nhanh, nhiệt độ trên da hạ xuống 1 – 2, mạch máu co lại ảnh hưởng tới việc hấp thụ Insulin. 

Nghiên cứu cho thấy cùng là bị bệnh đái đường nhưng người hút thuốc lá phải tiêm insulin nhiều hơn 15 – 20%, nặng là 30% mới có hiệu quả.

Bệnh đái đường là bệnh nhiệt thịnh thương âm. Thuốc lá là vật nóng làm âm hư hao dịch rất có hại, làm tổn thương thận 2 – 3 lần so với người không hút. Nghiện thuốc lá đối với người bị bệnh đái đường còn dễ đến bệnh liệt dương. 

Nghiên cứu trên 167 trường hợp liệt dương, có 162 người do nghiện thuốc lá, chiếm 97%, trong đó người đái đường bị liệt dương chiếm 50%. Một trong những biến chứng nghiêm trọng của người bị bệnh đái đường, nghiện thuốc lá là bệnh võng mạc dẫn tới mù lòa. 

Hút thuốc lá đối với người bị bệnh đái đường là hiểm họa dẫn tới thị lực giảm, teo thần kinh thị giác, chất Nicotin của thuốc lá còn làm tăng nhãn áp. Vì vậy người bị bệnh đái đường cần phải bỏ thuốc lá.

8.10. Thường xuyên hoạt động thể lực và tập thể dục

Đối với người bị bệnh đái đường, cần phải thường xuyên tập thể dục dưỡng sinh như thái cực quyền, y võ dưỡng sinh, yoga,… để góp phần làm cân bằng âm dương của cơ thể, khiến bệnh mau thuyền giảm và ổn định, không tái phát.

9. Chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường

Bệnh đái đường cần chữa trị lâu dài, thực hành chủ yếu gồm 3 mặt : ăn uống, hoạt động thể lực và chữa bằng thuốc. Trong đó, trị liệu bằng ăn uống là cơ bản. Bệnh đái đường Đông y gọi là bệnh Tiêu khát. Hơn một nửa bệnh chứng liệt vào chứng 3 nhiều: ăn nhiều, đái nhiều, uống nhiều.

Quan hệ giữa bệnh đái đường và ăn uống liên hệ vô cùng mật thiết. Vô luận bệnh thuộc loại hình nào, đầu tiên phải áp dụng chữa trị bằng ăn uống, nếu người bệnh nhẹ không cần dùng thuốc, thông qua ăn uống điều chỉnh cũng có thể khống chế bệnh; người bệnh nặng ngoài chữa trị bằng thuốc, phối hợp ăn uống trị liệu là mấu chốt góp phần vào hiệu quả chữa trị bệnh này.

9.1. Thực phẩm hạn chế ăn

Để giảm nhẹ gánh vác cho tế bào tuyến tụy, đối với người béo, gạo mỗi ngày ăn 150 – 250 gam, nếu thấy đói ăn thêm nhiều rau xanh bổ sung. Đối với người gầy ăn mỗi ngày từ 200 – 250 gam gạo, người thể lực gầy hơn có thể ăn từ 250 – 350 gam, người thể lực bậc trung, người lao động 300 – 400 gam. Người lao động nặng ăn 400 – 500 gam. Khống chế ăn uống có thể chia ra nhiều bữa.

9.2. Bổ sung chất protid

Người bệnh đái đường do cơ thể bị rối loạn chuyển hóa, chất protein bị phân giải quá nhanh, xảy ra tình trạng thiếu lượng nitơ (lượng nitơ hấp thụ vào ít, thải ra nhiều). Vì vậy trong thức ăn cần bổ sung các thứ giàu chất protid như sữa, trứng, cá, thịt nạc, các loại đậu… 

Mỗi ngày mỗi cân thể trọng cần hấp thụ 0,8 gam protid là được. Mặt khác, kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy lượng protid quá nhiều đối với bệnh đái đường cũng không tốt. Nếu lượng protid quá cao có thể dẫn tới tăng áp lực của tiểu cầu thận dễ sinh bệnh “thận đái đường”.

9.3. Ăn mỡ ít

Do mỡ có quá nhiều calo, ăn lượng mỡ nhiều có thể dẫn đến bệnh xơ cứng động mạch, lượng dầu mỡ hàng ngày cần khoảng 50 gam, nên dùng các loại dầu thực vật, dầu cải, tránh dùng mỡ động vật và dầu dừa.

9.4. Ăn nhiều rau xanh và hoa quả

Dùng các loại rau chứa ít đường như rau cần, cải bắp, rau hẹ, cải dầu, cà chua, bí đỏ, dưa chuột, bầu, mướp… Ngoài ra các thứ quả như quýt chua, đu đủ hơi chín, cam, mận, thạch lựu, anh đào nên dùng với một lượng thích hợp.

9.5. Bổ sung đủ các khoáng chất

Đường trong bệnh đái đường thải ra ngoài bằng nước tiểu, đồng thời cũng làm hao tổn các chất calcium, photpho, mangan. Vì vậy, nên dùng các thực phẩm như tảo, tôm, mộc nhĩ, các chế phẩm của đậu, những thực phẩm này chứa nhiều calcium, photpho, mangan. 

Người già mắc bệnh đái đường dẫn đến trong máu thiếu kẽm, làm trở ngại chức năng miễn dịch, ảnh hưởng làm lành mặt ngoài các vết thương. Thịt nạc, thịt gia cầm, cá và các loại đậu chứa nhiều kẽm. crom và đường trong cơ thể liên hệ mật thiết với nhau, thiếu crom dẫn tới việc chuyển hóa đường hỗn loạn, đường và chất béo trong mạch máu tăng cao làm xơ cứng động mạch. Có thể ăn hoa màu và một số thức ăn giàu crom như gan, thận (ăn ít thôi).

10. Cách tính lượng thức ăn hàng ngày cho người bệnh đái tháo đường

10.1. Thể trọng tiêu chuẩn

Do thể chất, giới tính, tuổi tác và lao động của mỗi người không giống nhau, nên lượng Calo cần dùng cho mỗi người cũng khác nhau.

Cách tính trọng lượng cơ thể:

Công tính thô: Chiều cao cơ thể (cm) – 105 = trọng lượng cơ thể (kg)

Cách tính chính xác: [Chiều cao cơ thể (cm) – 100] x 0,9 = trọng lượng cơ thể (kg)

Hai công thức này tính cho nam thanh niên. Nếu là nữ thì khi đo giảm đi 2cm.

Cách tính trọng lượng cơ thể tiêu chuẩn của nam nữ:

Nam: 0,36 x chiều cao cơ thể (cm) = thể trọng tiêu chuẩn (kg)

Nữ: 0,34 x chiều cao cơ thể (cm) = thể trọng tiêu chuẩn (kg)

Trọng lượng tiêu chuẩn nằm trong phạm vi 20% là bình thường, dưới 20% là hơi gầy, quá 20% là mập, quá 40% là quá mập.

10.2. Ước tính lượng calo cần thiết trong một ngày

Người bị bệnh đái đường mỗi kg cơ thể cần một nhiệt lượng cần thiết, 15 tuổi trở xuống, nhi đồng đang lớn, nhiệt lượng so với yêu cầu bình thường có nhiều hơn.

– Từ 0 đến 4 tuổi, mỗi kg cân nặng cần 50.000 calo.

– Từ 5 đến 9 tuổi, mỗi kg cân nặng cần 40.000 – 50.000 calo.

– Từ 10 đến 15 tuổi, mỗi kg cân nặng cần 35.000 – 40.000 calo.

Với người bệnh tiêu hao nhiều năng lượng, nên có thể tăng lên một chút.

10.3. Cách tính toán dinh dưỡng tố trong thức ăn

Tùy theo tình hình nặng nhẹ của bệnh, thông thường có 2 phương pháp tính toán. Đường, protid và chất béo là 3 dinh dưỡng tố quan trọng trong thức ăn. Sau khi xác định tổng nhiệt lượng phân phối tùy theo nhu cầu như sau:

– Lượng đường chiếm tới 55 – 60% tổng nhiệt lượng, hạn chế chất protid, nếu ăn nhiều làm cho sự lọc của tiểu cầu thận quá tải, dễ phát sinh bệnh thận đái đường. Mỗi kg thể trọng cần 0,8 gam protid. Chất béo mỗi ngày cần không quá 30% tổng nhiệt lượng.

– Lượng thức ăn chính nhờ gạo hoặc mì của người nghỉ ngơi từ 200 – 250 gam mỗi ngày, người lao động nhẹ từ 250 – 300 gam, người lao động trung bình từ 300 – 400 gam, người lao động nặng từ 400 – 500 gam chất protid 30 – 40 gam, chất béo 50 – 60 gam.

– Người béo bị bệnh đái đường cần khống chế nhiệt lượng để hạ thấp chất đường, chất béo, chất protid, tăng cường hoạt động, cố gắng giảm nhẹ trọng lượng cơ thể. Mỗi ngày ăn chính 200 – 300 gam, ăn thêm protid 30 – 60 gam, chất béo 20 – 30 gam, ăn tăng thêm rau xanh. 

– Nhi đồng và phụ nữ có thai, phụ nữ trong thời kỳ cho con bú bị đái đường: bột mỗi ngày là 300 – 400 gam, dặm 50 – 80 gam, chất béo 60 gam.

Bảng tham khảo nhiệt lượng (số calo) cần thiết mỗi ngày của người bệnh đái tháo đường:

Đối tượngNgười mập(mỗi kg trọng lượng)Người bình thường(mỗi kg trọng lượng)Người gầy(mỗi kg trọng lượng)
Người nghỉ ngơi1515 – 2020 – 25
Lao động nhẹ và phụ nữ gia đình20 – 2525 – 3030 – 35
Lao động trí óc20 – 253035
Lao động hạng trung303540
Lao động nặng354040 – 50
Phụ nữ mang thai303541
Phụ nữ đang trong thời kỳ cho con bú30 – 3535 – 4040 – 45

Cách tính toán

Ví dụ nam 40 tuổi, chiều cao 168cm, thể trọng thực tế 60 kg. Căn cứ vào công thức tính toán trọng lượng thô, tiêu chuẩn trọng lượng: 168 – 105 = 63 kg.

Số calo cơ thể cần mỗi ngày là 63 x 30 = 1.890 calo. 

Lượng chất đường cho mỗi ngày là 60% calo, tính ra được là 1.230 calo và ứng với 1230/4 = 308 gam chất protid tính toán cho mỗi ngày là 63 gam.

Lượng chất béo tính toán như sau :

Chất béo = [Tổng calo – (protein + đường) x 4]/9 = (1.890 – 1.484)/9 = 45 gam (chiếm 22% tổng calo)

Phân phối tổng nhiệt lượng trong một ngày, buổi sáng 1/5, trưa và tối 2/5. Sau khi đã ăn theo công thức, nếu thấy đói cần ăn thêm rau xanh là chính, vừa no bụng vừa làm chậm hấp thụ đường ở ruột, từ đó làm cho lượng đường trong máu hạ xuống, làm tăng khả năng trị liệu. 

Tuyệt đối không lấy việc làm tăng lượng bằng chất béo để giảm đói, cũng không nên ăn tùy tiện hoa quả và các thức ăn khác.

10.4. Cách tính đổi tương đương giữa giá trị dinh dưỡng và thức ăn

Trị liệu bằng ăn uống của người bị bệnh đái đường chiếm một vị trí quan trọng cần dựa vào thói quen và sở thích ăn uống hằng ngày của người bệnh để điều chỉnh cho thích hợp. Tỷ lệ tương đương giữa các thức ăn như sau :

  • 100 gam thịt lợn nạc tương đương với 4 cái trứng gà/ 250g đậu phụ/ 100g cá hoa vàng/ 90g thịt gà/ 100g thịt vịt/ 1,5g sữa bò.
  • 100 gam đậu phụ tương đương với 12,5g đậu nành khô/ 120g đậu phụ khô/ 150g đậu tương khô.
  • 100 gam sữa bò tương đương với 120g đậu tương.

10.5. Người bệnh đái đường với rau quả

Trong hoa quả có lượng đường cao, tiêu hóa hấp thụ nhanh, người bệnh không nên dùng nhiều, nên ăn nên chọn các loại hoa quả có lượng đường thấp và phải tính toán lượng đường. Nước dừa, dưa hấu, dưa bạch lan chứa 4 – 5% đường; phan thạch lựu, lê, chanh, đào, mận, anh đào, mít, dưa bở, dưa thơm chứa 8 – 10%; táo, hạnh, bưởi, nho, oliu, quýt, cam chứa 10 – 13% đường; hồng, vải, thạch lựu, quế viên, chuối chứa 14 – 16% đường; đại táo, mía, sơn lý hồng chứa 20 – 23% đường. Trái cây khô chứa lượng đường nhiều hơn, hạnh khô chứa 60%, hồng khô, quế viên 60 – 70%. Không nên mỗi bữa ăn đều dùng trái cây.

Trái cây ngoài đường fructose, còn có đường glucose, đường saccarozơ, đường bán nhủ, (đường trong sữa)… Sự thay đổi lẫn nhau giữa các loại đường phải dựa vào chất Insulin, người bị bệnh đái đường nên chọn trái cây có lượng glucose ít. Dưa hấu, thảo mai, phan thạch lựu, tỳ bà, táo tây chứa lượng đường glucose tương đối thấp.

11. Dinh dưỡng cho người đái tháo đường

Nguyên tố hóa học có tác dụng quan trọng đối với việc duy trì sự trao đổi chất, thay thế tế bào trong con người hợp thành vật sống và công năng sự sống. 

Nguyên tố vi lượng hoặc nguyên tố hàm lượng cao có thể ảnh hưởng đến công năng tuyến nội tiết. Người bị bệnh đái đường do bị trở ngại trong việc trao đổi chất tạo nên sự tăng giảm của các nguyên tố vi lượng, thiếu một nguyên tố vi lượng nào đó sẽ ảnh hưởng đến tuyến tụy. 

Thiếu nguyên tố mangan làm cho kết cấu tế bào tuyến tụy rối loạn, hạt tế bào beta giảm thiếu. Các nguyên tố hóa học được hấp thụ từ thức ăn rất cần thiết. Dưới đây giới thiệu một số nguyên tố vi lượng quan hệ với bệnh đái đường.

11.1. Kẽm

Thí nghiệm trên chuột chất Insulin trong huyết dịch của chuột con thiếu kẽm thấp hơn so với nhóm đối chứng. Nghiên cứu chứng tỏ tế bào alpha beta của chuột mẹ thiếu kẽm đều giảm chất insulin, khiến đường huyết cao. 

Kẽm là một phần làm nên mạng xúc tác tất cả kim loại trong tuyến tụy. Lấy thức ăn thiếu kẽm nuôi thỏ bạch thì xuất hiện tụy khô héo, tế bào tuyến tụy cũng biến đổi. Kẽm trong máu người bệnh đái đường giảm rõ rệt. Kẽm với chất Insulin có quan hệ mật thiết với nhau. 

Kẽm tiêu hao khi tiết ra Insulin, kẽm trong cơ thể bị thiếu có thể dẫn tới hạ thấp công năng chịu đường, hạt tế bào của Insulin giảm. Người bị bệnh đái đường do đái nhiều, lượng kẽm hạ thấp, kẽm thay đổi ảnh hưởng hoạt tính chất oxy hóa xúc tác phẩm. Thêm kẽm sẽ tăng thêm hiệu quả điều trị bệnh đái đường. 

Khi dùng thuốc thấy không có hiệu quả phải nghĩ đến sự thiếu hụt các nguyên tố vi lượng để bổ sung bằng các thức ăn có các nguyên tố đó, ví như gạo lứt có nhiều kẽm, có tác dụng rõ rệt đối với tuyến tụy của người bị đái đường. Các thức ăn khác như đậu phụ chứa 8 mg/1kg, mộc nhĩ 1,81mg/1kg, đậu nành 59mg/1kg, rau cải 48mg/1 kg, ớt xanh 47,17mg/1 kg. Ngoài ra thịt nạc, gan, trứng, đậu phộng, hạt đào, táo tây cũng chứa nhiều kẽm; các vị thuốc như Câu kỷ, Thục địa, Nhân sâm cũng có chứa kẽm. 

Thông tin lâm sàng 42 người bệnh đái đường, uống thuốc mà không giảm, uống thuốc hạ đường 7,5 – 15 mg/ngày chia làm 3 lần. Sau 5 ngày tăng thêm viên kẽm 50 – 100 mg/ngày chia 3 lần, uống 30 ngày, lượng đường trong máu giảm rõ rệt so với người chỉ uống thuốc hạ đường.

11.2. Crom

Nghiên cứu cho thấy, crom trong máu người đái đường thấp hơn so với người bình thường; cũng có nghiên cứu cho rằng crom ở người bệnh đái đường và người bình thường như nhau. 

Crom là nguyên tố vi lượng quan trọng trong cơ thể, tập hợp chất, hữu cơ crom hóa trị 3, hình thành với axit nicotinic, axit amin v.v… còn gọi là phân tử chịu đường glucose, có tác dụng quan trọng đối với việc thay thế đường cho nhau, thông qua sự hợp tác của chất insulin, lưu huỳnh, trên chuỗi axit cùng với gốc lưu huỳnh. 

Insulin trên tế bào mô hình thành chuỗi 2 lưu huỳnh, từ đó thúc đẩy chất insulin phát huy tác dụng và chất kích thích thoát khỏi chất xúc tác hydro tăng sử dụng đường. Cũng có tác giả cho rằng crom hóa trị 3, thông qua hợp chất dưỡng sinh hình thành với insulin có tác dụng đối với việc thay thế đường. 

Thiếu crom có thể dẫn đến giảm thấp hoạt tính insulin, thậm chí ảnh hưởng khả năng tiết Insulin của tuyến tụy. crom không những có quan hệ với sự thay thế đường mà cũng có quan hệ mật thiết với sự thay thế chất béo và cholesterol. 

Thiếu crom có thể làm cho bị bệnh xơ cứng động mạch. Người bị bệnh đái đường sau khi ăn Khổ kiều mạch chứa crom, đường trong nước tiểu đều hạ thấp xuống. Nếu người bị bệnh nhẹ ăn Khổ kiều mạch cũng khống chế được bệnh tình. 

Ngoài ra người bị bệnh đái đường và người béo cao huyết áp sau khi ăn Khổ kiều mạch cholesterol, glycerin đểu hạ rõ rệt. Các thức ăn có chứa nhiều crom như bí ngô, củ cải, đậu Hà Lan…

11.3. Mangan

Các công trình nghiên cứu cho biết Mangan của người bị bệnh đái đường thấp so với người bình thường, lại có người cho rằng Mangan trong người bệnh đái đường không hề hạ thấp. 

Mangan đối với việc phát sinh bệnh đái đường cũng có quan hệ nhất định. Chất xúc tác cacboxi của A.Axeton và xúc tác khác có liên quan đến việc thay thế đường, đều cần đến Mangan. 

Thiếu Mangan sẽ làm cho tuyến tụy của động vật không phát triển toàn diện, số lượng Insulin và tế bào beta giảm xuống, tỷ lệ sử dụng đường bị yếu. Các thực phẩm có chứa nhiều Mangan như chè, hạt dẻ, hạt đào, tiểu mạch, đại mạch, kiều mạch, hắc mạch, đậu cove, cải trắng, đậu ván…

11.4. Selen

Một tác giả người Nhật trong khi nghiên cứu động vật lần đầu tiên phát hiện nguyên tố vi lượng selen, nó thúc đẩy công năng thu nhận đường của tế bào, có hoạt tính sinh lý điều tiết thay thế đường, tương đồng với Insulin. Vì vậy người bị bệnh đái đường nên ăn nhiều thức ăn có selen như tôm, cá, gan động vật, tim, thịt bò, măng, nấm, gừng, tỏi tây…

12. Chỉ số đường huyết của một số thực phẩm

Phân loạiLoại thức ănChỉ số đường huyết
Thực phẩm chính của người bệnhCơm chín
Gạo lứt
Xôi chín

Bánh mì làm bằng bột trắng
54
65
80
81
100
Các loại mì chế biếnMì ống
Mì sợi to còn lứt
Mì sợi to trắng
64
61
67
Các loại khoaiKhoai tây chiên
Khoai lang
Khoai tây luộc
Khoai tây nghiền
Khoai tây nướng lò
Bột khoai tây chín sẵn
70
74
80
98
116
120
Các loại đậuĐậu phộng
Đậu nành khô
Đậu nành đóng hộp
Đậu petits đóng hộp
Đậu petits khô
Đậu trắng đóng hộp
15
20
22
50
65
70
Nước trái câyNước ép táo tây
Táo tây
Cam
Nước cam vắt
Chuối
Nho khô
45
52
59
71
85
93
Các loại đường mậtĐường fructose
Đường lactose
Mật ong
Đường glucose
26
57
12
61
38
Sữa và kemSữa nguyên cream
Sữa bớt cream
Yaourt
Cream sữa làm bánh
Cream chế biến từ sữa
44
46
52
59
69

Chỉ số đường huyết của thực phẩm là chỉ số làm tăng lượng đường trong máu sau khi dùng thực phẩm ấy. Thực phẩm nào có chỉ số đường huyết càng cao thì khả năng làm tăng đường huyết của bệnh nhân càng lớn. Người bị bệnh đái đường nên chọn dùng loại thực phẩm có chỉ số đường huyết càng thấp càng tốt.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :