Home / Sức Khỏe / 10 loại thuốc phòng bệnh mùa dịch trong tủ thuốc gia đình

10 loại thuốc phòng bệnh mùa dịch trong tủ thuốc gia đình

/

Do đặc điểm địa lý – kinh tế, vùng miền núi nước ta còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Chẳng may trong nhà có người bị mắc bệnh thì việc đưa bệnh nhân đến trạm xá xã hoặc Trung tâm y tế huyện, tỉnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn vất vả. Vì vậy, việc hướng dẫn mọi người tự sắm sửa, xây dựng được một tủ thuốc gia đình để khi cần có thể chữa những bệnh nhẹ chưa cần đến trạm xá xã hoặc bệnh viện là điều nên làm.

những loại thuốc chữa bệnh cảm cúm nhẹ khi thời tiết giao mùa

Khuyến cáo: Tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo. Người đọc khi có những triệu chứng phát bệnh khi thời tiết giao mùa, hoặc bước vào mùa dịch nên đi thăm khám để được bác sĩ chẩn đoán đúng bệnh và có giải pháp chữa trị đúng pháp đồ.

1. Tủ thuốc gia đình là gì?

Đó là một tủ nhỏ có nhiều ô, để các thuốc cần thiết cho gia đình. Nếu không có tủ thì dùng một cái hộp, như hộp bích quy cũng được, gọi là tủ thuốc gia đình. Xem thêm vườn thuốc gia đình là gì? trồng loại cây thuốc nào chống cảm cúm thông thường?

2. Tại sao cần có tủ thuốc gia đình?

Trong đời sống hàng ngày mỗi gia đình có thể cần đến thuốc. Chẳng hạn như khi có người bị đứt tay cần có thuốc khử trùng và bông băng để rửa chỗ bị đứt, khử trùng, băng lại cho cầm máu. Hay trong gia đình có người bị tiêu chảy (do ăn phải thức ăn ôi thiu), cần có thuốc. Người bị cảm lạnh, ho, nhức đầu cần có dầu xoa chống lạnh, có gừng, có thuốc nhức đầu.

Nếu trong gia đình không có sẵn một số thuốc cần thiết (không nhiều lắm) thì khi mắc bệnh sẽ bị động, sẽ phải tìm đến y tế nếu không muốn ở vào cảnh “ốm no bò dậy”.

Ở miền núi, nhất là vùng sâu vùng xa, đi lại khó khăn, tìm đến y tế (bản, xã) cũng mất thời gian,nếu không thật cần thiết. Những chứng bệnh nhẹ, chữa được ở nhà, thì có thể và nên chữa lấy ở nhà. Khi đó tủ thuốc gia đình thật là quan trọng.

3. Tủ thuốc gia đình nên có những thuốc gì phòng bệnh mùa dịch?

Theo kinh nghiệm của nhiều gia đình thì nên có các loại thuốc phòng bệnh cho mùa dịch sau đây:

– Thuốc dùng ngoài gồm: Cồn 70 độ, oxy già, nhiệt kế, kéo nhỏ, bông, băng cuộn, băng dính.

– Thuốc cảm sốt, giảm đau, hạ nhiệt gồm: Cao Sao Vàng (hay dầu Phật Linh); Paracetamol (hạ nhiệt) còn có các dạng khác là Panadol, Tiffy, Decolgen. Thuốc hạ nhiệt cho trẻ em như Babymol.

– Thuốc tiêu chảy: Viên Berberin, Oresol.

– Thuốc tra mắt: Argyrol.

– Gừng, mật ong.

Đây là theo kinh nghiệm chung. Gia đình nào nếu có điều kiện thì có thể thêm một số thuốc nữa. Có gia đình cần thêm thuốc chữa nấm (hắc lào) hoặc chữa ghẻ. Có gia đình cần các loại vitamin A, vitamin B1, vitamin C, vitamin tổng hợp.

4. Cách sử dụng tủ thuốc gia đình phòng bệnh mùa dịch

4.1. Cồn 70 độ

Các nhà thuốc đều có bán. Đựng trong các lọ chất dẻo, mỗi lọ 100ml. Khi bị đứt chân, đứt tay, nặn cho ra một số giọt máu (để cho vi khuẩn nếu có thì theo máu ra), Lấy một miếng bông thấm cồn rửa vết thương cho sạch. Đặt một miếng gạc có bông thấm nước (có bán sẵn)lên trên rồi băng lại bằng băng dính (nếu vết đứt bé) hoặc băng cuộn (nếu vết đứt to).

Cồn 70 độ còn dùng để bôi lên nhọt da hoặc khử trùng da khi y tế tiêm thuốc.

4.2. Oxy già

Là một dung dịch dùng để khử trùng (các nhà thuốc có bán). Muốn khử trùng thì lấy bông hút nước tẩm oxy già và lau lên chỗ định khử trùng.

Bông hút nước, gạc có bông, băng dính, băng cuộn, dùng để băng bó.

Khi băng bằng bông cuộn, cần vắt chéo băng để cho chặt vừa; nếu chặt quá, máu không lưu thông được, nếu lỏng quá sẽ bị tụt.

4.3. Cao Sao Vàng, dầu Phật Linh (dầu Trường Sơn)

Có các chất làm cho cơ thể nóng lên. Để chống lạnh hoặc chữa cảm lạnh, ta có thể xoa dầu vào trán, thái dương, hai bên cánh mũi, môi trên ngay dưới mũi (huyệt nhân trung), xoa vào gáy, xoa quanh cổ.

– Nếu đau bụng: xoa quanh rốn.

– Để chữa cảm cúm, có thể dùng cao Sao Vàng hoặc dầu Phật Linh để xông như xông nước lá bằng cách đun nước sôi trong một nồi nhỏ hoặc xoong nhỏ sau đó rỏ vào đó 5 đến 10 giọt dầu Phật Linh. Áp mặt ở quãng cách vừa phải để không quá nóng. Lấy một cái chăn phủ lên đầu che kín nồi xông, chừng 5 đến 10 phút sau mồ hôi sẽ ra, nhẹ người. Khi xông xong lau mồ hôi cho khô. Nếu không có dầu Phật Linh, thì nấu các loại lá như tía tô, kinh giới, hương nhu làm nồi xông hơi cũng được. Khi xông nên ở chỗ kín gió, tránh để đổ nồi xông, sẽ bị bỏng.

4.4. Paracetamol

Paracetamol là thuốc giảm sốt, giảm đau còn có các dạng khác là Palmin, Panadol, Tiffy, Decolgen. Trước khi dùng phải đọc kỹ tờ hướng dẫn cách dùng (nếu có). Paracetamol thường có hai loại viên: loại 100mg và loại 300mg. Loại 100mg dùng cho trẻ em. Loại 300mg dùng cho người lớn. Đối với trẻ em chỉ khi trẻ sốt cao (khoảng 39 – 40 độ) mới cho uống. Không cho trẻ sơ sinh (dưới 6 tháng) uống thuốc này.

Từ 6 tháng đến 12 tháng: cho uống từ 25mg đến 50mg. Nếu là viên 100mg thì: từ 6 tháng đến 12 tháng uống từ 1/4 viên đến 1/2 viên/ ngày, thường dùng 3 ngày liền.

Từ 13 tháng đến 5 tuổi: từ 100mg đến 150mg tương đương 1 viên đến 1,5 viên/ngày

Từ 6 tuổi đến 15 tuổi: 150mg đến 250mg tương đương từ 1,5 viên đến 2,5 viên/ngày. Tránh dùng liền quá một tuần. Trên 15 tuổi uống như người lớn.

Đối với người lớn: trung bình uống từ 1 viên đến 4 viên 300mg/ngày (là nhiều nhất) Không uống liền quá một tuần. Nếu đau lưng, đau khớp nhiều có thể uống tới 2 tuần nhưng không được quá 2 tuần, sẽ ảnh hưởng đến gan.

Khi uống các biệt dược có Paracetamol phải theo đúng những điều đã ghi trong tờ hướng dẫn kèm theo thuốc.

4.5. Aspirin

Là thuốc giảm đau, hạ nhiệt. Thường có 3 loại viên: 100mg, 300mg, 500mg. Khi dùng cần chú ý để không nhầm liều dùng khi cảm sốt, nhức đầu hoặc đau khớp.

– Người lớn uống viên 300mg: trung bình 1 ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần từ 1 đến 2 viên.

Trẻ em dưới 3 tuổi: từ 1/3 viên đến 1 viên/ngày chia làm 2 – 3 lần uống.

Trẻ em từ 4 – 6 tuổi: từ 1 viên đến 1,5 viên/ngày. 

Từ 7 – 10 tuổi: từ 1,5 viên đến 2 viên/ngày. 

Từ 11 – 15 tuổi: từ 3 đến 4 viên/ngày. 

Từ 16 tuổi trở lên: uống như người lớn.

Chú ý:

– Người bị bệnh loét dạ dày, tá tràng không được uống aspirin (vì có thể gây chảy máu dạ dày)

– Phụ nữ có thai từ 6 tháng trở đi cũng không được uống aspirin.

4.6. Berberin

Biệt dược: Berberal. Mỗi viên nén có 0,05g (cho người lớn dùng) hoặc 0,01g (cho trẻ em). Thuốc này dùng để chữa đi rửa (ỉa chảy), kiết lỵ.

Người lớn: 0,20g – 0,30g/ngày tức là 4 đến 6 viên nén lớn/ngày chia làm 2 lần mỗi lần từ 2 đến 3 viên lớn, uống từ 3 – 5 ngày liền. 

Trẻ em: ngày 2 lần,

+ Dưới 2 tuổi: mỗi lần 1 – 2 viên nén loại 0,01g, ngày 2 viên đến 4 viên.

+ Từ 2 – 4 tuổi: mỗi lần 2 – 8 viên. ngày 4 – 8 viên.

+ Từ 5 – 7 tuổi: mỗi lần 4 – 5 viên, ngày 8 – 10 viên.

+ Từ 8 – 15 tuổi: mỗi lần 2 – 3 viên lớn (0.05g), ngày 4 – 6 viên lớn.

Chú ý: Phụ nữ có thai không được uống Berberin.

4.7. Oresol (ORS)

Thuốc thường được trình bày dưới dạng gói giấy nhôm hàn kín, thành phần có đường, muối natri và kali. Khi dùng mới mở ra (không mở trước lâu, thuốc sẽ bị hỏng), hoà tan một gói vào 1 lít nước đun sôi để nguội.

Khi trẻ em đi ỉa chảy nhiều, mất nhiều nước và muối, người bị hảo phải cho uống Oresol để bù đắp chỗ nước và muối mất đi. Khi người lớn ỉa chảy nhiều cũng cần uống Oresol.

Liều lượng: Trung bình trong 1 ngày như sau:

Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng: từ 250ml đến 500ml nước đã pha Oresol (1/4 đến 1/2 lít)

Từ 6 tháng đến 24 tháng: từ 500ml đến 1000ml nước đã pha Oresol (1/2 đến 1 lít)

Từ 2 đến 5 tuổi: từ 750ml đến 1500ml nước đã pha Oresol (3/4 đến 1,5 lít) 

Trên 5 tuổi: từ 1000ml đến 2000ml (1 lít đến 2 lít) tuỳ tình trạng bệnh nhân.

Người lớn: từ 1000ml đến 2000ml (1 lít đến 2 lít).

Chia liều trung bình một ngày nói trên làm 4 lần, cử cách 3 giờ uống 1 lần. Trong tủ thuốc gia đình nên có 3 đến 6 gói Oresol. Nếu không có Oresol thì có thể dùng chắc đường, muối có thêm chanh hoặc có thể cho trẻ em uống nước cơm với đường muối. Trong 1 lít nước đun sôi hoặc nước cháo, hoặc nước cơm cho một thìa cà phê đường, 1 thìa cà phê muối, một nửa quả chanh. (Công thức của G.S Nguyễn Thu Nhạn, Bệnh viện Nhi Trung ương).

Chú ý: Khi trẻ em ỉa chảy vẫn cho bú, vẫn cho ăn để trẻ khỏi mất sức và cho uống Berberin hoặc vừa cho uống Berberin, vừa cho uống Oresol. Oresol rất quan trọng, đã cứu được nhiều trẻ em đi ỉa chảy.

4.8. Argyrol

Là thuốc tra mắt, đựng trong lọ màu vàng hoặc bọc giấy đen. Loại 3% dùng cho trẻ em, loại 5% cho người lớn. Để tránh nhầm lẫn nguy hiểm, không bao giờ để Argyrol cạnh lọ Teinture d’iode.

– Khi đau mắt đỏ, sáng tra 3 giọt, chiều tra 3 giọt, vào cả 2 mắt. Không tra quá 5 ngày hoặc 7 ngày.

4.9. Gừng

Nếu nhà có trồng gừng thì dùng gừng tươi tốt hơn. Nếu có gừng khô thì bọc vào giấy ni-lông, để trong tủ thuốc gia đình.

Gừng có nhiều tác dụng

– Đánh gió, chống cảm lạnh: Cần 1 củ gừng nhỏ (12g – 16g), tóc rối, 50ml rượu trắng. Giã gừng trộn với rượu và tóc rối và bọc vào 1 mảnh vải thưa rồi xoa miết khắp người. Có thể giã gừng lấy nước rồi hoà với nước lã đun sôi uống để chống cảm lạnh. 

– Làm thuốc họ bằng cách thái nhỏ gừng từng miếng vuông rồi nhúng với mật mía hoặc mật ong. Ngậm từng miếng.

– Chống buồn nôn: Nhấm từng tí gừng một.

4.10. Mật ong

Mật ong là một loại thuốc gia dụng tốt, tủ thuốc gia đình trong mùa dịch nhà nào cũng nên có.

– Dùng mật ong làm thuốc bổ cho trẻ em: Uống riêng mật ong hoặc ăn với cháo để chống suy dinh dưỡng (mật ong có đường, muối khoáng, sinh tố các loại). Mỗi ngày trẻ em nên uống từ 1 – 2ml, uống nhiều ngày, uống vào mùa rét là tốt nhất; mùa nực nên uống vào buổi sáng.

– Các cụ già, nếu không phải kiêng đường, thì uống nước chè mật ong, hoặc ăn cháo mật ong cũng tốt, uống 2 thìa cà phê/ ngày.

– Mật ong còn dùng để bôi vào lưới và môi khi khô miệng.

– Mật ong chưng với gừng dùng làm thuốc ho.

4.11. Dụng cụ y tế

Trong tủ thuốc gia đình cần có một nhiệt kế y học, còn gọi là cái cặp nhiệt độ. Thường cặp nhiệt độ ở nách, trước khi cặp vảy cho thuỷ ngân tụt xuống bầu nhiệt kế (vẩy vào chỗ trống để tránh làm vỡ). Đặt bầu nhiệt kế đúng chỏm nách, khép cánh tay lại để giữ cho khỏi rơi. Chờ từ 3 đến 5 phút hãy lấy ra, đọc kết quả. 

Khi nhiệt độ từ 36 độ đến 37 độ là bình thường, trên 37 độ là bắt đầu sốt, từ 37 độ – 37,5 độ là sốt nhẹ, trên 39 độ là sốt cao. Nên có một kéo con để cắt bông băng. Bông băng để băng vết thương.

5. Mua tủ thuốc gia đình loại nào tốt?

Ở các thành phố thường có bán sẵn các tủ đựng thuốc với nhiều cỡ khác nhau. Cỡ trung bình cao 60cm, ngang 40cm, dày 20cm. Mặt trước tủ nên có cửa kính để dễ nhìn và tốt nhất là có khoá, trên cửa tủ có chữ thập đỏ. để người ta biết là tủ thuốc y tế. Mặt sau bằng gỗ dán.

Tủ có 1 hoặc 2 khuy để treo lên tường. Tư có 3 ngăn, mỗi ngăn cao 20cm. Ở miền núi sẵn gỗ đẹp, các gia đình có thể đóng lấy, không có kính thì dùng cửa gỗ cũng được.

Nên treo tủ trên cao, ngoài tầm với của trẻ em, để chúng khỏi nghịch hoặc tự động dùng thuốc (tránh ngộ độc do dùng thuốc). Chọn chỗ treo cho mát, khô, không bị mưa hắt vào, thuận lợi cho việc bảo quản thuốc

Ở mỗi ngăn tủ nên để những thứ thuốc cùng một loại như thuốc dùng ngoài, thuốc cảm sốt, thuốc tiêu hoá, dụng cụ để tiện sử dụng.

6. Quản lý tủ thuốc gia đình như thế nào?

– Thuốc nào dùng hết thì bổ sung ngay.

– Hàng tháng kiểm tra các thuốc có ghi hạn dùng. Nếu thuốc nào quả hạn thì không được dùng nữa, phải bỏ đi rồi mua thuốc còn hạn thay vào.

– Sử dụng thuốc đúng chỉ định, đúng liều lượng, không dung quả liễu. Cũng không dùng thiếu liều. Tránh dùng nhầm thuốc dẫn đến tai biến, có hại cho sức khỏe.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :