Home / Ô Tô / Quy trình sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống phanh ô tô thường xuyên

Quy trình sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống phanh ô tô thường xuyên

/

Hướng dẫn bảo dưỡng hệ thống phanh ô tô có bộ điều hòa lực phanh hoặc có trợ lực chân không thường xuyên đúng kỹ thuật.

bảo dưỡng hệ thống phanh ô tô thường xuyên

1. Kiểm tra những lỗi hỏng hệ thống phanh ô tô thường gặp

1.1. Với hệ thống phanh có bộ điều hòa lực phanh

Tiến hành kiểm tra áp suất chất lỏng sau bộ điều hòa. Sử dụng các đồng hồ đo có trị số lớn nhất đến 100kG/cm2. Việc đo được tiến hành nhờ tháo các đường ống dẫn dầu ra các cầu, lắp vào đó các đồng hồ đo áp suất, xả không khí trong hệ thống và bổ sung đủ dầu phanh. 

Khi đo, đạp phanh và theo dõi sự tăng áp suất dầu và xác định áp suất đường dầu ra cầu sau trên bộ điều chỉnh lực phanh ở hai trạng thái:

– Tương ứng mức độ bàn đạp chân phanh nhỏ, khi bệ điều hòa chưa thực hiện điều chỉnh (với áp suất nhỏ), áp suất dẫn ra cầu sau và cầu trước là như nhau. 

– Tương ứng với mức độ bàn đạp chân phanh lớn, khi bộ điều hòa thực hiện điều chỉnh (với áp suất cao), áp suất dẫn ra cầu sau thấp hơn áp suất dẫn ra cầu trước.

Khi bộ điều hòa có một đường dẫn dầu ra cầu sau chỉ cần dùng một đồng hồ đo áp suất ra cầu sau. Việc đánh giá kết quả tùy thuộc vào thông số chuẩn do nhà chế tạo quy định và bảng số liệu dùng để đối chiếu cho trong bảng (đối với một ô tô con). 

Nhờ việc đo áp suất có thể xác định khả năng làm việc của bộ điều hòa trên ô tô. Các thông số kiểm tra áp suất của bộ điều hòa trên các xe cùng loại có thể không giống nhau, vì vậy công việc này cần có tài liệu cụ thể. Xem thêm cách kiểm tra hệ thống phanh ô tô chẩn đoán lỗi kỹ thuật nhanh.

Số liệu kiểm tra sự làm việc của bộ điều hòa lực phanh:

Áp suất sau xilanh chínhÁp suất ra cầu sau
15 kG/cm2 (213psi = 1,471kPa)15 kG/cm2 (213psi = 1,471kPa)
80kG/cm2 (1138psi = 7,854kPa)39 kG/cm2 (555psi = 3,825kPa)

1.2. Với hệ thống phanh có trợ lực chân không

Các hư hỏng xuất hiện trong hệ thống trợ lực:

– Hỏng van một chiều nối giữa nguồn chân không và xilanh trợ lực.

– Van mở trợ lực bị mòn, nát, hở

– Màng cao su bị thủng.

– Hệ thống bị hở.

– Dầu phanh lọt vào xilanh.

– Tắc, bẹp do sự cố bất thường.

Nguồn chân không bị hỏng (trên động cơ phun xăng, hay động cơ điêzen). Các biểu hiện xuất hiện như sau:

Rò rỉ dầu phanh khu vực bộ cường hóa.

– Lực trên bàn đạp tăng cao.

– Hành trình tự do của bàn đạp bị giảm nhỏ.

– Hiệu quả cường hóa không còn.

2. Phương pháp kiểm tra

– Nổ máy đạp phanh ba lần đạt được hành trình đồng nhất.

– Khi động cơ không làm việc, đo hành trình tự do, đặt chân lên bàn đạp phanh, giữ nguyên chân trên bàn đạp, nổ máy, bàn đạp phanh có xu hướng thụt xuống một đoạn nhỏ nữa chứng tỏ hệ thống cường hóa làm việc tốt, nếu không hệ thống có hư hỏng.

– Đo lực đặt trên bàn đạp tới khi đạt giá trị lớn nhất, so với giá trị tiêu chuẩn, khi lực bàn đạp lớn chứng tỏ hệ thống có hư hỏng ở phần nguồn chân không (máy hút chân không hỏng, hở đường ống chân không tới xilanh cường hóa) hay van một chiều. Khi lực bàn đạp tăng quá cao chứng tỏ hệ thống cường hóa bị mất hiệu quả.

– Khi làm việc có hiện tượng mất cảm giác tại bàn đạp phanh: có giai đoạn quá nặng hay quá nhẹ (hẫng chân phanh) chứng tỏ van cường hóa sai lệch vị trí hoặc hỏng (mòn, hở, nát đế van bằng cao su).

– Khi phanh có hiện tượng mất hết cảm giác tại bàn đạp phanh, muốn rà phanh mà không được, chứng tỏ van một chiều bị kẹt, vị trí van cường hóa bị sai lệch.

– Trên động cơ xăng có chế hòa khí khi bị hở đường chân không, có thể dẫn tới không nổ máy được, hay động cơ không có khả năng chạy chậm. 

– Hệ cường hóa làm việc tốt khi dừng xe, tắt máy, hiệu quả cường hóa còn duy trì được trong 2, 3 lần đạp phanh tiếp theo. Xem thêm cấu tạo, nguyên lý vận hành hệ thống phanh ABS.

3. Đối với hệ thống phanh khí nén

3.1. Hư hỏng chung

Hệ thống phanh khí nén ngoài việc đo đạc các thông số chung ở trên còn cần thiết phải:

– Xác định sự rò rỉ khí nén trước và sau van phân phối.

– Tắc đường ống dẫn.

– Kẹt các van làm mất hiệu quả dẫn khí.

– Hư hỏng các gioăng đệm, màng xilanh.

– Bơm khí nén không đủ khả năng làm việc.

Kiểm tra:

– Cho động cơ làm việc, chờ hệ thống khí nén làm việc đủ áp suất yêu cầu trong khoảng (5,5 – 8,0)kg/cm2, sau đó:

– Kiểm tra sự rò rỉ qua việc xuất hiện tiếng khí nén lọt qua khe hở hẹp trước và sau lúc đạp phanh.

– Kiểm tra sự hoạt động của các cơ cấu cam quay tại khu vực bánh xe. 

– Độ kín khít của hệ thống có thể phát hiện lúc dừng xe, tắt máy, đồng hồ chỉ thị áp suất phải duy trì được áp suất trong một thời gian dài nhất định, khi có hiện tượng tụt nhanh áp suất chứng tỏ hệ thống bị rò, kể cả khi hệ phanh tay liên động qua hệ khí nén.

3.2. Máy nén khí

Các hư hỏng trong máy nén khí là:

Mòn buồng nén khí: xéc măng, piston, xilanh. Mòn, hở van một chiều. Mòn hỏng bộ bạc, hoặc bi trục khuỷu.

– Thiết bị bôi trơn.

– Chùng dây đai.

– Kẹt van điều áp hệ thống.

Kiểm tra:

– Kiểm tra điều chỉnh độ chùng của dây đai kéo bơm hơi. Xác định lượng và chất lượng bôi trơn.

– Áp suất khí nén thấp do kẹt van hoặc máy nén khí bị mòn, hỏng.

– Thường xuyên xả nước và dầu tại bình tích lũy khí nén, theo dõi lượng dầu xả ra để xem xét khả năng làm việc của máy nén, nếu lượng dầu nhiều quá mức thì cần tiến hành kiểm tra chất lượng của máy nén khí. Khi tiến hành phanh liên tục 3 lần độ giảm áp suất cho phép không được vượt quá (0,8-1,0)kg/cm2 (xem trên đồng hồ đo áp suất của ô tô), tương ứng với động cơ làm việc ở chế độ chạy không tải.

– Nghe tiếng gõ trong quá trình bơm hơi làm việc.

– Trên hệ thống phanh có dòng phanh cho rơ mooc việc xác định cũng như trên, song khối lượng công việc tăng lên nhiều. Xem thêm phanh tay ô tô là gì? cấu tạo, nguyên lý làm việc như thế nào?

4. Đối với hệ thống phanh thủy lực khí nén

Trên ô tô tải thường sử dụng hệ thống phanh thủy lực khí nén: cơ cấu phanh làm việc nhờ thủy lực, điều khiển nhờ khí nén.

Khi chẩn đoán cần tiến hành các công việc cho hệ thống phanh thủy lực và các công việc cho phần hệ thống phanh khí nén. Ngoài ra, còn cần tiến hành các công việc sau:

4.1. Kiểm tra áp lực khi nén sau van phân phối p (kG/cm2) tương ứng với các vị trí góc bàn đạp phanh

Phương pháp đánh giá chất lượng hệ thống điều khiển tại van phân phối
Phương pháp đánh giá chất lượng hệ thống điều khiển tại van phân phối

– Lắp đồng hồ đo áp suất khí nén vào đầu vào của xilanh khí nén. Đồng hồ đo có giá trị đo lớn nhất tới 10kG/cm2.

– Nổ máy cho động cơ làm việc ổn định, áp suất khí nén đạt giá trị 7,0 kG/cm2.

– Dùng thước đo chiều cao hay thước đo độ đo vị trí bàn đạp phanh, tương ứng với các góc cho trong bảng, ghi lại giá trị áp suất chỉ thị trên đồng hồ. Nếu các giá trị đo được nằm trong vùng của hai đường đậm thì van phân phối và hệ thống thủy lực làm việc tốt. Nếu nằm ngoài cần tiến hành xem xét tiếp chất lượng của van phân phối và hệ thống.

4.2. Kiểm tra áp lực thủy lực sau xilanh chính p (kG/cm2) tương ứng với các vị trí góc bàn đạp phanh

Phương pháp đánh giá chất lượng hệ thống điều khiển tại xilanh khí nén và thủy lực
Phương pháp đánh giá chất lượng hệ thống điều khiển tại xilanh khí nén và thủy lực

– Lắp đồng hồ đo áp suất khí nén vào đầu ra của van phân phối. Đồng hồ đo có giá trị đo lớn nhất tới 10kG/cm2.

– Nổ máy cho động cơ làm việc tới nhiệt độ ổn định, áp suất khí nén đạt giá trị 7,0 kG/cm2.

– Dùng đồng hồ đo áp suất thủy lực lắp ở đầu ra. Xả không khí trong hệ thống sau đó vặn chặt đồng hồ đo.

– Đạp bàn đạp theo mức độ phanh nhẹ, theo dõi đồng hồ đo áp suất thủy lực, nhận rõ trạng thái áp suất thủy lực bắt đầu gia tăng, xác định giá trị áp suất khí nén.

– Đạp bàn đạp theo mức độ chế độ phanh ngặt, theo dõi đồng hồ đo áp suất thủy lực, đồng hồ đo áp suất khí nén, xác định áp suất khí nén cực đại và áp suất thủy lực cực đại. Tham khảo thêm cách chẩn đoán, sửa chữa dẫn động phanh thủy lực ô tô định kỳ đúng kỹ thuật.

4.3. Kết quả được xem xét theo kết cấu

– Với loại van phân phối không chênh áp suất thủy lực giữa cầu trước và cầu sau (loại I).

– Với loại van phân phối chênh áp suất thủy lực giữa cầu trước và cầu sau (loại II).

5. Sửa chữa hệ thống phanh khí nén

5.1. Máy nén khí

Hư hỏng máy nén khí: nứt mòn rỗ trục khuỷu, vòng bi, xilanh, piston, puly và các van.

Kiểm tra: dùng panme, thước cặp, đồng hồ so để đo độ mòn của trục khuỷu, vòng bi, xilanh, piston, xéc măng, puly và dùng kính phóng đại để kiểm tra các vết nứt, rỗ và so với tiêu chuẩn kỹ thuật.

Sửa chữa các chi tiết của máy nén khí cũng giống như sửa chữa các chi tiết của động cơ.

5.2. Van an toàn và van điều chỉnh áp suất

Hư hỏng chính của van an toàn và van điều chỉnh áp suất: kẹt, nứt, mòn, cháy rỗ bề mặt tiếp xúc, gioăng làm kín và lò xo.

Kiểm tra: dùng thước để kiểm tra độ mòn, hỏng, nứt vỡ của các chi tiết và so với tiêu chuẩn kỹ thuật.

Sửa chữa các chi tiết của van an toàn và van điều chỉnh áp suất bị kẹt thì bảo dưỡng lại, nếu bị hỏng thay thế các chi tiết đúng loại.

5.3. Bình chứa và ống dẫn khí nén

Hư hỏng: bình chứa và các ống dẫn khí nén bị nứt rỉ, thủng, bẹp đường ống dẫn khí nén, cháy hỏng ren ở các khớp nối làm hở khí ra ngoài.

Kiểm tra: dùng kính phóng đại, khí nén và nước xà phòng để kiểm tra và quan sát các vết nứt, thủng của các chi tiết

Sửa chữa các ống dẫn khí bằng nhựa, ống mềm:

+ Thay ống dẫn mới, bằng thép, đồng hàn lại,

+ Các ren, cút nối bị trờn hàn đắp và gia công lại hoặc thay mới.

+ Bình chứa khí nén rỉ sâu 0,5 mm cần phải thay mới.

5.4. Bàn đạp và ty đẩy

Hư hỏng: bàn đạp và ty đẩy bị cong, nứt và mòn lỗ, chốt của ty đẩy. 

Kiểm tra: dùng thước cặp đo độ mòn của lỗ, chốt. Dùng kính phóng đại để kiểm tra các vết nứt bên ngoài của bàn đạp và ty đẩy. 

Sửa chữa bàn đạp phanh, ty đẩy bị mòn lỗ và chốt xoay có thể hàn đắp gia công lại, bị cong thì nắn lại hết cong.

5.5. Van phân phối

Hư hỏng chính của van phân phối là

+ Kẹt, hở, kênh các van làm mất hiệu quả dẫn khí.

+ Nát hỏng các gioăng làm kín, màng cao su. 

+ Sai lệch vị trí làm việc.

+ Lò xo yếu, gãy.

Kiểm tra:

+ Quan sát bằng mắt các hư hỏng.

+ Dùng khí nén để kiểm tra: cho khí nén vào đường vào (cửa A).

  • Tháo ống dẫn khí đến bầu phanh bánh, không đạp phanh mà có khí thoát ra ở cửa đến bầu phanh bánh (cửa B) và đường xả (cửa C) là hở, kênh hoặc hỏng van nạp.
  • Lắp đường dẫn khí đến bầu phanh bánh và đạp phanh, nếu có khí thoát ra ở cửa C là hở bề mặt tiếp xúc giữa piston và van nạp (dùng nước xà phòng hoặc dùng tay để kiểm tra rò rỉ khí). 

Sửa chữa:

+ Nếu dẫn động phanh bị kẹt, hở tháo dẫn động phanh và bảo dưỡng lại.

+ Các gioăng làm kín, màng cao su bị hỏng thay mới.

+ Các van bị mòn ít thì dùng giấy nhám mịn để lên mặt kính, rà lại. Mòn nhiều thì thay van mới.

+ Lò xo yếu, gãy thay mới.

5.6. Hư hỏng của cơ cấu phanh

Hư hỏng:

+ Cụm bầu phanh bánh xe (bát phanh):

  • Thủng các bát cao su.
  • Gãy lò xo hồi vị các bát cao su.
  • Sai lệch vị trí làm việc.

+ Các cụm quay cơ cấu phanh:

  • Bó kẹt các cơ cấu do va chạm hay khô mỡ bôi trơn, mòn bạc và trục cam phanh.
  • Sai lệch vị trí liên kết.
  • Mòn mất biên dạng cam.

+ Trống phanh và guốc phanh, bu lông lệch tâm.

Kiểm tra:

+ Cụm bầu phanh bánh xe (bát phanh):

  • Cho động cơ nổ máy tới áp suất khí nén làm việc, đạp phanh và kiểm tra xem có sự rò rỉ khí nén trên đường ống và cụm bầu phanh bánh xe không, nếu có khí nén thoát ra ở lỗ thông khí của cụm bầu phanh bánh là thủng màng cao su.
  • Cơ cấu phanh guốc cam quay có bầu phanh tích năng và tự động điều chỉnh khe hở má phanh tang trống.
  • Cơ cấu phanh loại này dùng phổ biến trên xe buýt, xe tải hiện đại, khi kiểm tra chất lượng cần phải tiến hành cho động cơ nổ máy tới áp suất khí nén làm việc, mở van phanh tay, rồi mới xác định khả năng lăn trơn của bánh xe. 

+ Các cụm quay cơ cấu phanh:

  • Xoay trục vít 3 xem có hiện tượng bó kẹt không.
  • Dùng thước đo để kiểm tra độ mòn của trục 5, bạc và cam tác động, chốt và lỗ chốt của cần đẩy.

Sửa chữa:

+ Cụm bầu phanh bánh xe (bát phanh)

  • Màng cao su bị thủng thay màng cao su mới. 
  • Lò xo cụm bầu phanh bánh bị yếu, gãy thay lò xo mới.

+ Các cụm quay cơ cấu phanh: cam tác động, trục, chốt và lỗ lắp chốt mòn có thể hàn đắp rồi mài theo đúng kích thước, hình dạng tiêu chuẩn, bạc mòn hỏng tiện hoặc thay bạc mới.

5.7. Điều chỉnh khe hở giữa trống phanh và má phanh

Điều chỉnh khe hở phía dưới giữa má phanh và tang trống: điều chỉnh khe hở phía dưới tiến hành độc lập cho từng má phanh nhờ quay đầu bulông 7 sẽ xoay chốt lệch tâm 8 làm thay đổi khe hở phía dưới giữa má phanh và tang trống.

Kết cấu cơ cấu phanh khí nén
Kết cấu cơ cấu phanh khí nén

Điều chỉnh khe hở phía trên giữa má phanh và tang trống: xoay trục vít 2, ren vít 3 quay, làm vành răng 4 quay, làm cho trục cam lắp then hoa với then phía trong của vành răng quay làm cam 5 xoay đi một góc, hoặc đẩy hai guốc phanh đi ra (giảm khe hở) hoặc làm hai guốc sát vào (tăng khe hở).

Điều chỉnh phanh bánh xe dẫn động khí nén
Điều chỉnh phanh bánh xe dẫn động khí nén

Với cơ cấu phanh hơi không thể điều chỉnh độc lập từng má phanh cho nên yêu cầu độ mòn của hai má phanh của cùng một cơ cấu phanh phải như nhau mới có khe hở giữa má phanh và tang trống như nhau khi điều chỉnh.

Thông thường khi điều chỉnh khe hở người ta tiến hành theo kinh nghiệm:

– Kích cầu lên.

Quay bánh xe, ta tiến hành điều chỉnh: vặn chặt chốt lệch tâm để bánh xe ngừng quay sau đó nới ra từ từ để bánh xe quay được và không chạm sát má phanh là được, tiến hành điều chỉnh chốt lệch tâm của má phanh bên kia cũng tương tự.

Tiến hành điều chỉnh khe hở phía trên nhờ cam lệch tâm hoặc trục vít quay cam phanh cũng tương tự như điều chỉnh khe hở phía dưới. 

5.8. Kiểm tra điều chỉnh các bộ phận của máy nén khí

Van điều chỉnh áp suất
Van điều chỉnh áp suất

– Kiểm tra, điều chỉnh độ căng của dây đai dẫn động máy nén khí. 

– Kiểm tra, điều chỉnh van điều chỉnh áp suất: khi thấy áp suất trong hệ thống phanh (trên đồng hồ báo) bị giảm không bảo đảm thì ta phải tiến hành chỉnh lại sức căng lò xo của van điều chỉnh áp suất:

+ Vặn vào chụp có ren 1 để tăng sức căng lò xo 2, sẽ tăng được áp suất trong bình chứa. Khi điều chỉnh phải so sánh với áp suất lớn nhất cho phép trong bình chứa.

+ Kiểm tra độ kín các mặt phân cách của van phân phối và bầu phanh bánh xe, các đầu nối bằng cách bôi nước xà phòng và quan sát.

+ Kiểm tra áp suất lớn nhất ở bầu phanh bánh xe khi phanh có thể quan sát trên đồng hồ đo áp suất của bầu phanh bánh xe, hoặc dùng đồng hồ đo áp suất nối với đường khí nén vào bầu phanh (với loại không có đồng hồ chỉ thị trên ca bin). Khi đạp phanh và giữ nguyên chân phanh áp lực khoảng (45) kG/cm2.

Xem thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :