Home / Ô Tô / Hệ thống bôi trơn ô tô là gì: công dụng, sơ đồ, sửa chữa lỗi

Hệ thống bôi trơn ô tô là gì: công dụng, sơ đồ, sửa chữa lỗi

/

Hệ thống bôi trơn ô tô có nhiệm vụ liên tục cung cấp dầu bôi trơn đến bề mặt ma sát của các chi tiết để giảm tiêu hao năng lượng do ma sát, chống mài mòn do cơ học và mài mòn do hoá học.

hệ thống bôi trơn ô tô là gì

1. Công dụng của hệ thống bôi trơn ô tô

Hệ thống bôi trơn ô tô có nhiệm vụ liên tục cung cấp dầu bôi trơn đến bề mặt ma sát của các chi tiết để giảm tiêu hao năng lượng do ma sát, chống mài mòn do cơ học và mài mòn do hoá học, rửa sạch các bề mặt do mài mòn gây ra, làm nguội bề mặt ma sát, tăng cường sự kín khít của khe hở.

Bề mặt các chi tiết dù được gia công chính xác với độ bóng đến đâu song vẫn tồn tại những nhấp nhô bề mặt (nhấp nhô tế vi) do mũi dao khi gia công tạo ra, nếu nhìn bằng kính phóng đại nhiều lần ta thấy những nhấp nhô tế vị có dạng răng cưa. 

Khi hai chi tiết tiếp xúc với nhau, nhất là khi chúng chuyển động tương đối trên bề mặt của nhau sẽ sinh ra một lực cản rất lớn (lực ma sát). Lực ma sát là nguyên nhân gây ra sự cản trở chuyển động bề mặt các chi tiết sinh nhiệt, là nguyên nhân của sự mài mòn và biến chất bề mặt. 

Do đó bằng một cách nào đó ta chống lại lực ma sát này. Để giảm lực ma sát ta tạo ra một lớp dầu ngăn giữa hai bề mặt ngăn cách, ma sát kiểu này gọi là ma sát ướt. Trong thực tế rất khó tạo được một lớp dầu ngăn cách hoàn chỉnh do nhiều yếu tố tạo nên (do độ nhớt dầu, sự biến chất phá hủy dầu do khe hở giữa hai bề mặt ma sát…), những vị trí hai bề mặt ma sát trực tiếp, tiếp xúc với nhau, ma sát kiểu này là ma sát nửa ướt. Một số cặp chi tiết lớp dầu bôi trơn chỉ được tạo một màng rất mỏng dễ phá huỷ (sụt áp) đó là ma sát giới hạn.

2. Phân loại hệ thống bôi trơn ô tô

2.1. Bôi trơn đơn giản (pha dầu trong nhiên liệu)

Bằng cách pha dầu bôi trơn trong nhiên liệu lợi dụng nạp nhiên liệu vào động cơ ô tô, do dầu bôi trơn có khả năng dính bám cao và không bị phân huỷ ở nhiệt độ cao nên có những hạt dầu bôi trơn được giữ lại trên các bề mặt ma sát.

Cách thứ nhất: xăng và dầu được hòa trộn trước.

Cách thứ hai: dầu và xăng chứa ở hai thùng riêng rẽ trên động cơ. Trong quá trình làm việc, dầu và xăng được hòa trộn song song, tức là dầu và xăng được trộn theo định lượng khi ra khỏi thùng chứa.

Một cách hoà trộn khác là dùng bơm phun dầu trực tiếp vào họng khuếch tán hay vị trí bướm ga. Bơm được điều chỉnh theo tốc độ số vòng quay của động và vị trí bướm ga nên định lượng dầu hoà trộn rất chính xác và có thể tối ưu hoá ở các chế độ tốc độ và tải trọng khác nhau.

Kiểu bôi trơn này đơn giản, không có hệ thống bôi trơn riêng, do đó phù hợp hay được sử dụng bôi trơn cho những động cơ xăng hai kỳ công suất nhỏ.

2.2. Bôi trơn vung té

Lợi dụng tính dính bám của dầu bôi trơn, sự làm việc của các chi tiết chuyển động với tốc độ cao, do đó hay sử dụng để bôi trơn cho xilanh của động cơ, con đội… nhờ sự quay của má khuỷu.

2.3. Bôi trơn cưỡng bức

Dùng áp lực nhất định đưa dầu bôi trơn đến các vị trí bôi trơn vung té. Kiểu này có ưu điểm là đưa dầu bôi trơn đến mọi vị trí cần thiết nên được sử dụng nhiều. Thông thường, tuỳ theo vị trí chứa dầu, hệ thống bôi trơn cưỡng bức chia thành hai loại: hệ thống bôi trơn cưỡng bức các-te ướt và hệ thống bôi trơn cưỡng bức các-te khô.

3. Một số thông số sử dụng của dầu bôi trơn

3.1. Chỉ số SAE

Đây là chỉ số phân loại dầu theo độ nhớt ở 100°C và -18° của Hiệp hội kỹ sư ô tô Hoa Kỳ. Chỉ số SAE cho biết cấp độ nhớt chia thành hai loại: 

– Loại đơn cấp là loại chỉ có một chỉ số độ nhớt. Ví dụ: SAE- 40, SAE- 50, SAE- 20W. Cấp độ nhớt có chữ W (Winter: mùa đông) dựa trên cơ sở độ nhớt ở nhiệt độ thấp tối đa, còn cấp độ nhớt không có chữ W chỉ dựa trên cơ sở độ nhớt ở 100°C.

– Loại đa cấp là loại có hai chỉ số độ nhớt như SAE- 20W/50, ở nhiệt độ thấp có cấp độ nhớt giống như loại đơn cấp SAE- 20W, còn ở nhiệt độ cao có cấp độ nhớt cùng với loại đơn cấp SAE- 50. Dầu có chỉ số độ nhớt đa cấp có phạm vi nhiệt độ môi trường sử dụng rộng hơn so với loại đơn cấp.

3.2. Chỉ số API

API là chỉ số đánh giá chất lượng dầu nhớt của Viện hoá dâu Hoa Kỳ. Chỉ số API cho biết chất lượng dầu nhớt khác nhau theo chủng loại động cơ, chia làm hai loại:

– Dầu chuyên dụng là loại dầu chỉ dùng cho một trong hai loại động cơ xăng hoặc diesel. Ví dụ, hai loại dầu API- SH và API- CE, chữ số thứ nhất sau dấu “-” để chỉ loại động cơ: S- cho động cơ xăng, C- động cơ diesel, chữ số thứ hai chỉ cấp chất lượng dầu tăng dần theo thứ tự chữ cái.

– Dầu đa dụng cơ là loại dầu bôi trơn có thể dùng cho tất cả các loại động. Ví dụ, dầu có chỉ số API-SG/CD có nghĩa dùng cho động cơ xăng với cấp chất lượng G, còn dùng cho động cơ diesel với cấp chất lượng D. Chỉ số cho động cơ nào (S hay C) viết trước dau 7 có nghĩa tu tiên dùng cho động cơ đó. 

4. Hệ thống bôi trơn cưỡng bức

4.1. Hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te ướt

4.2.1. Sơ đồ cấu tạo

Sơ đồ hoạt động của hệ thống bôi trơn ô tô
Sơ đồ hoạt động của hệ thống bôi trơn ô tô

Toàn bộ lượng dầu của hệ thống bôi trơn được chứa trong các te của động cơ. Van an toàn 4 là van tràn có tác dụng khống chế áp suất dầu sau bơm. Khi bầu lọc bị tắc, van an toàn 6 của bầu lọc thô sẽ mở, phần lớn dần sẽ không qua lọc thô lên thẳng đường dầu chính đi bôi trơn, tránh hiện tượng thiếu dầu cung cấp đến các bề mặt cần bôi trơn. Khi nhiệt độ dầu lên cao quá, do độ nhớt giảm, van khống chế lưu lượng 13 sẽ đóng hoàn toàn để dầu qua két làm mát rồi lại trở về các te.

4.2.2. Nguyên lý hoạt động hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te ướt

Dầu bôi trơn được hút từ các te qua lưới lọc sơ đẩy lên bình lọc nhờ bơm dầu qua bình lọc, dầu được làm mát nhờ két làm mát dầu và đi vào đường dẫn dầu chính, từ đây dầu được dẫn đi đến bôi trơn các cổ chính của trục khuỷu, cổ chính trục cam, dầu từ cổ trục chính trục khuỷu được dẫn tới bôi trơn cổ khuỷu nhờ rãnh khoan xiên, cũng từ đường dầu chính có đường dẫn dầu đi bôi trơn cho trục đòn gánh trích dầu bôi trơn cho hộp bánh răng phân phối.

Bôi trơn cho piston, xilanh, vòng găng bôi trơn và làm mát piston nhờ sự vung té của dầu má khuỷu hoặc dùng vòi phun dầu (ở một số động cơ), bôi trơn giản đũa đẩy, xupap, con đội nhờ dầu thừa từ trục đòn gánh đưa xuống.

4.2. Hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te khô

Hệ thống bôi trơn các te khô
Hệ thống bôi trơn các te khô

Hệ thống bôi trơn các te khô khác cơ bản với hệ thống bôi trơn các te ướt ở chỗ nó có thêm một đến hai bơm làm nhiệm vụ chuyển dầu từ các te (sau khi dầu bôi trơn rơi xuống các te) qua két làm mát 13 ra thùng chứa 3 bên ngoài các te động cơ. Từ đây, dầu được bơm lấy đi bôi trơn giống như ở hệ thống bôi trơn các te ướt. Hệ thống bôi trơn các te khô cấu tạo phức tạp hơn hệ thống bôi trơn các te ướt vì có thêm bơm chuyển, nên thường được sử dụng cho động cơ diesel lắp trên máy ủi, máy kéo.

5. Các bộ phận của hệ thống bôi trơn ô tô

5.1. Bơm dầu 

5.1.1. Nhiệm vụ bơm dầu

Tạo áp suất cho dầu bôi trơn để đưa dầu bôi trơn từ các te lên bình lọc một cách tuần hoàn và liên tục. 

5.1.2. Phân loại bơm dầu

– Bơm dầu kiểu bánh răng (bánh răng ăn khớp trong và bánh răng ăn khớp ngoài).

– Bơm dầu kiểu cánh gạt.

5.1.3. Bơm dầu kiểu bánh răng

a. Cấu tạo:

Bơm dầu bánh răng ăn khớp ngoài gồm có cặp bánh răng ăn khớp 3; 4 đặt trong thân 8 và nắp 2, bánh răng chủ động 4 gắn chặt trên trục quay 5. Trục quay 5 quay trên bạc đồng ép trên thân và nắp, một đầu trục 5 thò ra ngoài để lắp bánh răng dẫn động 1.

Bánh răng bị động 3 quay tròn trên trục 6 lắp cố định với thân. Trên thân có đường ống hút 8 và đường ống đẩy 11 thân bơm có mặt bích để bắt bơm vào thân động cơ. Chốt 13 dùng để định vị chính xác vị trí lắp bánh răng 1 với bánh răng của trục khuỷu.

Bơm dầu bánh răng ăn khớp ngoài
Bơm dầu bánh răng ăn khớp ngoài

Đa số các bơm dầu có cấu tạo tương tự như nhau chỉ khác nhau ở hình dáng, kích thước, cách bố trí nhận truyền động và áp suất, lưu lượng bơm.

Dưới đây là sơ đồ cấu tạo của bơm dầu bánh răng ăn khớp trong, cấu tạo gồm có bánh răng chủ động gắn chặt với trục phía đầu trục gắn bánh răng truyền động, hoặc bên trong bánh răng chủ động có dạng hình vuông ăn khớp với trục khuỷu (một số động cơ), còn bánh răng bị động quay tròn trong vỏ bơm, cặp bánh răng này lắp bên trong thân bơm, trên thân bơm chế tạo rãnh dẫn dầu vào dẫn dầu ra, tại đường dẫn đầu vào có lắp ống hút và lưới lọc dầu, đường dầu ra lắp bình lọc, trên thân có bố trí van xả dầu.

Bơm dầu bánh răng ăn khớp trong
Bơm dầu bánh răng ăn khớp trong

b. Nguyên lý hoạt động của bơm bánh răng:

Hoạt động của bơm bánh răng ăn khớp ngoài: Khi trục khuỷu quay qua bộ phận truyền động (cặp bánh răng, trục truyền, bánh răng chủ động quay kéo bánh răng bị động quay theo (như hình vẽ) ở vùng A do các răng ra khớp tạo nên khoảng trống dầu được hút từ đáy vào bơm, đồng thời dầu trong các khe răng được chuyển sang vùng B. Ở vùng B các răng vào khớp ép dầu lên ống đẩy các quá trình hút – chuyển đẩy dầu liên tục xảy ra. Khi cặp răng thứ nhất còn chưa hết ăn khớp thì cặp thứ hai đã vào khớp tạo ra khoảng kín chứa đầy dầu. Khi áp suất trong mạch dầu lớn hơn quy định thì van xả mở giảm tải cho bơm.

Sơ đồ làm việc của bơm dầu kiểu bánh răng ăn khớp ngoài
Sơ đồ làm việc của bơm dầu kiểu bánh răng ăn khớp ngoài

Hoạt động của bơm bánh răng ăn khớp trong: Khi trục khuỷu quay qua bộ phận truyền động bánh răng chủ động quay kéo bánh răng bị động quay theo (như hình vẽ) ở phía đường hút khe hở răng giữa bánh răng chủ động và bánh răng bị động luôn có xu hướng mở rộng nên dầu được hút vào bơm, đồng thời dầu trong các khe răng được chuyển sang đường đẩy ở đường đầy khe hở giữa hai bánh răng thu hẹp dần nên đẩy dầu đi bôi trơn.

Sơ đồ làm việc của bơm dầu kiểu bánh răng ăn khớp trong
Sơ đồ làm việc của bơm dầu kiểu bánh răng ăn khớp trong

5.1.4. Bơm cánh gạt

Roto 5 lắp lệch tâm với thân bơm 1, có các rãnh lắp các chiến trượt 3. Khi roto quay, do lực li tâm và lực ép của lò xo 7, phiến trượt 3 luôn tỳ sát bề mặt vỏ bơm tạo thành các không gian kín và do đó guồng dầu từ đường dầu áp suất thấp 2 sang đường dầu áp suất cao 4. Bơm cánh gạt có ưu điểm rất đơn giản, nhỏ gọn nhưng đồng thời cũng có nhược điểm là mài mòn tiếp xúc giữa cánh gạt và thân bơm rất nhanh.

Bơm dầu kiểu cánh gạt
Bơm dầu kiểu cánh gạt

5.2. Két làm mát dầu

5.2.1. Nhiệm vụ két làm mát dầu

Hạ thấp nhiệt độ của dầu tới mức quy định, vị trí của két làm mát dầu thường trước két làm mát nước của hệ thống làm mát.

Két làm mát dầu của động cơ
Két làm mát dầu của động cơ

5.2.2. Cấu tạo két làm mát dầu

Gồm 3 phần: Dầu nóng được đưa đến khoang vào từ đó nhờ áp suất đẩy dầu đến khoang ra dầu qua các ống dẫn được thu mất nhiệt nhờ các cánh tản nhiệt.

5.3. Bộ làm mát dầu

Ngày nay, ở một số động cơ hiện đại, thay két làm mát dầu bằng trang bị bộ làm mát dầu để duy trì đặc tính bôi trơn. Thông thường, toàn bộ dầu đều chảy qua bộ làm mát rồi sau đó đi đến các bộ phận của động cơ. ở thấp, dầu có độ nhớt cao hơn và có khuynh hướng tạo ra áp suất cao hơn. Khi chênh lệch áp suất giữa đầu vào và đầu ra của bộ làm mát vượt quá một trị số xác định, van an toàn sẽ mở, và dầu từ máy bơm sẽ bỏ qua bộ làm mát và đi | tới các bộ phận khác của động cơ, nhờ thế mà tránh được sự cố.

Bộ làm mát dầu
Bộ làm mát dầu

5.4. Các loại van

5.4.1. Cấu tạo

Các van có cấu tạo tương tự như nhau, nó gồm chính là đế van, viên bị hoặc piston van, lò xo van. 

Sơ đồ nguyên lý của các loại van
Sơ đồ nguyên lý của các loại van

5.4.2. Nguyên lý hoạt động

Nếu áp suất dầu bôi trơn lớn quá dễ gây phá hỏng hệ thống bôi trơn (nứt vỡ đường ống dẫn), rất dễ gây phá hỏng màng dầu bôi trơn, nếu áp suất nhỏ quá sẽ không đủ lượng dầu đưa đến khe hẹp cũng khó hình thành màng dầu bôi trơn do đó cần giữ cho áp suất của hệ thống bôi trơn tương đối ổn định, áp suất dầu bôi trơn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như số vòng quay của động cơ, hao mòn bơm, độ thông của bình lọc, nhiệt độ của dầu,… 

Trong hệ thống bôi trơn ô tô, để duy trì áp suất dầu bôi trơn đúng quy định, người ta thường dùng các van sau: Van xả về: có tác dụng bảo vệ cho bơm dầu và đảm bảo an toàn cho đường ống, bình lọc. Van xả về đặt ở đường ống đẩy của bơm và được ăn thông với đường ống hút của bơm khi van mở.

Van điều hoà áp suất: giữ ổn định áp suất đường dầu chính không cho vượt quá giới hạn bảo vệ hệ thống bôi trơn. Nếu áp suất trên đường dầu chính mà vượt quá giới hạn van điều hoà áp suất sẽ mở thông đường dầu chính với thùng và đưa dầu từ đường dầu chính trở về thùng.

Van nhiệt: đặt song song với két làm mát. Khi động cơ làm việc lúc nhiệt độ còn thấp, do độ nhớt của dầu cao làm lực cản của két làm mát tăng lên. Khi lực cản vượt quá độ chênh lệch áp suất đã được điều chỉnh bởi lò xo – van sẽ mở. Dầu không qua két làm mát mà vào luôn mạch dầu chính.

Van an toàn: có tác dụng tăng sự an toàn cho hệ thống bôi trơn ô tô khi các bình lọc bị tắc, van an toàn mở cho dầu bôi trơn đi trực tiếp từ đường vào và dường ra của bình lọc. Van an toàn được lắp song song với bình lọc giữa đường vào và đường ra

5.5. Lọc dầu

5.5.1. Nhiệm vụ bộ phận lọc dầu

Lọc những tạp chất cơ học khỏi dầu bôi trơn. 

5.5.2. Phân loại lọc dầu

Theo mức độ lọc: có lọc thô (sơ), tinh.

Theo phương pháp tách cặn: có lọc lắng, lọc thấm và lọc ly tâm. 

Lọc lắng: đưa dầu vào cốc lọc những cặn bẩn có trọng lượng lớn được giữ đáy, còn dâu sạch thì nổi lên trên, phương pháp này lọc những căn bản có khối lượng nhẹ sẽ khó khăn.

Lọc thấm: đưa dầu thấm qua một lõi lọc có thể bằng giấy, da nhựa xốp, tấm đồng xen kẽ… những cặn bẩn có kích thước lớn hơn khe hở của lõi lọc sẽ được giữ lại. Phương pháp này lọc những cặn bẩn có kích thước nhỏ sẽ khó khăn.

Lọc ly tâm: dựa theo nguyên lý ly tâm làm văng những cặn bẩn có trọng lượng lớn ra xa còn dầu sạch sẽ được lấy ở gần tâm quay. Tùy theo cách lắp bầu lọc ly tâm trong hệ thống bôi trơn, người ta phân biệt bầu lọc ly tâm toàn phần và bầu lọc ly tâm bán phần.

+ Bầu lọc ly tâm toàn phần được lắp nổi tiếp trên mạch dâu. Toàn bộ lượng dầu do bơm cung cấp đều đi qua lọc. Một phần dầu khoảng 15 – 20% qua các lỗ phun ở roto rồi quay trở về các te. Bầu lọc ly tâm trong trường hợp này đóng vai trò bầu lọc thô.

+ Bầu lọc ly tâm bán phần không có đường dầu đi bôi trơn. Dầu đi bôi trơn trong hệ thống do bầu lọc riêng cung cấp. Chỉ có khoảng 10 – 15% lưu lượng do bơm cung cấp đi qua bầu lọc ly tâm bán phần, được lọc sạch rồi trở về các te. Bầu lọc ly tâm bán phần đóng vai trò lọc tinh trong hệ thống bôi trơn ô tô.

Hiện nay, bầu lọc ly tâm được sử dụng rộng rãi vì có ưu điểm: Không phải thay các phần tử lọc vì không dùng lõi lọc; khả năng lọc tốt hơn so với lọc thấm dùng lõi lọc và ít phụ thuộc vào mức độ cặn bẩn đọng bám trong bầu lọc.

Hình dưới đây là sơ đồ cấu tạo và nguyên lý hoạt động của bình lọc ly tâm. Bình lọc ly tâm gồm 3 phần chính: Đế, trục quay (trục roto) và bộ phận quay (roto). Trục roto là một ống thép được vặn chặt vào đế, roto quay tự do trên trục roto gồm thân 8 gắn chặt với lối 3, trên lôi 3 có lỗ phun, các lỗ phun bố trí hướng ngược nhau để khi phun sẽ tạo ngẫu lực, phản lực làm quay roto.

5.5.3. Nguyên tắc hoạt động của bình lọc dầu

Bơm đẩy dầu qua lỗ dọc hình vành khăn tới các lỗ ngang 4 để vào bên trong roto 8. Một phần dầu sạch trong roto (khoảng 20%) được phun qua các giclơ 2 với một tốc độ lớn (chênh áp phía trước và sau lỗ giclơ vào khoảng 0,4 – 0,5Mpa. Phản lực của các tia dầu này tạo ra ngẫu lực làm cho roto quay ngược chiều so với chiều của các tia dầu.

Bình lọc dầu kiểu ly tâm (trái) và bình lọc dầu bôi trơn kiểu lọc thấm có lõi lọc giấy (phải)
Bình lọc dầu kiểu ly tâm (trái) và bình lọc dầu bôi trơn kiểu lọc thấm có lõi lọc giấy (phải)

5.3.4. Hoạt động của bình lọc ly tâm

Dầu được bơm đưa vào trong lõi roto qua rãnh 9, 4. Khi động cơ hoạt động roto quay do một phần nhỏ dầu phun qua hai bộ phun rồi trở về thùng hướng quay của roto ngược với hướng phun của dầu. roto quay nhanh hay chậm phụ thuộc vào tốc độ phun, khi roto quay dầu bôi trơn còn lại ở trong sẽ quay theo, do quán tính ly tâm những cặn bẩn được văng ra xa và bám vào thành roto phần dầu sạch ở giữa sẽ theo 5 và 7 đến đường ra của bình lọc và đi bôi trơn cho các bộ phận của động cơ.

Bình lọc dầu kiểu thấm có lõi lọc bằng giấy, cấu tạo gồm thân 3 lắp chặt với nắp 8 bằng đai ốc 7 và thanh giữa 2. Thanh giữa 2 rỗng có khoan lỗ xung quanh, ở dưới đáy của 2 có vặn một nút xả. Lõi lọc 9 được ép chặt vào nắp nhờ 1 lò xo, lõi lọc 9 bên trong có xếp giấy lọc, bên ngoài bao bằng các giữa lõi 9 là ống hai đầu của lõi 9 được làm kín bởi vòng làm kín 6, thân bình lọc có đường dầu vào và đường dâu ra.

5.6. Đèn cảnh báo áp suất dầu

Đèn cảnh báo áp suất dầu báo cho lái xe biết áp suất dầu ở mức thấp không bình thường. Công tắc áp suất dầu được lắp trong các te hoặc trong thân máy, dùng để kiểm tra áp suất trong đường dâu chính. Áp suất dầu bình thường vào khoảng 0,5 đến 5kgf/cm2.

5.6.1. Khi áp suất dầu thấp

Khi động cơ tắt máy hoặc khi áp suất thấp hơn một mức xác định, tiếp điểm bên trong công tắc dâu đóng lại và đèn cảnh báo áp suất dầu sáng lên.

5.6.2. Khi áp suất dầu cao

Khi động cơ nổ máy và áp suất dầu vợt qua một mức xác định, dầu sẽ ép lên màng bên trong công tắc dầu, nhờ thế, công tắc được ngắt ra và đèn cảnh báo áp suất dầu tắt. 

– Nếu áp suất dầu hạ xuống dưới 0,2kgf/cm2, đèn cảnh báo áp suất dầu sẽ bật sáng. 

– Nếu đèn sáng thì có nghĩa là có điều gì đó không bình thường trong hệ thống bôi trơn ô tô. 

Hơn thế nữa, khi đèn tắt thì điều này cũng không bảo đảm rằng động cơ có áp suất dầu phù hợp khi chạy ở tốc độ cao. Vì thế, một số động cơ có sử dụng áp kế để chỉ áp suất dầu.

Đèn cảnh báo áp suất dầu
Đèn cảnh báo áp suất dầu

5.7. Thông hơi cưỡng bức các te

5.7.1. Nhiệm vụ

Nối thông khoảng không gian các te với môi trường bên ngoài động cơ có tác dụng giữ cho áp suất trong các te không cao quá. Đối với động cơ xăng thông hơi cưỡng bức còn đưa hơi nhiên liệu lọt xuống buồng các te trở lên chế hoà khí nhằm tiết kiệm nhiên liệu và tránh không cho nhiên liệu phá huỷ dầu bôi trơn.

5.7.2. Cấu tạo thông hơi cưỡng bức các te

Thông hơi cưỡng bức của động cơ diesel khá đơn giản, nó chỉ gồm có đường ống thông với đáy các te phần trên của ống có lưới lọc và ống thoát khí đây cũng là nơi đổ dầu bôi trơn.

Thông hơi động cơ xăng (trái) và thông hơi động cơ Diesel (phải)
Thông hơi động cơ xăng (trái) và thông hơi động cơ Diesel (phải)

Bộ phận thông hơi động cơ xăng ngoài việc thông thoáng hơi còn có nhiệm vụ đưa hơi xăng bị lọt xuống đáy về trở lại ống hút của động cơ vì vậy có đường ống 3 nối thông với ống hút của động cơ. 

Đáy động cơ làm việc do sức hút ở ống hút sẽ tạo thành một dòng không khí từ ngoài qua bình lọc 3 ống, ống 2 vào đáy theo theo ống 3 về ống hút của động cơ. Dòng không khí có tác dụng đưa hơi xăng lọt xuống đáy về lại xilanh và quạt mát cho dầu bôi trơn ở đáy động cơ.

Bộ phận thông hơi có điểm khác là ống 2 nối thông đáy với bình lọc, vì vậy không cần van một chiều, không khí vào đáy cổ đổ dầu 1. 

6. Trình tự tháo lắp hệ thống bôi trơn ô tô

6.1. Trình tự tháo

6.1.1. Chuẩn bị

Dụng cụ tháo, lắp: cờ lê tròng miệng các loại, tay nối ngắn, tay lực, tuýp 10; 12; 14; 17; 19; 22 – 27.

Nguyên vật liệu: giẻ lau, dầu nhờn, mỡ, khay đựng dụng cụ, dụng cụ kê chèn, thùng chứa.

6.1.2. Trình tự tháo

– Xả dầu bôi trơn.

– Xả nước làm mát.

– Tháo đáy các te.

– Tháo két mát dầu, nước làm mát.

– Tháo đáy các te.

– Tháo lưới lọc sơ

– Tháo bơm dầu.

– Tháo bình lọc tinh

– Tháo các van

6.2. Trình tự lắp

Ngược lại với trình tự tháo.

6.3. Yêu cầu kỹ thuật

– Tháo theo trình tự, nới lỏng dẫn các bulông lắp ghép giữa các chi tiết. 

– Đặt các chi tiết tháo rời lên giá chuyên dùng.

– Gioăng đệm đặt cẩn thận tránh bị rách, các bulông lắp ghép được xếp theo thứ tự.

– Trong quá trình kiểm tra, sửa chữa nếu hư hỏng nhiều ở các bộ phận cần thay mới.

7. Kiểm tra hệ thống bôi trơn ô tô

7.1. Hiện tượng, nguyên nhân hư hỏng, tác hại

Hiện tượngNguyên nhânTác hại
Chảy dầu.+ Các đường ống bị rạn nứt.
+ Chảy dầu ở các đầu nối do bắt không chặt hoặc lỏng ren.
+ Chảy dầu ở các gioăng đệm, phớt cao su do bị rách hoặc làm việc lâu ngày.
+ Gây thiếu dầu bôi trơn trong hệ thống làm tăng ma sát giữa các chi chuyển động với nhau.
+ Chảy dầu ở các bán trục ra hệ thống phanh làm cho hệ thống kém phát huy tác dụng dễ gây ra tai nạn và dẫn đến hậu quả rất lớn.
Áp suất dầu thấp.+ Do bơm dầu bị hỏng.
+ Van ổn áp của bơm dầu hỏng (do lò xo bị gāy).
+ Độ nhớt dầu nhờn giảm do làm việc lâu ngày.
+ Khe hở giữa bạc và quá lớn (bạc biên và cổ bạc cổ chính; bạc cam và cổ cam).
+ Không đủ lượng dầu cung cấp cho các chi tiết mà dầu khó có thể đến nơi.
+ Các chi tiết nóng và chóng bị mài mòn cào xước giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau có thể dẫn đến bó cứng và làm chết máy.
Áp suất dầu caoVan điều áp bị kẹt đóng do đó áp suất dầu tăng ngột; dùng loại dầu quá đặc, tỷ số nén thấp, nhiệt độ động cơ thấp.Mạch dầu nhờn bị nghẽn, dầu đột nhờn không đến được các điểm cần bôi trơn.
Mức dầu động cơ không đúng quy định.+ Mức dầu giảm do chảy dầu hoặc sục dầu lên buồng đốt.
+ Mức dầu tăng do nhiên liệu và nước sục vào hệ thống bôi trơn ô tô.
+ Mức dầu quá cao làm dầu sục lên lên buồng đốt gây ra hiện tượng kích nổ và tạo nhiều muội than nhiên trong buồng đốt dẫn đến động cơ hệ chạy rung giật, nhiệt độ động cơ tăng cao, công suất động cơ giảm. 
+ Mức dầu quá thấp không đủ lượng dầu cung cấp cho hệ thống sẽ gây ra các hậu quả như trên.

Các hư hỏng trên thường làm giảm lưu lượng và áp suất dầu cấp đến đường dầu chính hoặc suy giảm chất lượng dầu bôi trơn, kết quả là các chi tiết bị mài mòn nhanh, giảm công suất và còn có thể gây ra cháy bạc lót. 

7.2. Kiểm tra hệ thống bôi trơn ô tô

Chúng ta có thể tự kiểm tra và phát hiện hư hỏng của hệ thống bôi trơn dựa vào đèn cảnh báo áp suất dầu trên bảng taplo, kiểm tra chất lượng dầu bôi trơn hoặc kiểm tra nhiệt độ của đầu (chênh lệch so với nhiệt độ động cơ không quá 5°C).

7.2.1. Kiểm tra sơ bộ hệ thống bôi trơn

Quan sát xem dầu có bị rò rỉ ở các mặt lắp ghép hay các mối nối hay không. 

7.2.2. Kiểm tra chất lượng dầu bôi trơn

Kiểm tra xem dầu có bị biến chất đổi màu, loãng hoặc lẫn nước hay không, nếu dầu kém chất lượng thay mới. 

Chú ý:

– Tiếp xúc thường xuyên và lâu dài với dầu sẽ làm da khô và ung thư vì dầu chứa nhiều chất ô nhiễm.

– Khi thay dầu phải hạn chế tới mức tối thiểu tiếp xúc của da với dầu cũ. Nếu có dầu cũ dính vào da phải dùng xà phòng rửa sạch trong nước, không dùng xăng hay dung môi để rửa.

– Để giữ sạch môi trường nên đổ dầu cũ vào một chỗ cách ly. 

Xả dầu động cơ:

– Tháo nắp ống đổ dầu.

– Rút que thăm dầu.

– Tháo nút xả dầu và hứng dầu vào chậu.

Nạp dầu cho động cơ:

– Lau sạch và thay đêm mới vào nút xả dầu. 

– Kiểm tra loại dầu có độ nhớt quy định phù hợp để nạp vào động cơ.

– Đổ dầu vào động cơ theo mức quy định. 

– Nổ máy kiểm tra rò rỉ dầu. 

– Kiểm tra mức dầu bằng thước thăm dầu.

7.2.3. Kiểm tra áp suất dầu bôi trơn

– Tháo vú báo áp suất dầu.

– Gắn đồng hồ đo áp suất dầu.

– Khởi động động cơ đến chế độ làm việc bình thường kiểm tra áp suất dầu. 

8. Sửa chữa hệ thống bôi trơn

8.1. Sửa chữa bơm dầu

8.1.1. Hiện tượng

– Bề mặt làm việc của bánh răng bị vỡ, mòn, tăng khe hở giữa 2 mặt răng, đỉnh răng mòn tăng khe hở giữa đỉnh răng và thành bơm. 

– Gioăng đệm bị rách.

– Bulông lắp ghép bị hỏng, mất ren.

– Trục và bạc mòn, đặc biệt là 2 mặt đầu bánh răng chạm đáy bơm và nắp bơm mòn làm tăng khe hở mặt đầu bánh răng. 

8.1.2. Nguyên nhân

– Do làm việc lâu ngày và ma sát sinh ra do trong dầu bôi trơn có cặn bẩn.

– Quy trình tháo lắp không đúng kỹ thuật.

– Lực xiết nhỏ không đảm bảo hoặc quá lớn gây lên các bề mặt tiếp xúc bị cong vênh.

8.1.3. Tác hại

– Làm giảm áp suất dầu bôi trơn dẫn đến thiếu dầu bôi trơn tiết khó bôi trơn của động cơ. 

– Rò rỉ và thiếu dầu bôi trơn dẫn đến động cơ bị nóng gây kích nổ và bó cứng.

– Áp suất dầu thấp do đó dầu khó bôi trơn lên các chi tiết ở xa dẫn đến ma sát lớn gây nên mòn vẹt và làm tăng nhiệt độ động cơ dẫn đến kích nổ.

8.2. Trình tự tháo bơm dầu

8.2.1. Tháo bơm dầu từ động cơ

– Ngắt cáp âm ra khỏi ắc quy.

– Tháo bánh phải trước.

– Tháo tấm chắn phía dưới động cơ bên phải.

– Xả dầu. 

+ Tháo nút xả đáy các te dầu và xả dầu động cơ.

+ Tháo nắp lỗ đổ dầu.

+ Làm sạch nút xả.

+ Lắp nút xả bằng một gioăng mới.

– Xả nước làm mát.

Để tránh nguy cơ bị bỏng, không được tháo nắp két nước trong khi động cơ và két nước đang còn nóng. Sự giãn nở nhiệt sẽ làm cho nước làm mát và hơi nước phụt ra khỏi cụm két nước.

+ Nới lỏng nút xả két nước.

+ Tháo cụm nắp két nước.

+ Nới lỏng nút xả trên thân máy, sau đó xả nước làm mát. 

– Tháo nắp đậy nắp quy lát số 2.

– Tháo đai chữ V cho quạt và máy phát.

+ Nới lỏng các bu lông A và B.

+ Làm dây đai V cho quạt và máy phát chùng xuống và tháo đai V. 

– Tháo cụm máy phát.

+ Tách giắc nổi và kẹp dây điện. 

+ Tháo đai ốc và tháo cực B.

+ Tháo bulông cố định thanh trượt điều chỉnh A và B, và tháo thanh điều chỉnh đại quạt.

+ Tháo bulông cố định và tháo máy phát. 

– Tháo cuộn đánh lửa số 1.

+ Ngắt 4 giắc của cuộn đánh lửa.

+ Tháo 4 bulông và 4 cuộn đánh lửa. 

– Tháo ống thông hơi.

– Ngắt ống thông hơi số 2.

– Tháo nắp đậy nắp quy lát.

– Tháo cao su chân máy bên phải. 

+ Hãy đặt khúc gỗ trên kích ở phía dưới động cơ.

+ Tháo 5 bulông và đai ốc và tháo cao su chân máy bên phải (cho hộp số động).

+ Tháo 5 bulông và đai ốc và tháo cao su chân máy bên phải (cho hộp số thường).

– Tháo giảm chấn trục khuỷu.

+ Đặt xilanh số 1 ở điểm chết trên/kỳ nén.

+ Quay giảm chấn trục khuỷu, và gióng thẳng rãnh phối khí của nó với dấu phối khí “O” của bơm dầu.

+ Kiểm tra rằng các dấu phối khí trên đĩa răng phối khí trục cam và bánh răng phối khí trục cam hướng lên trên như trong hình vẽ. Nếu chưa được, hãy quay puli trục khuỷu một vòng (360 độ) và gióng thẳng các dấu như trên.

+ Kiểm tra vị trí lắp SST khi lắp để tránh cho các bu lông bắt của SST khỏi bị chạm vào cụm bơm dầu.

+ Tháo các SST và bu lông. 

+ Tháo giảm chấn trục khuỷu.

– Tháo cảm biến vị trí trục khuỷu.

+ Ngắt giắc của cảm biến vị trí trục khuỷu.

+ Tháo bulông và sau đó tháo cảm biến vị trí trục khuỷu.

– Tháo cụm van điều khiển dầu phối khí trục cam.

+ Tháo giắc nối cụm van điều khiển dầu phối khí trục cam.

+ Tháo bu lông và tháo cụm van điều khiển dầu phối khí trục cam.

+ Tháo gioăng chữ O ra khỏi van điều khiển dầu phối khí trục cam.

– Tháo puli bơm nước.

– Tháo cụm bơm nước.

– Tháo giá bắt chân máy nằm ngang.

– Tháo cụm bơm dầu.

+ Dùng một tô vít có bọc băng dính ở đầu, nạy bơm dầu để tháo nó. Không được làm hỏng bề mặt tiếp xúc của cụm bơm dầu và cácte dầu. 

+ Tháo 2 gioăng chữ U ra khỏi thân máy và cácte dầu.

8.2.2. Tháo rời các chi tiết của bơm dầu

– Tháo đế nắp thân bơm.

+ Tháo các bulông.

+ Dùng búa nhựa, cẩn thận gõ lên thân bơm dầu.

– Tháo roto bơm (bánh răng) chủ động và bị động.

+ Tháo các bulông và nắp bơm dầu.

+ Tháo roto (bánh răng) chủ động và bị động.

– Tháo van dầu hồi ra khỏi thân bơm.

8.2.3. Yêu cầu kỹ thuật khi thực hiện tháo

– Tháo theo trình tự, nới lỏng dần các bulông lắp ghép bơm với động cơ.

– Đặt các chi tiết tháo rời lên giá chuyên dùng.

– Gioăng đệm đặt cẩn thận tránh bị rách, các bulông lắp ghép được xếp theo thứ tự.

– Trong quá trình kiểm tra, sửa chữa nếu bơm bị hư hỏng nhiều cần thay mới. 

8.2.4. Kiểm tra bơm dầu nhờn

– Bằng thị giác giám định toàn bộ bơm.

– Kiểm tra môn bằng cách đo các bề mặt sau:

  • Khe hở giữa hai bề mặt răng trong trạng thái lắp ghép đo bằng căn lá, khe hở lúc bơm mới từ 0,1 – 0,2mm, khe hở tối đa 0,35mm. Nếu vượt quá phải thay bánh răng mới.
  • Khe hở giữa đỉnh bánh răng và thành vỏ bơm, khe hở lúc mới trong phạm vị 0,03 – 0,06 mm, khe hở tối đa 0,1mm. Khi khe hở quá giới hạn phải phục hồi lại lỗ vỏ bơm hoặc thay bằng vỏ bơm mới.
  • Khe hở giữa mặt đầu bánh răng và mặt phẳng lắp ghép thân bơm, khe hở mới từ 0,03 – 0,05mm, khe hở tối đa 0,1mm. Nếu vượt quá phải mài phẳng mặt lắp ghép thân bơm.
  • Khe hở giữa bánh răng và trục bị động, giữa trục chủ động và bạc đều trong phạm vi 0,02 – 0,05mm, khe hở tối đa 0,1mm. Nếu vượt quá phải thay bạc lót hoặc thay trục mới.
  • Khe hở giữa trục chủ động và nắp bơm lúc mới trong phạm vi 0,06 – 0,09mm, khe hở tối đa 0,15mm. Vượt quá phải thay thế nắp bơm hoặc phục hồi lại trục.

– Kiểm tra khe hở giữa trục và bạc bằng panme và đồng hồ so.

8.3. Lắp bơm dầu

– Lắp van dầu hồi.

+ Lắp van, lò xo, tấm chặn vào thân bơm.

+ Dùng kìm lắp phanh hãm.

– Lắp roto (bánh răng) chủ động và bị động.

8.4. Sửa chữa hệ thống bôi trơn ô tô

– Mài phẳng lại nắp bơm hết độ mòn a1.

– Thân bơn khi mòn tăng khe hở có thể khoét rộng thân bơm, đóng vào bạc mới, đòi hỏi có kỹ thuật cao. Muốn giảm khe hở (tụt sâu của bánh răng) có thể căn đệm ở đáy bơm.

– Thay bạc mòn. Trục bị động bơm động cơ CMD – 14A có thể quay đầu sử dụng tiếp.

Phục hồi trục hoặc vỏ bơm có thể dùng phương pháp mạ thép, mạ crôm sau đó gia công chính xác kích thước, bảo đảm khe hở lắp ráp như mới. 

8.5. Yêu cầu chung khi lắp bơm dầu nhờn

– Đóng bạc đồng vào thanh răng bị động, đóng bạc đồng vào thân bơm của bánh răng chủ động cần có độ dôi: -0,016 tới – 0,060mm.

– Lắp trục bị động vào thân bơm cần có độ dối -0,016 tới -0,062mm. 

– Luộc bánh răng chủ động ở nhiệt độ 150 – 200°C đóng vào trục chủ động có độ dối -0,042 tới -0,092mm.

– Độ hở mặt đầu bánh răng và đáy bơm: 0,03 – 0,15mm. 

– Độ hở giữa hai mặt bánh răng: 0,12 – 0,34mm. 

– Độ hở giữa bánh răng và thành bơm: 0,12 – 0,20mm. 

– Độ hở giữa bạc và trục: 0,03 – 0,09mm. 

Các bánh răng chủ động, bị động có cùng chiều cao, quay nhẹ nhàng, hông kẹt. Trục bị động thấp hơn mặt bánh răng bị động: 0,25 – 1,50mm.

Bơm dầu sau khi lắp được đưa lên bằng thử để đo lưu lượng và áp suất ở số vòng quay nhất định, trong điều kiện toàn bộ lượng dầu do bơm cấp ra di qua một lỗ tiết lưu có đường kính và chiều dài nhất định.

8.6. Sửa chữa lọc dầu 

8.6.1. Tháo bình lọc từ động cơ

– Tháo nắp bảo vệ động cơ.

– Xả dầu.

– Tháo lọc dầu khởi động cơ

8.6.2. Tháo rời bình lọc

– Chuẩn bị: tuýp, cờ lê 10, 14, 17, 22, dầu diesel sạch, máy nén khí.

– Tháo bình lọc ra khỏi động cơ.

– Làm sạch cặn bẩn bám chặt ở thành phía trong roto.

– Tháo nắp chụp của bình lọc

– Tháo, rút roto ra

– Thông lỗ phun dầu

8.6.3. Lắp bình lọc

Ngược lại với quá trình tháo

8.6.7. Sửa chữa bình lọc

Với loại lọc tinh bằng da hoặc giấy, phải được thay thế bằng lõi lọc mới sau khi đã hết thời gian làm việc quy định (thường các lõi lọc có tuổi thọ từ 200 – 300 giờ. Các loại lọc thô bằng tấm hay lưới kim loại được tháo rửa định kỳ để sử dụng tiếp. Nếu động cơ làm việc trong môi trường nhiều bụi (động cơ máy cày, xe vận tải mỏ) phải rút ngắn thời gian thay thế và bảo dưỡng lọc từ 15 – 20 % thời gian định mức.

Lọc ly tâm được sử dụng khá phổ biến do khả năng lọc tương đối tốt và việc chăm sóc đơn giản, có tuổi thọ cao. Khi có biểu hiện lọc bị tắc (tắt máy không thấy tiếng kêu vo vo của roto lọc kéo dài), chỉ cần tháo rửa các cặn bẩn trong roto lọc là được.

Khi đưa động cơ vào sửa chữa lớn, các chi tiết của lọc ly tâm bị mòn cần được gia công sửa chữa lại như sau:

Trục roto bị mòn bề mặt làm việc với bạc được mạ thép hoặc mạ Crôm, sau đó mài đến kích thước quy định, bảo đảm độ bóng bề mặt Ra > 0,53µm, độ cong trên suốt chiều dài trục < 0,02mm, độ côn méo < 0,01mm.

Bạc lót mòn được thay bạc mới và nghiền lỗ bảo đảm độ bóng Ra > 0,53µm, khe hở giữa bạc và trục trong phạm vi 0,005 – 0,008mm.

Sau khi lắp ráp, các loại lọc được kiểm tra độ kín khít và áp suất mở van an toàn trên các thiết bị chuyên dùng theo các chỉ tiêu kỹ thuật đối với từng loại.

8.6.8. Kiểm tra bầu lọc

Cho động cơ nổ một lúc, sờ tay ngoài bầu lọc, nếu nóng là có dầu chui xuyên qua bầu lọc, nếu nguội là lõi bị dơ nghẽn.

Tháo ống thoát dầu của bầu lọc trong khi động cơ đang nổ cầm chừng. Nếu dầu thoát ra nhiều là tốt, nếu dầu chỉ ỉ ra một lượng ít là bầu lọc đã bị nghẹt.

8.7. Sửa chữa két làm mát dầu

8.7.1. Tháo két làm mát dầu

– Chuẩn bị: các loại cle, tuýp, giẻ lau sạch, dụng cụ kê chèn, thùng chứa.

– Tháo cút nối: tháo bulông dẫn dầu, 2 gioăng và cút nối.

– Tháo lọc dầu.

– Tháo tấm bắt lọc dầu (bộ ổn định áp suất): tháo bulông dẫn dầu, tấm bắt lọc dầu và vòng đệm chữ “O.

– Tháo rời tấm bắt lọc dầu.

8.7.2. Kiểm tra thủng két

Bơm khí vào két đang ngâm trong bể nước, không có khí bay lên là tốt.

8.7.3. Sửa chữa két mát dầu

Rửa bằng dung dịch sút 10 – 20%, sau đó ngâm 2 – 3 giờ sau đó rửa bằng nước nóng. Các vị trí thủng phải hàn bằng vây đồng. Sửa chữa xong đậy kín các đường thông, bơm khí nén vào với áp suất 3kG/cm2 mà không thấy bong bóng bay ra khi ngâm nó vào bể nước là được.

9. Bảo dưỡng hệ thống bôi trơn ô tô

9.1. Yêu cầu chất lượng dầu

– Dầu bôi trơn phải được dùng theo mùa và nhiệt độ môi trường. 

– Phải dùng đúng với loại mà động cơ đó chỉ định, dầu phải sạch không có tạp chất.

Mua đúng loại dầu xe phù hợp với động cơ của mình đòi hỏi bạn không chỉ dừng ở những thương hiệu yêu thích. Các loại dầu xe được phân loại theo độ nhớt, độ nặng của dầu liên quan tới tốc độ chảy của dầu tới các chi tiết máy trong động cơ. Loại dầu có độ nhớt thấp (dùng trong thời tiết lạnh) có độ đậm đặc thấp hơn so với các loại có độ nhớt cao. Tuỳ thuộc vào động cơ và đôi khi cả yếu tố địa hình, các ô tô nói chung đều chạy loại dầu cấp 5W30, 10W30 cho đến 20W50.

Ngoài việc mua đúng loại dầu cần dùng và bộ lọc dầu cho xe (một số dòng xe đòi hỏi có bộ lọc riêng). Thêm nữa thì các công cụ chuyên dụng như vam vặn bộ lọc dầu cùng chào hứng dầu to cũng rất cần thiết. Ngoài ra thì cũng cần một chiếc phễu, ít giẻ sạch và một bộ cờ lê hoặc tròng kích cỡ từ 8mm đến 27mm.

– Phải thường xuyên kiểm tra chất lượng dầu, áp suất dầu và lượng dầu. Sử dụng dầu bôi trơn theo (API).

– Đối với xe tải, xe bus, máy nông nghiệp. Động cơ xăng nên dùng SE hoặc SE/CC.

– Vùng nhiệt đới lên dùng dầu: SAE 30 hoặc SAE 40. 

Các loại dầu bôi trơn đang được sử dụng ở Việt Nam: 

+ Caston + Sell

+ Caltex + Mobil + PCC

9.2. Những công việc của bảo dưỡng hệ thống bôi trơn ô tô

– Phải thường xuyên thay dầu bôi trơn theo lịch trình mà các nhà sản xuất xe ô tô thường hướng dẫn cho khách hàng bằng tài liệu kèm theo xe. Tuy nhiên thời gian thay dầu phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng sử dụng.

Thời điểm thay dầu nói chung khoảng thời gian 3 tháng, tương đương với 5000km là thời điểm cần thiết để thay dầu. Mặc dù các nhà sản xuất ô tô hiện nay như Ford và Toyota đã kéo dài khoảng cách giữa các lần thay dầu (khoảng 8000km hay 6 tháng) với các dòng xe đời mới, song nói chung việc thay dầu thường xuyên được coi là phương pháp rẻ tiền hơn cả để kéo dài tuổi thọ và công suất hoạt động của động cơ.

Khi công nghệ ô tô ngày càng phát triển, đa phần các xe hiện nay đều có khả năng “nhận biết” khi nào động cơ cần thay dầu. Đèn báo thời điểm thay dầu được liên kết với máy tính giúp tính toán số km xe đã đi và hoạt động của động cơ để xác định chính xác.

– Lọc dầu cũng được thay thế định kỳ theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Thường thì lọc dầu được thay thế trong mỗi lần thay dầu hoặc sau vài lần thay dầu, nói chung vẫn phụ thuộc vào điều kiện sử dụng xe.

– Bơm dầu không cần thiết phải bảo dưỡng trong điều kiện vận hành bình thường

– Nếu bơm bị mòn không giữ được áp lực thì tháo bơm để sửa chữa hoặc thay thế bơm mới.

– Van an toàn áp lực không được khuyến khích điều chỉnh hoặc sửa chữa. Nếu nó không hoạt động tốt thì nên thay mới.

– Các thiết bị chỉ báo áp lực dầu cũng không cần thiết bảo dưỡng, khi chúng hư hỏng thì thay thiết bị mới.

– Khi động cơ bảo dưỡng lớn ta phải thông rửa đường dâu ở động cơ. 

9.3. Các bước thay dầu cho hệ thống bôi trơn ô tô

Khởi động máy để hâm nóng dầu trong xe, để đạt tới nhiệt độ cần thiết. Sau khi đã hâm đủ nóng nhiệt độ của xe (đồng hồ nhiệt độ lên mức bình thường), dầu bắt đầu chảy tự do trong toàn động cơ và khi nóng, dầu sẽ chảy nhanh hơn lúc lạnh (trừ trường hợp xe đã hoạt động và động cơ đã nóng).

Đỗ xe trên địa hình bằng phẳng, không dốc và có bề mặt cứng. Đỗ xe trong 5 – 10 phút để lượng dầu đã bôi trơn động cơ có thời gian hồi về đáy các te. Dùng kích nâng xe lên để có thể dễ dàng di chuyển dưới gầm xe. Để an toàn, nên kéo chặt phanh tay. Khi dùng kích và giá đỡ đỡ xe, không nên di chuyển dưới gầm xe cho tới khi các giá đỡ đã được bố trí an toàn.

Mở ốc xả dầu. Dùng trong hoặc cờ lê tuýp đúng kích cỡ để mở ốc. Thường thì ốc này nằm ở phần sau cuối của đáy các te động cơ. Cũng có một số trường hợp, muốn tìm thấy ốc xả phải bỏ phần che bằng nhựa bên ngoài. Đứng dưới gầm ô tô chỗ có ốc xả dầu, vặn xoáy ngược chiều kim đồng hồ để tháo ốc xả. Đặt chảo xả dầu thẳng hàng để hứng được dùng dầu chảy ra, chú ý trong một số trường hợp dầu xả ra rất nhanh nên phải hứng chảo xả dầu kịp thời. Dâu chảy từ động cơ ra còn rất nóng, vì vậy nên cẩn thận khi thao tác. Thường thì chỉ mất khoảng 2 phút là toàn bộ dầu cũ trong máy sẽ chảy ra hết.

Kiểm tra nút xả dầu xem có mặt kim loại không trước khi lắp lại và tránh trường hợp lắp chéo ốc xả dẫn đến nhờn ren. Nếu có nhiều mặt kim loại sáng màu, bạn nên hỏi ý kiến những người có chuyên môn trước khi lắp lại. 

Bộ lọc dầu, phần hình trụ nằm dọc theo phần bên dưới của động cơ cũng cần thay thế mỗi khi thay dầu (khoảng 10.000km). Cần nắm chặt phần nút vặn ở bộ phận lọc dầu hoặc phần chuyển đổi bộ lọc và tháo ra phần lọc dầu. Nên cẩn thận khi thực hiện thao tác này vì dầu nóng vẫn còn bên trong bộ lọc. Đừng sợ làm gãy ống lọc dầu cũ nhưng phải thận trọng để không chạm phải hay làm hư hại tới các chi tiết máy khác. Với bộ lọc dầu mới trong tay, dùng ngón tay nhẹ nhàng bôi trơn phân miệng ống lọc bằng một chút dầu mới. Sau khi lau sạch vòng kim loại bao quanh bộ lọc, dùng tay xoáy ống lọc mới vào khoảng một nửa hoặc 3/4 vòng theo hướng dẫn sử dụng bộ lọc.

Tiếp đó là bước đổ dầu mới vào động cơ. Mở nắp đổ dầu bằng một tấm giẻ sạch và đổ dầu qua phễu vào cổ đổ dầu. Các động cơ tô thường cần khoảng từ 4 đến 8 lít dầu (tùy loại xe ô tô) để đạt mức dầu hợp lý để động cơ hoạt động bình thường, cần đảm bảo lắp lại đúng nắp đổ dầu và chặt.

Trước khi hạ xe xuống khỏi kích chống hoặc bệ đỡ, cần xem lại một lần nữa để chắc chắn không có dầu rò rỉ phía dưới gầm xe. Giữ nguyên xe trong vị trí đó vài phút để dầu có đủ thời gian chuyển xuống dưới động cơ. Sau khi không thấy có hiện tượng rò rỉ dầu, có thể từ từ hạ xe xuống.

Kiểm tra mức dầu bằng que đo dầu, mức lý tưởng nhất là ở vị trí Full chỉ thị trên que. Cách lấy kết quả chính xác nhất khi đọc mức dầu trên que thăm dầu là sau khi cho xe chạy động cơ đã nóng lên. Do đó nên chạy xe một đoạn ngắn, sau đó để yên từ 5 – 10 phút trên bề mặt phẳng trước khi kiểm tra mức dầu, cách làm này cho bạn kết quả chính xác nhất.

Khởi động lại động cơ, lúc này nên để ý các tín hiệu đèn trên cụm đồng hồ điều khiển để xem có vấn đề trục trặc nào của hệ thống hay không. Với các dòng xe đời mới được trang bị hệ thống kiểm tra thay dầu cần reset lại hệ thống. Quá trình này tương đối khác nhau giữa các dòng xe do đó nên tham khảo thêm sách hướng dẫn sử dụng của xe.

Cuối cùng là đổ số dầu cũ vừa thay một cách hợp lý, giữ vệ sinh và bảo vệ môi trường.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :