Home / Ô Tô / Quy trình tháo lắp, sửa chữa bộ chế hòa khí ô tô đúng kỹ thuật

Quy trình tháo lắp, sửa chữa bộ chế hòa khí ô tô đúng kỹ thuật

/

Hướng dẫn tháo lắp, sửa chữa bộ chế hòa khí ô tô các lỗi cụm họng hút, van kim, phao xăng, van điện tử, công tắc bướm ga, giclơ đúng kỹ thuật.

quy trình sửa chữa bộ chế hòa khí ô tô

1. Bộ chế hòa khí ô tô là gì?

1.1. Vai trò của bộ chế hòa khí

Trộn đều giữa hơi xăng và không khí tạo thành hỗn hợp đốt cung cấp vào buồng đốt của động cơ theo yêu cầu làm việc của động cơ. 

1.2. Yêu cầu

Yêu cầu về hỗn hợp đốt của động cơ ở các chế độ làm việc khác nhau như sau:

Chế độ chạy không: Cần lượng hỗn hợp ít nhưng giàu vì lượng khí sót còn nhiều so với lượng khí nạp, để động cơ làm việc ổn định hỗn hợp cần phải giàu.

Ở chế độ tải trọng trung bình: Để tiết kiệm nhiên liệu hỗn hợp nghèo và hỗn hợp phải nghèo dần khi chuyển từ nhỏ sang tải trung bình (nửa tải).

Ở chế độ toàn tải: Để động cơ phát huy hết công suất hỗn hợp cần phải giàu.

– Khi quá tải cần hỗn hợp giàu để vượt tải.

– Khi bướm ga mở đột ngột, cần hỗn hợp giàu để tăng cấp nhanh.

– Khi khởi động, cần hỗn hợp rất giàu để dễ khởi động.

2. Cấu tạo và nguyên lý hoạt động bộ chế hòa khí ô tô

2.1. Cấu tạo

cấu tạo của bộ chế hòa khí đơn giản
Cấu tạo của bộ chế hòa khí đơn giản

Buồng phao: Là buồng chứa xăng ở mức thấp hơn miệng vòi phun (2-5 mm). Bên trong có phao xăng, kim xăng, luôn duy trì mức xăng trong buồng phao. Buồng phao có lỗ thông hơi với bên ngoài.

Họng khuếch tán (buồng hỗn hợp): Là một ống ngăn ở giữa thắt lại, một đầu nối với bầu lọc không khí, một dầu nối với ống hút của động cơ, bướm ga để thay đổi lượng hỗn hợp vào xi lanh.

Bộ phận phun: Gồm một giclơ định lượng mức xăng và vòi phun (4) phun ra ở chỗ thắt hẹp của họng khuếch tán.

2.2. Nguyên tắc hoạt động

– Khi động cơ làm việc, mức xăng trong buồng phao của bộ chế hoà khí luôn luôn được điều chỉnh thấp hơn miệng phun từ 2 + 5mm, do đó xăng không tự phun ra được.

– Khi động cơ làm việc, ở hành trình hút piston đi từ điểm chết trên (ĐCT) xuống điểm chết dưới (ĐCD). Xupáp nạp mở, xupáp xả đóng, không khí được hút từ ngoài qua bầu lọc, không khí đi vào chế hoà khí. Do cấu tạo của chế hoà khí hẹp lại thêm tốc độ không khí di qua lớn, tạo nên độ chân không lớn ở cổ hút gây ra sự chênh áp suất với buồng phao. Xăng được hút từ buồng phao qua giclơ chính vào họng hút, tại cây xăng gặp không khí di chuyển với tốc độ lớn được xé thành hạt nhỏ hoà trộn với không khí ở buồng hỗn hợp, thành hoà khí theo đường ống hút đi vào trong xilanh của động cơ theo thứ tự làm việc.

– Khi mức xăng trong buồng phao giảm, phao chìm xuống kéo, cho van kim ba cạnh đi xuống mở cho đường xăng vào bổ sung cho chế hoà khí. Khi xăng đã đến mức quy định, phao nổi lên và van kim ba cạnh đóng lỗ xăng vào. Nếu bướm ga mở càng lớn, không khí đi vào càng nhiều tốc độ không khí càng tăng, độ chân không ở cổ hút càng lớn xăng phun ra càng nhiều.

2.3. Nhược điểm của bộ chế hoà khí đơn giản

Bộ chế hoà khí đơn giản không đáp ứng được yêu cầu làm việc của động cơ, cụ thể là:

Khi chạy không: Bướm ga mở nhỏ, sức hút ở miệng vòi phun nhỏ, xăng phun ít hoặc không phun, do gió động cơ không chạy được.

– Nếu tính toán tiết diện giclơ làm việc ở tải trung bình, hỗn hợp giàu lên khi tăng tải (tăng độ mở bướm ga).

– Khì mở bướm ga đột ngột, không khí vào nhanh hơn nên hỗn hợp bị nghèo đi, tốc độ động cơ không tăng nhanh kịp thời.

– Khi khởi động, do vòng quay thấp sức hút yếu nên xăng phun vào ít, hỗn hợp nghèo khó khởi động.

Để khắc phục những nhược điểm của bộ chế hoà khí đơn giản, người ta thêm vào một số bộ phận phụ trợ để được một bộ chế hoà khí đáp ứng được yêu cầu làm việc của động cơ.

Bộ phận phụ trợ bao gồm năm mạch xăng cơ bản sau:

– Mạch xăng khởi động.

– Mạch xăng chạy không tải.

– Mạch xăng chạy nhanh, tải trọng trung bình còn gọi là hệ thống phun chính.

– Mạch xăng tăng tốc.

– Mạch xăng chạy công suất tối đa (làm dậm).

2.3.1. Hệ thống khởi động

hệ thống khởi động
Cấu tạo hệ thống khởi động

Khi khởi động động cơ, tốc độ thấp, số vòng quay của trục khuỷu nhỏ, sức hút của động cơ yếu, nhiệt độ của động cơ thấp, sự bay của xăng kém. Do đó, nhiệm vụ của hệ thống khởi động là cung cấp một hỗn hợp nhiên liệu phù hợp để động cơ khởi động dễ dàng.

Có hai hình thức khởi động đó là dùng bướm gió và dùng bộ khởi động riêng. Ở đây ta chỉ tìm hiểu về bộ khởi động dùng bướm gió

Trong hệ khởi động dùng bướm gió, xăng được phun ra từ lỗ phun không tải và lỗ phun chính. Ở trên bướm gió được lắp thêm van khí phụ.

Nguyên lý làm việc của hệ thống khởi động:

– Khi khởi động động cơ, người lái kéo tay bướm gió thông qua cần linh động, bướm gió đóng lại, bướm ga hé mở. Do sức hút của động cơ ở dưới bướm gió có độ chân không lớn, xăng được hút ra ở cả vòi phun chính và lỗ phun không tải tạo ra hỗn hợp đậm đặc để động cơ dễ khởi động.

– Khi động cơ đã bắt dầu làm việc, số vòng quay tăng, sức hút của động cơ lớn. Nếu bướm gió mở thì lúc này van khí phụ sẽ làm việc cung cấp thêm không khí vào động cơ để tránh tình trạng động cơ bị chết máy do thiếu không khí. Khi khởi động xong bướm gió lại mở hoàn toàn. tải.

2.3.2. Hệ thống không tải

hệ thống không tải
Cấu tạo hệ thống không tải

Hệ thống không tải có nhiệm vụ cung cấp hỗn hợp nhiên liệu cho động cơ làm việc ổn định ở chế độ chạy cầm chừng.

Hệ thống chạy không tải bao gồm: giclơ chạy không tải lắp sau giclo chính, giclo không khí rãnh không tải, lỗ phun không tải và vít điều chỉnh không tải.

Nguyên lý làm việc của hệ thống không:

– Khi động cơ làm việc ở chế độ chạy cầm chừng, không có phụ tải, lúc này bướm ga đóng gần kín, lượng không khí đi vào động cơ ít. Tại họng khuếch tán của bộ chế hoà khí độ chân không nhỏ, vòi phun chính không làm việc. Ở phía dưới bướm ga độ chân không rất lớn do sức hút của động cơ. Xăng sẽ được hút từ buồng phao qua giclơ chính, qua giclơ không tải đi vào rãnh không tải. Tại đây, xăng sẽ được hoà trộn với không khí đi từ ngoài vào qua giclơ không khí tạo thành hỗn hợp nhũ tương và dược phun ra ở lỗ phun không tải phía dưới bướm ga cung cấp hỗn hợp cho động cơ chạy ở chế độ không tải. Ở chế độ không tải, khi số vòng quay thấp chỉ có miệng phun phía dưới thực hiện phun nhiên liệu còn lỗ phía trên có tác dụng cung cấp thêm không khí vào hoà trộn với xăng tránh hỗn hợp quá đậm.

– Khi động cơ chuyển từ chế độ làm việc không tải sang có tải, bướm ga hé mở vượt qua lỗ phun chuyển tiếp. Độ chân không ở phía dưới bướm ga vẫn lớn nên cả hai lỗ phun đầu phun hỗn hợp làm cho nhiên liệu cung cấp cho động cơ tăng lên, động cơ từ từ tăng tốc độ và không bị chết máy.

– Tại lỗ phun phía dưới của hệ thống không tải có một vít để điều chỉnh lỗ phun. Khi vặn ra sẽ làm tăng lượng hỗn hợp không tải. 

2.3.3. Hệ thống làm đậm (bộ tiết kiệm)

Cấu tạo hệ thống làm đậm dẫn động cơ khí

Khi động cơ chạy toàn tải, bộ tiết kiệm có nhiệm vụ bổ sung thêm lượng xăng để làm đậm thêm hỗn hợp, đảm bảo cho động cơ phát ra công suất cực đại.

Việc dẫn động hệ thống làm đậm được thực hiện bằng hai cách: Dẫn động bằng chân không và dẫn động bằng cơ khí.

Cấu tạo hệ thống dẫn động bằng cơ khí bao gồm hệ thống cần điều khiển, cần nối, cần kéo, cần đẩy được lắp liên động với trục bướm ga ở phía đáy buồng phao có bố trí van tiết kiệm, lò xo van và giclơ bộ tiết kiệm. Giclơ bộ tiết kiệm có thể được lắp song song hoặc nối tiếp với giclơ chính.

Nguyên lý làm việc của hệ thống làm đậm:

– Khi động cơ, làm việc ở chế độ tải trung bình, bướm ga mở nửa chừng, lúc này van bộ tiết kiệm đóng, xăng được cung cấp vào chế hoà khí qua giclơ chính qua đường xăng chính đảm bảo cho động cơ làm việc ở chế độ tải trung bình.

– Khi động cơ làm việc ở chế độ toàn tải, bướm ga mở trên 80% qua hệ thống cần liên động đẩy cho van bộ làm đậm bổ sung thêm hỗn hợp nhiên liệu phun vào động cơ, đảm bảo cho động cơ làm việc ở chế độ toàn tải, phát huy được công suất cực đại.

2.3.4. Hệ thống làm đậm dẫn động bằng chân không

cấu tạo hệ thống làm đậm dẫn động chân không
Cấu tạo hệ thống làm đậm dẫn động chân không

Cấu tạo bao gồm: piston, xi lanh, cần đẩy, piston và cần dây được nối với nhau. piston chuyển động lên xuống trong xi lanh. Trên xi lanh có hai lỗ ở đỉnh, xi lanh thông với dưới bướm ga, lỗ dưới bướm ga thông với bầu lọc khí

Nguyên lý làm việc của hệ thống làm đậm dẫn động bằng chân không: Khi bướm ga mở chưa hết, độ chân không dưới bướm ga lớn thông qua đường ống chân không nối với xi lanh bộ làm dậm, làm cho buồng trên độ chân không lớn.

Piston đi lên thắng sức căng của lò xo làm cho lò xo bị ép lại, cần đẩy đi lên không tác động vào van làm đậm, lò xo van đẩy cho van đóng lại. Do vậy không có lượng xăng bổ sung vào đường xăng chính.

Khi bướm ga mở hết độ chân không ở dưới bướm ga nhỏ làm cho độ chân không ở buồng trên piston nhỏ không thắng được sức căng của lò xo không đẩy cần piston.

Lúc đó lò xo cần piston đẩy cho piston di xuống tác động vào dưới van làm đậm qua giclơ làm đậm đi vào vòi phun chính cung cấp thêm một lượng xăng để động cơ phát huy công suất.

2.3.5. Hệ thống tăng tốc

cấu tạo hệ thống tăng tốc
Cấu tạo hệ thống tăng tốc

Cấu tạo:

Cấu tạo hệ thống tăng tốc bao gồm 1 piston xi lanh. Van xăng vào có tác dụng cung cấp xăng cho cặp piston xi lanh. Trên xi lanh có một lỗ ăn thông với buồng phao để thoát năng lượng. Bộ phận dẫn động bao gồm cần nối, cần kéo thanh ngang, van trọng lượng dùng để tạo áp suất và đóng mở đường xăng ra.

Nguyên lý làm việc:

Khi động cơ tăng tốc, bướm ga mở đột ngột qua hệ thống cần liên động kéo cần ép đi xuống tác dụng một lực vào lò xo đẩy piston đi xuống nhanh tạo ra áp suất lớn trong xi lanh làm đóng van xăng vào, đẩy van trọng lượng mở ra, ép xăng theo đường xăng tăng tốc phun vào họng hút tạo hỗn hợp đậm đặc để động cơ tăng tốc thuận lợi không bị chết máy. Khi động cơ tăng tốc bướm ga mở từ từ, piston bơm tăng tốc đi xuống từ từ do đó không tạo ra áp suất đột ngột trong xi lanh nên van xăng vào đóng không kín, xăng trong xi lanh qua van xăng vào quay trở lại bầu phao.

2.3.6. Hệ thống định lượng chính

cấu tạo hệ thống định lượng chính điều chỉnh độ chân không sau giclơ chính
Cấu tạo hệ thống định lượng chính điều chỉnh độ chân không sau giclơ chính

Nguyên lý làm việc:

– Khi động cơ làm việc, mức xăng trong ống phun chính, trong ống không khí, và trong buồng phao đều bằng nhau, mức xăng này đều thấp hơn miệng ống phun chính một lượng. Khi động cơ làm việc ở chế độ tải nhỏ, bướm ga được mở nhỏ nên xăng được ra khỏi ống phun chính theo quy luật tương tự như trong chế hoà khí đơn giản. 

– Khi mức xăng trong ống không khí giảm, không khí bên ngoài lập tức đi qua giclơ không khí để thay thế chỗ trống. Trong giai đoạn này, lưu lượng không khí qua giclơ không khí còn nhỏ, nên áp suất trên bề mặt xăng trong ống không khí luôn cân bằng với áp suất khí trời. Vì vậy lưu lượng xăng di qua giclơ chính chỉ phụ thuộc độ chênh lệch giữa mức xăng trong buồng phao và ống không khí. 

– Khi độ chân không trong họng khuếch tán tăng lên đến một giá trị nào đó, xăng trong ống không khí được hạ đến mức độ thấp nhất, không khí từ bên ngoài vào qua giclơ không khí và chúng sẽ trộn lẫn với xăng tạo thành bọt xăng phun vào trong ống khuếch tán. 

– Sự hình thành bọt xăng trong ống phun ở khu vực sau giclo chính sẽ làm giảm độ chân không ở đây, dẫn đến lưu lượng xăng qua giclơ chính giảm và hỗn hợp nhiên liệu cung cấp nghèo đi.

3. Nguyên nhân hư hỏng bộ chế hòa khí 

3.1. Hỗn hợp đốt quá nghèo

Là hệ số không khí thực a > 1,2 làm cho động cơ giảm công suất, động cơ nóng, có hiện tượng nổ ở bộ chế hoà khí.

Nguyên nhân hỗn hợp quá nghèo:

– Mức xăng trong buồng phao quá thấp.

– Kẹt kim phao.

– Hư hỏng bơm xăng.

– Hở đường dẫn xăng, lọt không khí vào đường xăng. Một số bơm xăng có cốc lọc lắng bằng thuỷ tinh có thể nhìn thấy bọt trong xăng. Hở các gioăng đệm (hở đệm ống nạp và đường nạp, hở đệm bộ chế hoà khí và ống nạp, hở trục bướm ga…) làm cho không khí lọt vào xi lanh quá nhiều. Động cơ xăng có hỗn hợp nghèo rất khó khởi động.

3.2. Hỗn hợp quá giàu

Có hệ số không khí thừa a < 0,6; động cơ giảm công suất, nổ ở ống xả động cơ bị “sặc” xăng rất khó khởi động. 

Nguyên nhân hỗn hợp quá giàu:

– Mức xăng trong buồng phao quá cao là do kim phao bị hở, phao bị thủng.

– Bướm gió không mở được hoàn toàn do điều chỉnh không chính xác. 

– Các giclơ của bộ phận tiết kiệm cơ, tiết kiệm chân không, đường xăng bơm gia tốc bị hở, ngay cả số vòng quay trục cơ còn thấp đã cung cấp xăng quá nhiều. 

– Bơm xăng không tự điều chỉnh được xăng xuất, bơm xăng quá cao.

3.3. Động cơ không phát huy toàn bộ công suất

Động cơ làm việc bị nghẹt. Nguyên nhân:

– Động cơ không đủ nhiên liệu đốt vì mở bơm ga không được hoàn toàn. 

– Hệ thống tiết kiệm cơ khí, tiết kiệm chân không hoạt động không tốt.

Chủ yếu là tắc đường dẫn xăng kẹt xăng. 

– Tắt các Giclơ.

– Buồng phao thiếu xăng. 

3.4. Động cơ có tính gia tốc kém

Mở đột ngột bướm ga nhưng số vòng quay trục cơ tăng quá chậm. Hư hỏng chủ yếu là bơm gia tốc: 

– Tắc bộ phận phun gia tốc. 

– piston, xi lanh của bơm gia tốc hao mòn. 

– Tắc van nạp và van ngược bơm gia tốc. 

– Các đường dẫn xăng bị bẩn.

4. Quy trình tháo lắp, sửa chữa bộ chế hòa khí

Chú ý: trước khi sửa chữa các chi tiết trong bộ chế hoà khí cần tháo rời từng cụm chi tiết chính để kiểm tra và được dễ dàng trong việc bảo dưỡng, sửa chữa, làm sạch, lắp lại. Có cụm chỉ cần tháo lắp và điều chỉnh. Trước khi tháo cần cạo sạch các vết bẩn, dầu mỡ bám trên bề mặt ngoài của bộ chế hoà khí và các cụm chi tiết.

tháo rời của nắp bộ chế hòa khí trên động cơ Toyota, 1RZ, 2RZ
Tháo rời của nắp bộ chế hòa khí trên động cơ Toyota, 1RZ, 2RZ

4.1. Quy trình tháo bộ chế hòa khí

Bước 1: Dùng cờ lê dẹt và kìm mỏ nhọn tháo bầu lọc khí, tháo dây ga, dây le gió. Tháo giắc cắm, các van điện tử. Tháo các đường ống chân không và ống dẫn xăng.

Bước 2: Dùng tay công và tuýp 12,14 tháo bộ chế hòa khí ra khỏi động cơ. Tháo 4 đai ốc bắt chân bộ chế hòa khí, nhấc bộ chế hòa khí cùng gioăng đệm ra.

Bước 3: Dùng tuốc nơ vít 2 cạnh tháo các đầu dây điện khỏi giắc cắm. Dùng tuốc nơ vít đè vào nẫy hãm kéo đầu dây ra. Tháo dây điện ra khỏi kẹp.

Bước 4: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh và kìm mỏ nhọn tháo nắp bộ chế hòa khí, tháo cần nối khỏi cơ cấu mở bướm gió. Tháo cần nổi khỏi cam vòng quay không tải nhanh và lò xo. Tháo 5 vít bắt thân và nắp bộ chế hòa khí. Tháo tấm thanh hãm số 1, giá đỡ số 2 và thanh giữ số 3. Nhấc cụm nắp bộ chế hòa khí cùng đệm ra ngoài.

Bước 5: Tháo phao và van kim 3 cạnh. Tháo chốt phao và phao rồi lấy van kim ra.

Bước 6: Dùng tuốc nơ vít 2 cạnh hoặc cờ lê dẹt 12 tháo đế van kim và lấy đệm ra.

Bước 7: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, panh kẹp tháo piston làm đậm. Nới lỏng vít hãm, lấy ngón tay giữ piston, tay kia xoay đệm hãm. Lấy piston và lò xo ra.

Bước 8: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh tháo van thông hơi, van xăng, van 3 vít bắt, đệm hơi.

Bước 9: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh tháo cơ cấu mở bướm gió, vít giữ và nhấc cơ cấu mở bướm gió ra. Tháo chốt chẻ.

Bước 10: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh tháo cuộn sưởi điều khiển bướm gió. Tháo 2 vít và giá bắt. Tháo 3 vít, vòng kẹp, đệm.

Bước 11: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh và kìm mỏ nhọn tháo cơ cấu chống sặc xăng loại màng kép. Tháo vít, nắp màng chân không ngoài, lò xo và thân giữa. Tháo vòng hãm chữ E, chốt chặn đề lò xo và nâng chân không ra.

Bước 12: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh tháo hộp giảm chấn bướm ga. Tháo 2 vít và nẫy hộp ra.

Bước 13: Dùng tuốc nơ vít phù hợp và cờ lê dẹt tháo các giclơ và van làm đậm. Tháo giclơ không tải, giclơ chính thứ cấp. Tháo bu lông và đệm. Tháo giclơ chính sơ cấp và đệm.

Bước 14: Tháo họng khuếch tán nhỏ thứ cấp. Tháo 2 vít, tháo họng nhỏ thứ cấp và đệm.

Bước 15: Dùng cờ lê dẹt tháo van điện tử, khóa xăng ra.

Bước 16: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh tháo chân không bướm ga thứ cấp. Tháo lò xo, tháo 2 vít bắt, tháo cần nối và lấy hộp chân không ra.

Bước 17: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, panh kẹp tháo bơm tăng tốc: Tháo 4 vít bơm, lấy màng chân không và lò xo ra.

Bước 18: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh tháo bơm tăng tốc phụ: Tháo 3 vít bắt, lấy nắp bơm, lò xo và màng chân không ra.

Bước 19: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh tháo cửa quan sát mức xăng (cửa sổ). Tháo 2 vít, lấy cửa quan sát mặt kính và vòng đệm ra.

Bước 20: Dùng tuýp và tay còng tháo 3 vít. Tách thân và đế bộ chế hòa khí. Lấy đệm cách nhiệt ra.

4.2. Quy trình sửa chữa bộ chế hòa khí

tháo rời bộ chế hòa khí trên động cơ Toyota, 1RZ, 2RZ
Tháo rời bộ chế hòa khí trên động cơ Toyota, 1RZ, 2RZ

4.2.1. Sửa lỗi cụm họng hút

– Gồm bướm gió, trục vào các cơ cấu dẫn động, định vị bướm gió. Một số bộ chế hoà khí có lắp cơ cấu phao ở họng hút.

– Nếu trục bướm gió không mòn, còn vận hành được thì không cần tháo. Lắc trục lên xuống được chứng tỏ trục mòn phải cần thay.

– Van tự động trên bướm gió nếu bị vênh phải thay thế, mòn có thể rà lại với ổ, lò xo yếu cần thay.

– Bị móp bẹp thì phải nắn lại bằng cách cho phao xăng vào nước và đun sôi cho phao xăng phồng lên.

Chú ý: Nếu phao rò rỉ, lỗ nhỏ có thể hàn lại bằng thiếc, phải hàn thật mỏng, đảm bảo trọng lượng. Phao không được tăng quá 5 đến 6% so với lúc ban đầu.

4.2.2. Sửa lỗi bộ van kim

– Dùng miệng hút vào đường xăng, để kiểm tra xem van có đóng kín không. Nếu bị hở thì dùng bột rà để rà lại đến khi nào kín thì thôi. 

– Lắp bộ van kim vào bộ chế hoà khí để kiểm tra lại mức xăng xem có phù hợp không. Nếu không đúng ta điều chỉnh lại. Thay họng hút nếu bị nứt vỡ, vênh dẫn đến hở nhất là ở các vị trí tiếp giáp áp có đệm.

Thay bướm gió: Tháo nó khỏi trục bướm. Khi lắp lại vào trục lưu ý hưởng của mặt bướm gió, trên có nắp van thông khí tự động cần lắp đúng sao cho lượng không khí từ ngoài qua van, vào họng hút. Nỗi lò xo thanh nổi bướm gió.

Thay bướm ga: Bướm ga và trục nếu thay cũng tiến hành giống như bướm gió.

4.2.3. Sửa lỗi phao xăng

– Lắc phao để kiểm tra có lỗ thủng hay không, nếu có tiếng xăng bên trong phao, cần thay phao mới.

– Kiểm tra xem phao xăng có bị ngấm xăng vào hay không. Nếu bị ngấm xăng thì phải lấy hết xăng ra bằng cách: Khoan một lỗ nhỏ lấy hết xăng ra rồi hàn lại bằng thiếc. Khi hàn phải chú ý hàn thật mỏng, nếu hàn dày sẽ tăng trọng lượng của phao. Mặt khác, trọng lượng không được tăng quá 5 đến 6% so với lúc ban đầu. Nếu phao xăng không đúng kiểm tra điều chỉnh lại.

– Thay đổi các căn đệm ở đế van kim để chỉnh mức xăng trong bổng phao đúng quy định.

– Thay đổi chiều cao của lưỡi gà phao để được mức xăng cho phù hợp với tiêu chuẩn (Mức xăng cao quá ta bẻ lưỡi cựa gà đi xuống hoặc ngược lại). 

4.2.4. Sửa chữa van điện từ cắt xăng

– Dùng đồng hồ vạn năng để kiểm tra đứt, kiểm tra chạm mát với vỏ, điện trở của van điện từ cắt xăng (Trị số khoảng 25Q2). Nếu không đúng tiêu chuẩn thì thay mới.

– Hoặc nguồn điện một chiều để kiểm tra sự đóng mở của nó, nếu van đóng mở sẽ có tiếng kêu lách cách.

– Thay gioăng chữ Q.

4.2.5. Sửa chữa công tắc trí bướm ga

– Kiểm tra: Tháo đầu dây của công tắc nối với đồng hồ vạn năng, đầu còn lại của đồng hồ với vỏ chế. Khi đẩy cần nối vào mà không thông mạch nên thay mới.

4.2.6. Kiểm tra và sửa chữa giclơ

– Thông rửa và làm sạch các giclơ, nếu bị tắc thì có thể dùng dây đồng hồ có đường kính nhỏ hơn để thông (tốt nhất là dùng dung dịch chuyên dùng để thông, rửa các đường ống trong chế hoà khí).

– Nếu lỗ giclơ quá lớn thì khoan rộng ra rồi nút đóng lại sau đó khoan lỗ theo kích thước tiêu chuẩn.

4.2.7. Điều chỉnh mức xăng trong buồng phao 

kiểm tra mức xăng trong buồng phao
Kiểm tra mức xăng trong buồng phao

Kiểm tra:

– Quan sát mức xăng trong buồng phao thông qua cửa sổ kiểm tra. Mức xăng phải ở vị trí quy định (mức xăng ở khoảng giữa cửa sổ kiểm tra).

– Nếu không có lỗ kiểm tra, ta dùng một ống chữ U để kiểm tra. Vận hành động cơ cho chạy ở chế độ không tải mức xăng phải đúng quy định cho từng loại.

– Một số loại xe mức xăng được kiểm tra thông qua chiều cao phao xăng khi ta lật ngửa bộ chế hoà khí lên. (động cơ 4A-FE: Mức phao cao 7.2 mm).

Điều chỉnh:

– Mức xăng trong buồng phao được điều chỉnh bằng cách uốn lưỡi gà lên hoặc xuống hay thay đổi đệm ở ổ đặt kim ba cạnh.

– Nếu mức xăng trong buồng phao thiếu thì ta uốn lưỡi gà xuống hoặc bot dem.

– Nếu mức xăng trong buồng phao thừa thì ta thực hiện ngược lại.

4.2.8. Điều chỉnh tốc độ không tải

Điều kiện khi điều chỉnh:

– Các thiết bị như điều hòa nhiệt độ, đèn pha, sấy kính, tay lái để ở vị trí chạy thẳng (với hệ thống lái có trợ lực)

– Góc đánh lửa điều chỉnh đúng.

– Tay số ở vị trí số 0 (với loại MT) hoặc với số N (với loại AT).

– Nhiệt độ động cơ đạt giá trị định mức.

– Mức xăng trong buồng phao đúng quy định.

– Bướm gió mở hoàn toàn.

– Bầu lọc gió tốt (không bị tắc)

– Các hệ thống khác làm việc bình thường.

Cách điều chỉnh:

– Để điều chỉnh tốc độ không tải, ta điều chỉnh thông qua vít điều chỉnh hỗn hợp và vít định vị bướm ga.

– Vặn vít hỗn hợp vào hết và vặn ngược ra 1,5 đến 2 vòng. Vặn vít định vị bướm ga 1 đến 2 vòng (tính từ khi vít tác dụng vào cam ga)

– Khởi động động cơ cho chạy đến khi đạt nhiệt độ định mức. 

– Nới vít định vị bướm ga cho số vòng quay giảm xuống nhỏ nhất, động cơ làm việc không rung giật, ổn định.

– Vặn vít hỗn hợp ra và tìm một vị trí thích hợp nhất động cơ chạy đều ổn định (mỗi lần nới ra 1/4 đến 1/8 vòng).

– Tiếp tục vặn vít định vị bướm ga để tốc độ động cơ giảm xuống nhỏ nhất. 

– Cứ như vậy kết hợp điều chỉnh đến khi tốc độ động cơ đạt 650 đến 700 vòng/phút (với số cơ khí) và 750 đến 800 vòng /phút (với số tự động). 

– Vù ga vài lần nếu động cơ chạy không chết máy là được.

4.3. Quy trình lắp bộ chế hòa khí

Bước 1: Dùng tuýp và tay công lắp thân và đế bộ chế hòa khí. Lắp đệm cách nhiệt và đế bộ chế hòa khí vào thân. Lắp 3 vít cố định.

Bước 2: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh lắp cửa quan sát mức xăng. Lắp đệm làm kín và mặt kính. Lắp 2 vít cố định.

Bước 3: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, panh kẹp lắp bơm tăng tốc phụ. Lắp màng bơm, lò xo và nắp bơm. Bắt 3 vít cố định.

Bước 4: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh lắp bơm tăng tốc, lắp lò xo, màng bơm, nắp bơm. Bắt 4 vít cố định.

Bước 5: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh lắp cần nối, bắt chặt hộp chân không bướm ga thứ cấp. Lắp lò xo hồi vị.

Bước 6: Dùng cờ lê dẹt lắp van điện tử cắt xăng. Lắp vòng đệm vào van điện tử. Lắp van và đệm vào thân chế hòa khí.

Bước 7: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, kìm mỏ nhọn lắp họng khuếch tán nhỏ thứ cấp. Lắp đệm vào họng khuếch tán. Bắt 2 vít cố định.

Bước 8: Dùng tuốc nơ vít 2 cạnh lắp, cờ lê dẹt các giclơ và van làm đậm. Lắp giclơ chính thứ cấp, giclơ chính sơ cấp, lắp lò xo van làm đậm. Lắp bu lông và nút vào đệm. Lắp giclơ chính chạy không tải.

Bước 9: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh lắp hộp giảm chấn bướm ga vào thân chế hòa khí bằng 2 vít.

Bước 10: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, kìm mỏ nhọn lắp cơ cấu mở bướm gió. Loại màng kép: Lắp màng chân không trong, để lò xo vòng hãm chữ E. Lắp thân lò xo màng chân không ngoài và nắp. Bắt 3 vít cố định.

Bước 11: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, kìm mỏ nhọn lắp cuộn sưởi điều khiển bướm gió tự động. Lắp vòng đệm, làm chùng đầu lò xo lưỡng kim và đầu cần đẩy. Lắp cuộn sưởi vào cho vạch trên vỏ bộ chế hòa khí và vạch trên nắp cuộn sưởi trùng nhau. Lắp 3 vít vào cùng với vạch kẹp.

Bước 12: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh lắp cơ cấu mở bướm gió, bắt các vít cố định.

Bước 13: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh lắp van thông hơi xăng cùng đệm vào. Bắt 3 vít cố định.

Bước 14: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, panh kẹp lắp piston làm đậm, lắp lò xo và piston vào lỗ. Đặt đệm hãm vào và lắp vít hãm cố định vào.

Bước 15: Dùng tuốc nơ vít 2 cạnh lắp đế van kim cùng đệm đường xăng vào.

Bước 16: Dùng kìm mỏ nhọn lắp van kim và van xăng. Lắp lò xo và chốt vào van kim, lấy dây lò xo kẹp lại, lắp cùng van kim vào phần lưỡi gà của phao. Lắp phao vào vị trí và cài chốt phao.

Bước 17: Dùng tuốc nơ vít 4 cạnh, kìm mỏ nhọn lắp nắp chế hòa khí: lắp thanh đỡ, tấm bảng số. Lắp 5 vít cố định. Lắp lò xo. Nối các cần nối, lò xo vào cơ cấu mở bướm gió cụm vòng quay không tải nhanh. Kẹp lại đường dây điện.

Bước 18: Dùng tuốc nơ vít 2 cạnh nối các dây dẫn vào giắc cắm. Đưa các dây dẫn vào ổ giắc cắm và cài lại.

Bước 19: Dùng khẩu tuýp và tay công lắp chế hòa khí lên cổ hút: Đặt đệm làm kín lên cổ hút. Lắp đai ốc bắt chân chế hòa khí.

Bước 20: Dùng kìm mỏ nhọn, cờ lê dẹt lắp ống dẫn xăng. Lắp các đường ống chân không. Lắp dây ga, dây le gió. Lắp bầu lọc không khí, lắp giắc cắm rời vào các van điện tử.

4.4. Quy trình bảo dưỡng bộ chế hòa khí

– Dùng cacbontetraclorua để làm sạch các chi tiết. Chú ý tránh hít phải cacbontetraclorua sẽ rất nguy hiểm cho con người.

– Dùng cồn, xăng, dầu hoả để làm sạch các chi tiết nhưng phải cẩn thận vì các chất này rất dễ cháy.

– Có thể dùng các loại máy rửa tuỳ thuộc vào khối lượng công việc. Quá trình rửa cần loại bỏ hết các vết bẩn, dầu mỡ bám trên các bề mặt chi tiết, các bụi bẩn cặn lắng, keo, để dễ phát hiện các vết ăn mòn, hư hỏng của bộ chế hoà khí.

– Các chi tiết bằng da, màng, phi kim, gioăng đệm chỉ được rửa bằng xăng.

Ngâm tất cả các chi tiết gang, thép trong dung dịch rửa với thời gian dù để làm mềm ngoại vật.

– Đặt tất cả các chi tiết cần làm sạch trong rổ và treo nó trong dung dịch làm sạch để các cặn bẩn lắng hết xuống đáy thùng rửa. Sau đó rung các chi tiết cần rửa trong thùng rửa.

– Sau khi ngâm đủ thời gian chải các chi tiết bằng bàn chải mềm, không dùng bàn chải sắt, dũa hay các vật sắc để cạo chi tiết.

– Nhúng các chi tiết vào nước nóng để tẩy sạch các vết bám và dung dich rua.

– Sau khi rửa thì thổi khô các chi tiết bằng khí nén.

Chú ý:

– Không lau các chi tiết bằng vải.

– Không dùng dây thép để thông rửa giclơ vì sẽ làm rộng lỗ giclơ.

– Các mũi khoan có đường kính tiêu chuẩn có thể dùng để làm sạch và đo khi cần thiết.

Xem thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :