Home / Sức Khỏe / 8 xét nghiệm chẩn đoán phát hiện đái tháo đường

8 xét nghiệm chẩn đoán phát hiện đái tháo đường

/

Bệnh đái tháo đường thực sự đang là mối lo ngại lớn đối với xã hội vì tốc độ gia tăng nhanh chóng của bệnh, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sự tốn kém về kinh tế cho cả bản thân người bệnh lẫn cộng đồng. Dưới đây là cách chẩn đoán phát hiện sớm bệnh đái tháo đường để kịp thời phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.

xét nghiệm đái tháo đường

Lưu ý: bài viết xét nghiệm chẩn đoán đái tháo đường chỉ mang giá trị tham khảo, không thay thế ý kiến chuyên môn của các bác sỹ chuyên khoa.

1. Xét nghiệm định lượng đường máu huyết tương

Xét nghiệm chẩn đoán người mắc đái tháo đường nếu các có các chỉ số bất thường sau:

– Đường máu lúc đói > 126mg/dl (7mmol/l) thử ít nhất 2 lần liên tiếp.

– Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ > 200mg/dl (≥ 11,1mmol/l).

– Không bị đái tháo đường nếu đường máu lúc đói < 4,4mmol/l và sau ăn < 7,8mmol/l.

2. Chẩn đoán giảm dung nạp đường glucose (GDNG)

Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống:

Điều kiện: ăn 3 ngày liền đủ lượng carbohydrate (> 200g/ngày), không dùng thuốc làm tăng đường máu, đường máu lúc đói bình thường, không bị stress.

Nếu đã cắt dạ dày hoặc hội chứng kém hấp thu: xét nghiệm dung nạp đường bằng truyền đường tĩnh mạch.

Thực hiện: nhịn đói 12 giờ, uống 75 gram đường glucose trong 250ml nước (không nóng – không lạnh). Định lượng đường máu sau 2 giờ. Đọc kết quả.

Dưới đây là bảng xét nghiệm dung nạp glucose đường uống:

Nếu mắc đái tháo đường thì chỉ số như sau:

Máu mao mạch (mmol/l)Huyết tương (mmol/l)
Lúc đói≥ 6,1≥ 7,0
2 giờ sau uống 75 gam đường glucose≥ 11,1≥ 11,1

Nếu chẩn đoán giảm dung nạp đường glucose (GDNG):

Máu mao mạch (mmol/l)Huyết tương (mmol/l)
Lúc đói< 6,1< 7,0
2 giờ sau uống đường glucose≥7,8≥7,8

– Nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose > 11,1mmol/l: chẩn đoán đái tháo đường.

– Nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose > 7,8mmol/l nhưng < 11,1mmol/l: những người này được xếp loại giảm dung nạp đường glucose. 

Người mắc giảm dung nạp đường glucose không những có nguy cơ cao tiến triển thành tiểu đường sau này, mà còn tăng nguy cơ mắc các bệnh tim – mạch như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

3. Định lượng đường niệu 

Xét nghiệm này chỉ có giá trị theo dõi đối với bản thân bệnh nhân ngoại trú. Không dùng để chẩn đoán bệnh.

4. Các xét nghiệm bổ sung 

Sau khi được chẩn đoán xác định và làm những xét nghiệm theo dõi thường kỳ (1-2 lần/năm) để thăm dò các biến chứng mạn tính và để theo dõi điều trị bệnh đái tháo đường.

5. Khám lâm sàng 

Lưu ý kiểm tra cân nặng, huyết áp, bắt mạch ngoại biên và so sánh nhiệt độ da, khám bàn chân, khám thần kinh bao gồm thăm dò cảm giác sâu bằng âm thoa. 

Khám mắt: phát hiện và đánh giá tiến triển bệnh lý võng mạc.

6. Xét nghiệm

Đặc biệt lưu ý creatinin, mỡ máu, microalbumin niệu (bình thường < 30mg/ngày) hoặc định lượng protein niệu. Đo điện tim nhằm phát hiện sớm các biểu hiện thiếu máu cơ tim.

7. Định lượng HbA1 hoặc HbA1c

Đánh giá hồi cứu tình trạng đường máu 2-3 tháng gần đây. Đường máu cân bằng tốt nếu HbAlc < 6,5%.

– Trong một số tình huống (không phải là xét nghiệm thường quy).

Fructosamine: cho biết đường máu trung bình 2 tuần gần đây, có nhiều lợi ích trong trường hợp người mắc đái tháo đường đang mang thai. Nếu đường máu cân bằng tốt, kết quả < 285mmol/l.

Peptid C (một phần của pro-insulin): cho phép đánh giá chức năng tế bào beta tụy.

8. Chẩn đoán phân biệt

– Tăng đường máu thoáng qua do stress: phẫu thuật, nhồi máu cơ tim, chấn thương (đánh giá kiểm tra bằng các xét nghiệm theo dõi).

– Tiểu đường thứ phát (tiền sử mắc bệnh, lâm sàng) thuốc đang dùng.

9. Với mức đường máu nào sẽ không bị mắc đái tháo đường?

Vài năm trước đây, Hiệp hội tiểu đường Mỹ thay đổi chỉ số xác định mức đường máu lúc đói cao bất thường từ 110mg/dl (6,1mmol/l) xuống còn 100mg/dl (5,5mmol/l).

Đường máu lúc đói là lượng đường glucose trong máu khi người ta nhịn ăn ít nhất 8-10 giờ.

Nếu lượng đường này >100mg/dl (5,5mmol/l) hiện được coi là cao bất thường. Tuy chưa phải là mắc tiểu đường, nhưng không có nghĩa là không thể bị mắc tiểu đường trong tương lai.

Người ta cũng không biết được những người có mức đường máu lúc đói dưới 100mg/dl (5,5mmol/l) có ít khả năng mắc bệnh tiểu đường về sau này hay không?

Nghiên cứu tiến hành trên 13.163 binh lính Israel 25 tuổi, tất cả những người này có mức đường máu < 100mg/dl (5,5mmol/l).

Những người tham gia nghiên cứu được làm hồ sơ ghi nhận kết quả xét nghiệm, tiền sử bản thân và gia đình. Người mắc tiểu đường trong nhóm người này được ghi nhận suốt từ năm 1992 đến 2004.

Kết quả:

– Một cách tổng quát mà nói, những người có mức đường máu 87mg/dl (4,8mmoll) sẽ dễ mắc tiểu đường hơn những người có mức đường máu thấp hơn.

– Người có mức đường máu từ 91-99mg/dl (5,15,5mmol/l) và triglycerid (một loại mỡ máu) 150mg/dl (1,7mmol/l) sẽ dễ bị mắc bệnh tiểu đường gấp 8 lần so với những người có mức đường máu và mỡ máu thấp hơn.

– Và những người có BMI 30kg/m2 và đường máu 91-99mg/dl cũng có khả năng dễ mắc tiểu đường hơn 8 lần so với những người có các chỉ số ở dưới mức trên.

Hạn chế của nghiên cứu là chỉ giới hạn đối tượng là những nam giới khỏe mạnh phục vụ trong quân ngũ, do vậy kết quả có thể không áp dụng cho những quần thể dân chúng bình thường khác. Mặt khác, nghiên cứu cũng không tính đến các chỉ số khác, như đo nồng độ insulin – một yếu tố liên quan đến khả năng mắc bệnh.

Ý nghĩa của nghiên cứu:

Người có mức đường máu bình thường (< 5,5mmol/l) không có nghĩa là sẽ không bao giờ mắc bệnh tiểu đường sau này.

Các chỉ số khác đi kèm với đường máu như chỉ số khối cơ thể (BMI) và mức triglycerid máu có thể phục vụ tốt hơn cho việc dự báo một người có khả năng mắc bệnh tiểu đường hay không.

10. Cách phát hiện sớm bệnh tiểu đường

Vì tính chất nghiêm trọng của bệnh, vì bệnh tiểu đường giai đoạn đầu thường không có triệu chứng, do vậy để chẩn đoán sớm bệnh tiểu đường, Hội tiểu đường Mỹ khuyến cáo:

– Làm xét nghiệm đường máu định kỳ cho tất cả mọi người từ 45 tuổi trở lên, nhất là những người có chỉ số BMI > 23kg/m2 (25kg/m2 với người châu Âu hoặc Mỹ) nếu xét nghiệm bình thường cần phải lặp lại 3 năm/lần.

– Xét nghiệm cần được làm ở những người trẻ hơn hoặc thường xuyên hơn với những người thừa cân (BMI > 23kg/m2) và có các yếu tố nguy cơ kèm theo như:

+ Ít hoạt động thể lực.

+ Có họ hàng bậc 1 (bố, mẹ, anh, chị, em) với người tiểu đường.

+ Tiền sử đẻ con to trên 4kg hoặc đẻ con to hơn so với tuổi thai trong trường hợp đẻ non, hoặc có tiền sử tiểu đường lúc mang thai.

+ Có bệnh tăng huyết áp.

+ Có lượng HDL cholesterol < 0,9mmol/l và/hoặc lượng triglyceride > 2,82mmol/l.

+ Có hội chứng đa nang buồng trứng (Poly cystic ovary syndrom).

+ Có tiền sử giảm dung nạp đường glucose hoặc giảm dung nạp đường máu lúc đói (IFG: impaired fasting glucose).

+ Có tình trạng kháng insulin (hội chứng đa nang buồng trứng, chứng gai đen).

+ Có tiền sử bệnh mạch máu.

Xem thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :