Home / Ô Tô / Quy trình làm sạch, kiểm tra chi tiết bộ phận máy

Quy trình làm sạch, kiểm tra chi tiết bộ phận máy

/

Vệ sinh, làm sạch các chi tiết máy là công việc rất quan trọng cần phải giúp cho quá trình kiểm tra chính xác, đánh giá đúng tình trạng kỹ thuật.

Làm sạch, kiểm tra chi tiết bộ phận máy

1. Phương pháp làm sạch chi tiết máy là gì?

Công việc rửa các chi tiết nhằm nâng cao chất lượng sửa chữa, lắp ráp, kiểm tu chính xác, mặt khác qua đó có thể đánh giá trình độ của xưởng. Vì chất lượng rửa ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sửa chữa, lắp ráp, cũng như tuổi thọ của chi tiết máy.

Hiện nay, có những phương pháp làm sạch chi tiết máy như: cơ học, thuỷ lực, hoá, hoá nhiệt, điện hoá và siêu âm. Việc loại bỏ các cặn bẩn ra khỏi chi tiết có thể phải sử dụng đến dung dịch xút hoặc chất tẩy rửa đặc biệt. Tuỳ theo từng loại cặn bẩn mà ta dùng phương pháp và hoá chất để rửa. 

2. Phân loại phương pháp làm sạch chi tiết máy

2.1. Phương pháp làm sạch cặn nước

Các cặn nước bám vào chi tiết máy thường là các cặn vôi. Nếu chi tiết tháo rời được, ta có thể dùng phương pháp cạo rửa hoặc phun cát để làm sạch chi tiết. Đối với chi tiết, cụm máy không tháo rời được như áo nước của động cơ hoặc két mát thường dùng phương pháp hoá học để rửa. Dùng dung dịch hoá chất hâm nóng 100 – 120°C, ngâm chi tiết vào dung dịch 2 – 3 giờ rồi rửa lại bằng nước lã sạch.

Hóa chất rửa chi tiết bằng gang, thép và nhôm %:

2.2. Phương pháp làm sạch cặn dầu

Nước và dung dịch xút dùng để rửa lớp cặn bám vào bề mặt ngoài của máy. Dùng dung dịch xút 1-2% để rửa bề mặt chi tiết có lẫn dâu – loại nhiên liệu còn cặn bẩn được rửa bằng các tia nước nóng 70 – 80°C.

Cần phải dùng các chất hoạt tính bề mặt để nâng cao khả năng thấm ướt và khuếch tán của các chất dầu mỡ vô cơ không bị phân giải dưới tác dụng của dung dịch kiềm và không hòa tan trong nước.

Hoá chất của các chi tiết bằng gang, thép có dầu:

Tên hoá chấtHợp chất IHợp chất IIHợp chất III
Xút (NaOH)2.5102.5
Cacbonat natri (Na2CO3)3.53.1
Thuỷ tinh lỏng (Na2SiO3)0.251.0
Xà phòng gặt0.850.80
Kalicrommua (K2CrO7)0.50.50

2.3. Phương pháp làm sạch muội than

2.3.1. Làm sạch bằng thủ công

– Dùng bàn chải cạo sạch muội than bám vào máy sau đó rửa bằng dầu diesel, rửa song phun nước sạch rồi dùng khí nén thổi khô.

– Rửa bằng hoá chất: hoá chất dùng để rửa muội than chi tiết làm bằng gang và thép gồm 5 lít nước pha thêm 25g xút (NaOH), 25g cacbonat natri (Na2CO3), 53g thuỷ tinh lỏng (Na2SiO3) và 25g xà phòng giặt. Đun dung dịch lên 80 – 85°C, ngâm chi tiết 2-3 giờ, rồi vớt chi tiết ra rửa bằng nước lã, rồi dùng khí nén thổi khô.

Có thể làm sạch muội than bằng cách: phun cát rồi rửa sạch lại bằng nước lã sạch.

2.3.2. Phương pháp nhiệt

Được ứng dụng để làm sạch các chi tiết nhiều muội than và bám chắc vào bề mặt chi tiết. Chi tiết cần làm sạch được đưa vào trong lò có nhiệt độ từ 600 – 700°C giữ từ 2 – 3 giờ, sau đó làm nguội chậm cùng với lò.

2.3.3. Phương pháp siêu âm

Dao động siêu âm được phát ra từ nguồn qua chất lỏng tới bề mặt cần làm sạch với tần số f = 20 – 25KHz. Dưới tác dụng của sóng siêu âm lớp muội than bị phá huỷ sau thời gian từ 2 – 3 phút. Tốc độ và chất lượng làm sạch siêu âm phụ thuộc vào hoạt tính hoá học của dung dịch rửa.

Ứng dụng: rửa bộ chế hoà khí, bơm nhiên liệu. 

3. Phương pháp kiểm tra chi tiết máy là gì?

Kiểm tra chi tiết máy có thể kiểm tra bằng trực giác, bằng phương pháp đo, phương pháp vật lý, phương pháp hoá học hoặc các phương pháp khác để nhận biết, đánh giá mức độ hư hỏng của chi tiết. Tùy theo từng loại chi tiết, từng loại hư hỏng và yêu cầu của mức độ đánh giá để chọn dụng cụ đo và phương pháp đo cho phù hợp.

3.1. Kiểm tra bằng trực giác

Kiểm tra chi tiết bằng mắt quan sát, bằng tay sờ… để nhận biết hư hỏng của chi tiết. Phương pháp này có ưu điểm nhận biết nhanh nhưng không xác định được chính xác mức độ hư hỏng nên thường áp dụng cho kiểm tra sơ bộ.

3.2. Kiểm tra bằng phương pháp đo

Sử dụng để kiểm tra các chi tiết bằng các dụng cụ đo như thước lá, panme, đồng hồ so, thước cặp, dưỡng… Tùy theo từng loại hư hỏng, từng loại chi tiết và yêu cầu mức độ kiểm tra để chọn dụng cụ kiểm tra phù hợp. Ví dụ kiểm tra độ côn, độ ôvan của cổ trục cơ thường sử dụng thước panme để đo. 

– Đo độ côn, độ ôvan của xilanh sử dụng đồng hồ sơ và panme để kiểm tra.

– Đo các trục yêu cầu chính xác thấp có thể dùng thước cặp để đo.

Phương pháp đo xác định được mức độ hư hỏng chính xác nên phương pháp này được sử dụng nhiều trong thực tế. Nhược điểm của phương pháp này không kiểm tra các hư hỏng như vết nứt tế vi, các khuyết tật bên trong chi tiết. 

Sau đây là cấu tạo một số dụng cụ đo:

3.2.1. Panme

Đây là loại dụng cụ được dùng khá phổ biến trong ngành chế tạo cơ khí, có độ chính xác cao.

a. Cấu tạo: Panme có cấu tạo gồm hai phần: phần cố định và phân di động.

– Phần cố định (hay còn gọi là phần thân thước chính) trên có hai dãy vạch chia xen kẽ nhau tạo thành thân thước thẳng chỉ phần nguyên hoặc 1/2 của mm khi đo. Phần cố định gồm có mỏ cố định và phân thân thước.

– Phần động bao gồm mỏ động và vòng du tiêu. Trên vòng du tiêu có 50 vạch chia chỉ phần lẻ của kích thước đo được. Khi du tiêu quay được 1 vòng thì mỏ động tịnh tiến được 0,5mm.

b. Phương pháp đo: Tay trái cầm vào thân thước cong để đỡ lấy thước, tay phải điều chỉnh mỏ động nhờ vít điều chỉnh. Khi quay vít điều chỉnh theo ngược chiều kim đồng hồ thì mỏ động di chuyển xa dần mỏ tĩnh. Khi quay vít cùng chiều kim đồng hồ thì mỏ động tiến sát vào mỏ tĩnh. Đưa chi tiết vào giữa hai mỏ của thước, ta xoay núm vặn theo cùng chiều kim đồng hồ cho tới khi mỏ động áp sát vào chi tiết đo. Khi nghe có tiếng kêu phát từ cơ cấu cóc thì dừng lại và lấy thước ra để đọc trị số.

c. Cách đọc trị số:

– Phần nguyên của kích thước đo được đọc trên du xích thân thước chính. Giá trị đọc được là mm và 1/2 của mm. Ví dụ trường hợp 1 là 6mm, trường hợp 2 là 48.5mm.

– Số % của mm được đọc trên thân thước vòng (du tiêu vòng) và được tính như sau: xét vạch nào trên du tiêu vòng trùng vạch trên thân thước thẳng thì giá trị đọc được chính là phần lẻ của kích thước đo. Ví dụ trường hợp 1 là 0.15mm, trường hợp 2 là 0.45mm. Cộng kết quả 2 lần đọc lại được kích thước của chi tiết cần đo. Ví dụ trường hợp 1 là 6 + 0.15 = 6.15mm, trường hợp 2 là 48.5 + 0.45 = 48.95mm.

3.2.2. Thước cặp

Dùng để đo các chi tiết có độ chính xác cao và được sử dụng khá phổ biến trong ngành cơ khí. Thước cặp có thể đo được các kích thước bên trong, bên ngoài và độ sâu của chi tiết gia công.

a. Cấu tạo:

– Thân thước chính (phần tĩnh) gồm có 2 mỏ tĩnh và thân thước thẳng trên có khắc các vạch chia chỉ kích thước cơ bản của thước (mm).

– Thân thước phụ (phần động) gồm có mỏ động và du tiêu. Trên du tiêu có khắc các vạch chia độ chính xác của thước khi đo (hay còn gọi là phân lẻ của kích thước khi đo).

b. Thao tác đo bằng thước cặp:

– Kiểm tra trước: dùng ngón tay cái đẩy phân động sao cho mỏ tĩnh áp sát vào mỏ động, sau đó kiểm tra khe hở ánh sáng giữa hai mỏ đo. Khe hở giữa hai mỏ phải đều và hợp đồng thời vạch 0 trên du tiêu và vạch 0 trên thân thước chính trùng nhau.

– Nới lỏng vít hãm, tay trái cầm chi tiết đo, tay phải cầm thước. Di chuyển du tiêu cho tới khi 2 mỏ tĩnh và mỏ động áp sát vào chi tiết đo. Xiết chặt vít hãm lại, lấy thước ra và đọc trị số. 

c. Đọc trị số trên thước:

– Xét xem vạch 0 trên du tiêu trùng hoặc liền sau vạch thứ bao nhiêu trên thân thước chính. Kết quả đó chính là phần chẵn của kích thước đo được. Nhìn xem vạch nào trên du tiêu trùng với 1 vạch nào đó trên thân thước chính thì kết quả đọc được trên du tiêu chính là phần lẻ của kích thước đo được. Cộng kết quả của 2 lần đọc lại ta được kích thước của chi tiết cân đo ví dụ trị số đo: 35 + 0.4 = 35.40.

3.2.3. Đồng hồ so

Là dụng cụ chỉ thị thông dụng được dùng trong các gá lắp đo lường kiểm tra để chỉ ra các sai lệch khi đo. Dùng để đo đường kính, xác định độ côn, ovan của lỗ, đo độ dơ, cong của các cổ trục.

a. Cấu tạo:

– Đồng hồ so thông thường có hai loại là một vòng số và loại hai vòng số. Loại hai vòng số: vòng ngoài thông thường được chia làm 100 vạch mỗi vạch 0,01mm. Vòng trong mỗi vạch là 1mm. Nghĩa là kim quay được 1 vòng ngoài thì kim của vòng trong quay 1 vạch. 

Loại một vòng số: có kết cấu tương tự như loại hai vòng, số chỉ khác là không có mặt hiển thị trong chỉ số mm.

Cách sử dụng:

– Cả hai loại đồng hồ trên mặt hiển thị đều có kim chỉ thị nếu dịch chuyển 1 vạch là 0,01mm.

– Lắp đồng hồ với tay đo và chọn đoạn thước phù hợp với kích thước của lỗ đo lắp vào đồng hồ.

– Nghiêng thước đút vào vị trí cần đo của lỗ, điều chỉnh cho kim đồng hồ chỉ về 0 rồi lắc ngang đồng hồ. Quan sát kim hiển thị nếu ở vị trí cao nhất đó là đường kính của lỗ đo.

– Muốn biết kích thước thực của lỗ thì lấy kích thước của đoạn nối rồi cộng hoặc trừ số chỉ ở đồng hồ.

3.3. Kiểm tra bằng phương pháp vật lý

Là việc sử dụng các phương pháp vật lý để kiểm tra phát hiện các khuyết tật bên trong hoặc ở bề mặt vật kiểm mà không làm tổn hại đến khả năng sử dụng của chúng. 

Viết tắt từ chữ “Nondestructive Evaluation“. Còn gọi là kiểm tra không phá hủy dùng để phát hiện các khuyết tật như là nứt, rỗ, xỉ, tách lớp, hàn không ngấu, không thấu trong các mối hàn,… kiểm tra độ cứng của vật liệu, kiểm tra (trong cọc khoan nhồi), đo bề dày vật liệu trong trường hợp không tiếp xúc được hai mặt (thường ứng dụng trong tàu thủy), đo cốt thép (trong các công trình xây dựng).

Kiểm tra không phá hủy có rất nhiều phương pháp, có hai nhóm phương pháp đó là:

Các phương pháp kiểm tra không phá hủy thông dụng:

– Phương pháp kiểm tra bằng mắt (VT).

– Phương pháp chụp ảnh phóng xạ (RT).

– Phương pháp siêu âm (UT).

– Phương pháp hạt từ (MT).

– Phương pháp thẩm thấu (PT)

Phương pháp thẩm thấu lỏng được dựa trên hiện tượng mao dẫn gồm các bước:

– Làm sạch bề mặt vật kiểm, khi đó các chất bẩn sẽ được loại bỏ và không che lấp những khuyết tật hở ra bề mặt.

– Xịt một lớp chất thẩm thấu lên bề mặt, lớp chất thẩm thấu này sẽ đi vào và nằm trong các khuyết tật hở bề mặt. Có hai loại chất thẩm thấu đó là chất thẩm thấu khả kiến (có màu nhìn thấy được dưới ánh sáng thường) và chất thẩm thấu (chỉ nhìn thấy khi chiếu ánh sáng đèn).

– Chờ một thời gian để chất thẩm thấu đi sâu vào khuyết tật.

– Làm sạch chất tham dự trên bề mặt bằng chất tẩy rửa. Trong bước này không được xịt trực tiếp chất tẩy rửa lên bề mặt vật kiểm tránh trường hợp chất thẩm thấu trong khuyết tật cũng bị lau sạch.

– Áp chất hiện lên bề mặt vật kiểm. Chất hiện có tác dụng hút chất thẩm thấu đọng lại ở trong khuyết tật lên bề mặt vật kiểm nhờ hiện tượng mao dẫn ngược.

– Dựa trên tính chất nhìn thấy (nhuộm màu, hay nhìn thấy dưới ánh sáng cực tím) thì người ta có thể phát hiện và đánh giá khuyết tật.

– Sau khi đánh giá khuyết tật, ta sử dụng chất tẩy rửa làm sạch vật kiểm. Phương pháp thẩm thấu lỏng chỉ áp dụng để kiểm tra những khuyết tật mở ra bề mặt. Phương pháp có thể áp dụng cho tất cả các loại vật liệu trừ vật liệu xốp và vật liệu có bề mặt thô rám. Đây là một trong những phương pháp kiểm tra không phá hủy đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả.

Ưu điểm của phương pháp kiểm tra vật lý:

– Không làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng của vật kiểm sau này.

– Có thể kiểm tra tất cả các vật kiểm.

– Kiểm tra các chi tiết không cần tháo, vẫn ở trong dây truyền sản xuất.

– Khi áp dụng phương pháp kiểm tra vật lý, ta có thể dễ dàng phát hiện những khuyết tật, từ đó sửa chữa khắc phục sai sót. Do đó, công trình khi hoàn thành sẽ có các chi tiết sai hỏng thấp nhất.

Nhược điểm phương pháp này: khó thực hiện, giá thành cao, thường áp dụng cho các công trình lớn.

3.4. Kiểm tra bằng phương pháp khác

– Phương pháp dòng xoay (FT).

– Phương pháp chụp ảnh nơtron.

– Phương pháp vi sóng, bức xạ âm.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :