Home / Ô Tô / Bảo dưỡng và sửa chữa ô tô: quy trình, dụng cụ, quy định an toàn

Bảo dưỡng và sửa chữa ô tô: quy trình, dụng cụ, quy định an toàn

/

Hướng dẫn quy trình bảo dưỡng và sửa chữa ô tô về hệ thống phun xăng điện tử, bộ chế hòa khí, hệ thống đánh lửa bán dẫn, thiết bị nhiên liệu diesel, biến mô thủy lực, hộp số tự động và chẩn đoán các hư hỏng theo mã code.

bao-duong-va-sua-chua-o-to-an-toan

Xe ô tô đang ngày càng được sử dụng rộng rãi ở nước ta như một phương tiện cá nhân cũng như vận chuyển hành khách và hàng hoá. Sự gia tăng nhanh chóng số lượng xe sử dụng trong xã hội, đặc biệt là các loại đời mới cũng đang kéo theo nhu cầu phục vụ bảo dưỡng và sửa chữa ô tô.

1. Cấu tạo chung của ô tô

1.1. Phân loại ô tô

Ô tô là loại phương tiện tự hành (không cản lực kéo bên ngoài), dùng để vận chuyển hành khách, hàng hoá hoặc thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định. Chiếc ô tô sử dụng động cơ đầu tiên được ra đời vào cuối thế kỷ 19 tương đối đơn sơ.

Nhưng đến nay, ô tô đã phát triển đến đỉnh cao về kỹ thuật, đa dạng về công dụng và kết cấu. Để bảo dưỡng và sửa chữa ô tô tốt nhất, tăng thời gian sử dụng, cần nắm vững thông tin về chủng loại xe khác nhau sẽ có những yêu cầu kỹ thuật khác nhau.

Về công dụng, có các loại xe như:

  • Xe du lịch và xe thể thao dùng để chở từ 1 đến 6 người. 
  • Xe buýt, mini buýt và xe ca dùng để chờ từ 6 người trở lên.
  • Xe tải dùng để vận chuyển hàng hóa. Trong đó có xe tải nhẹ, xe tải trung bình và xe tải lớn có thể vận chuyển được từ 1 đến 30 tấn hàng hoá.
  • Xe đặc chủng dùng để thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định, ví dụ các loại xe dùng trong quân đội, cảnh sát, cứu hoả; xe phục vụ kỹ thuật trong sản bay, xe bồn.

Về kết cấu, có xe chạy bằng nhiên liệu xăng, xe chạy bằng nhiên liệu diesel, xe chạy điện ắc quy, xe ben, xe có động cơ đặt phía trước, xe có động cơ đặt phía sau, xe một cầu chủ động phía trước hoặc phía sau), xe hai cầu chủ động.

1.2. Cấu tạo chung của ô tô

hệ thống xe ô tô
Hệ thống xe ô tô

Ô tô có kết cấu khá phức tạp, bao gồm nhiều bộ phận, hệ thống, cụm và tổng thành lắp ghép với nhau. Mỗi bộ phận thực hiện một chức năng nhất định.

Các bộ phận và hệ thống cơ bản của ô tô bao gồm:

  • Động cơ tạo ra lực làm xe chuyển động.
  • Hệ thống truyền lực (ly hợp, hộp số, trục truyền và cầu chủ động) truyền mômen từ động cơ đến các bánh xe chủ động làm quay bánh xe.
  • Hệ thống treo (nhíp, giảm chấn và các bánh xe) giảm xóc cho thân xe khi xe chay rèn đường.
  • Hệ thống lái giúp chủ xe có thể điều khiển xe một cách nhẹ nhàng, dễ dàng, thuận lợi.
  • Hệ thống phanh giúp người lái có thể dừng xe khi cần.
  • Hệ thống đèn cung cấp điện cho các thiết bị điện, các hệ thống và phục vụ chiếu sáng cho xe.
  • Thân xe, thùng, bệ để lắp các bộ phận, hệ thống của xe, khoang chở người và khoang hành lý.

2. Quy trình bảo dưỡng và sửa chữa ô tô

2.1. Phân biệt bảo dưỡng và sửa chữa ô tô là gì?

Như đã nói ở trên, ô tô là một cỗ máy có kết cấu phức tạp được lắp ghép từ nhiều bộ phận với tổng số chi tiết có thể lên tới trên 15.000 chi tiết. Trong đó, có rất nhiều cặp chi tiết có chuyển động tương đối với nhau. Trong quá trình làm việc, do chịu tải trọng và ma sát nên các chi tiết thường bị mòn, biến dạng hoặc gây vỡ, hỏng hóc,… dẫn đến làm mất tính năng hoạt động bình thường của xe. Kết quả là làm giảm công suất động cơ, tăng tiêu hao nhiên liệu, giảm mức độ tin cậy và an toàn trong sử dụng xe, nói chung là hiệu quả kinh tế trong khai thác sử dụng xe giảm.

Để khai thác hết khả năng làm việc và tăng hiệu quả sử dụng, trong quá trình sử dụng cần thực hiện bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa ô tô định kỳ nhằm ngăn ngừa sự mòn nhanh và khắc phục các hỏng hóc bất thường để đảm bảo trạng thái kỹ thuật bình thường của xe.

Quy trình bảo dưỡng và sửa chữa bao gồm:

Bảo dưỡng: là những công việc được tiền hành có kế hoạch và có hệ thống nhằm ngăn ngừa hư hỏng, đảm bảo duy trì trạng thái kỹ thuật tốt, kéo dài tuổi thọ của xe. Bảo dưỡng được tiến hành hàng ngày hoặc định kỳ theo thời gian sử dụng hoặc theo số kilomet xe chạy. Quy trình bảo dưỡng ô tô bao gồm một loạt công việc bắt buộc, chủ yếu tập trung vào kiểm tra trạng thái kỹ thuật, tẩy rửa, bắt chặt, thay dầu mỡ, chân đoán tình trạng kỹ thuật và điều chỉnh các cụm máy. Bảo dưỡng được chia thành bảo dưỡng ngày và hai cấp bảo dưỡng định kỳ là bảo dưỡng 1 và bảo dưỡng 2.

Nếu đường xá xấu, môi trường hoạt động bẩn, bụi nhiều thì định mức thời gian nói trên giảm từ 15 – 30%.

  • Nội dung bảo dưỡng ô tô cấp 1 bao gồm kiểm tra và bổ sung dầu mỡ như thay dầu động cơ, kiểm tra và bổ sung dầu các hệ thống, tẩy rửa các loại bầu lọc, bơm mỡ vào các vú mỡ, kiểm tra sự làm việc của các loại đồng hồ, các cơ cấu và hệ thống như phanh, lái, xiết chặt bu lông các hệ thống an toàn.
  • Nội dung bảo dưỡng ô tô cấp 2 bao gồm các công việc như cấp 1 cộng thêm các công việc điều chỉnh khe hở nhiệt, điều chỉnh góc đánh lửa, thay dầu động cơ và dầu các hệ thống, thay các lõi lọc, thay chất lỏng làm nail, kiểm tra tất cả các cụm, hệ thống và điều chỉnh nếu cần.

Sửa chữa: là những công việc duy trì và phục hồi tính không hỏng và khả năng làm việc bình thường của xe. Có 2 dạng sửa chữa là sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn.

  • Sửa chữa nhỏ là công việc khắc phục các hư hỏng cục bộ, ngẫu nhiên của các chi tiết trong các cụm máy, có thể tháo một phần hoặc thay thế một số cụm, chi tiết bằng chi tiết mới hoặc chi tiết sửa chữa.
  • Sửa chữa lớn (đại tu) được tiến hành theo định kỳ để phục hồi khả năng làm việc đầy đủ của tất cả các chi tiết, cụm máy ô tô bằng cách phục hồi hoặc thay thế tất cả các chi tiết mòn, hỏng bằng chi tiết mới hoặc chi tiết sửa chữa. Đặc trưng trong quy trình sửa chữa ô tô này là tháo toàn bộ xe để sửa chữa, thay thế các chi tiết, bộ phận rồi lắp lại như mới. Yêu cầu xe phải được phục hồi khả năng làm việc bằng ít nhất 80% so với xe mới. Sửa chữa lớn thường được thực hiện trong các xưởng sửa chữa có lấy đủ trang thiết bị cơ bản phục vụ tháo lắp, gia công cơ khí và kiểm tra.

2.2. Quy trình sửa chữa ô tô hiện nay

Xe hoặc các cụm máy cần phải sửa chữa lớn khi các chi tiết cơ bản bị hỏng cần phải sửa chữa hoc thay thế (khung xe đối với ô tô hoặc thân máy đối với động cơ), hoặc các chi tiết chính bị mòn tới mức làm cho việc sử dụng phương tiện không đảm bảo tính kinh tế. Trong điều kiện sử dụng bình thường, xe và động cơ thường được sửa chữa lớn sau khi chạy được khoảng 150.000 – 250.000 km tuỳ thuộc chủng loại. Xe tải có chu kỳ sửa chữa lớn ngắn hơn xe du lịch.

Trong xưởng sửa chữa ô tô, quy trình sửa chữa lớn gồm các công đoạn sau đây

Bước 1: Tiếp nhận xe vào sửa chữa, rửa ngoài.

Bước 2: Tháo các cụm ra khỏi xe.

Bước 3: Tháo rời chi tiết từ các cụm.

Bước 4: Rửa và kiểm tra, phân loại chi tiết.

Bước 5: Sửa chữa, phục hồi các chi tiết và cụm máy.

Bước 6: Lắp. điều chỉnh, chạy rà, thử nghiệm các cụm.

Bước 7: Lắp xe, thử xe, sơn xe và giao xe.

Mỗi công đoạn trong quy trình sửa chữa ô tô tuỳ thuộc vào năng lực chuyên môn, vốn đầu tư, năng lực sản xuất và số lượng khách hàng của các xưởng. Các xưởng có thể bố trí thợ làm việc theo cách chuyên môn hoá mỗi thợ làm một loại công việc nhất định nếu công việc nhiều; hoặc theo cách một thợ có thể làm được tất cả các loại công việc sửa chữa xe từ động cơ đến các hệ thống gầm nếu ít việc.

3. Trang thiết bị, dụng cụ dùng trong bảo dưỡng và sửa chữa ô tô

Để thực hiện yêu cầu sửa chữa ô tô đảm bảo an toàn, năng suất và chất lượng, các xưởng sửa chữa thường được trang bị các loại trang thiết bị và dụng cụ chuyên nghiệp sau đây:

3.1. Thiết bị gia công cơ khí, sơn, gò hàn và các thiết bị phục vụ

Đối với các xưởng nhỏ, các thiết bị này gồm máy nén khí, máy ép, các thiết bị vạn năng phục vụ công việc khoan, mài, doa, cắt, gò hàn đơn giản trong sửa chữa. Còn các công việc gia công chính xác thì thuê ngoài. Ngoài ra, các xưởng lớn hoặc các xí nghiệp sửa chữa thường trang bị một số thiết bị gia công cơ khí chuyên dùng để gia công sửa chữa ô tô các phần trục khuỷu, trục cam, xilanh và một số chi tiết cần sửa chữa khác của ô tô.

3.2. Thiết bị vận chuyển và nâng đỡ

Thiết bị thuộc loại này gồm các loại palăng. tời, kích thuỷ lực, giá tháo lắp các cụm để có thể nâng, hạ xe hoặc cẩu các tổng thành như động cơ, hộp số,… ra khỏi xe để sửa chữa và sau đó cẩu lắp trở lại. Trong các xí nghiệp sửa chữa lớn thường trang bị các hệ thống cầu chuyền, tời điện và các loại giá nâng đỡ xe tự động thay cho các loại palăng và kích nói trên.

3.3. Các loại đồ giá chuyên dụng

Gồm các loại giá phục vụ tháo lắp các cụm ô tô như giá tháo lắp động cơ, giá tháo lắp hộp số, ly hợp,… và các loại dụng cụ để lắp các cơ cấu, cụm, hệ thống của các tổng thành hoặc của xe.

3.4. Dụng cụ tháo lắp

Gồm các loại vam, cờ lê điện, cờ lê khí nén, cờ lê lực dùng tay và các loại dụng cụ tháo lắp cầm tay như tuýp, cờ lê, mỏ lết, kìm.

3.5. Dụng cụ đo kích thước

Các loại dụng cụ đo kích thước cũng rất quan trọng trong quy trình bảo dưỡng và sửa chữa ô tô; bao gồm thước cặp, panme và đồng hồ so. Thước lá và các loại đường cũng được dùng để đo kích thước hoặc độ mòn cho phép của các chi tiết ô tô.

  • Thước cặp cho phép đo kích thước trong và ngoài của chi tiết với sai số 0,025mm. Thước cặp thường được dùng cho các kích thước thỏ hoặc các kích thước không đòi hỏi độ chính xác cao. Kết qua cho bằng tổng của giá trị đọc trên thang chính trước vạch 0 của thang trượt và giá trị đọc trên thang trượt tại vạch trùng với một vạch nào đó trên thang chính.
  • Panme có các loại đo kích thước ngoài, kích thước trong và loại đo độ sâu thường có độ chính xác (sai lệch đọc được) đến 0,1mm. Trong quy trình sửa chữa ô tô, panme thường được sử dụng của đo kiểm tra đường kính các có trục hoặc các kích thước lỗ lớn được yêu cầu gia công chính xác của các chi tiết hoặc dùng để đo kiểm tra kích thước của các dưỡng. Kết quả đo bằng tổng của giá trị đọc trên thang chính và giá trị đọc trên thang xoay.
  • Đồng hồ so thể hiện kết quả cho bằng kim chỉ và thường có độ chính xác khoảng 0,01mm. Khi sử dụng, đồng hồ được lắp cố định trên giá đồng hồ, còn mũi tì (mũi do) được tì trên bề mặt cần kiểm tra. Mũi tì dịch chuyển sẽ làm cho kim đồng hồ quay đi một số vạch phản ánh khoảng dịch chuyển của mũi tì. Do vậy, đồng hồ so sẽ chỉ nhảy vị trí của điểm đo so với một điểm chuẩn ban đầu nào đó. Ví dụ, khi dùng đồng hồ so kiểm tra độ rơ dọc của trục cam, người thợ sẽ lắp giá đồng hồ cố định lên thân máy, cho mũi tù tì vào mắt đầu trục cam theo phương dọc trục, đẩy trục dịch hết về phía trước thì kim đồng hồ sẽ chỉ một trị số nào đó. Sau đó đẩy cho trục dịch hết về phía sau thì kim đồng hồ sẽ quay đi một khoảng tính theo vạch chia so với lúc trước và phản ánh độ dịch chuyển của trục, tức là đó rơ dọc của trục. Khi sử dụng công hồ so làm đồng hồ đo lỗ, ví dụ khi đo đường kính xilanh, đồng hồ được lắp trên giá của dụng cụ đo. Giá của dụng cụ đo có chốt lò xo tự đỉnh tâm đảm bảo đường tâm của mũi tì của đồng hồ luôn đi qua tâm xilanh. Kích thước chuẩn (kích thước so sánh) được điều chỉnh bằng kích thước danh nghĩa (kích thước nguyen thuy) của xilanh, khi đo, kim đồng hồ sẽ chỉ độ chênh của kích thước đo so với kích thước của xilanh. Do đó, kích thước đo D sẽ bằng kích thước chuẩn cộng với chỉ số đọc trên đồng hồ.
  • Thước lá có nhiều lá với độ dày khác nhau được dùng để đo khe hở giữa hai bộ phận hoặc hai chi tiết. Ví dụ đo khe hở giữa đuôi xupáp và dầu cần bẩy. Khi đó, chỉ cần thử từng lá, độ lớn của khe hở sẽ là chiều dày của lá dày nhất có thể đưa qua được khe hở. Các dưỡng do có loại kích thước cố định hoặc kích thước điều chỉnh theo kích thước đo. Kích thước của dưỡng đo được kiểm tra bằng panme.

4. Yêu cầu an toàn trong bảo dưỡng và sửa chữa ô tô

Để đảm bảo an toàn lao động là một trong những yêu cầu đặt ra trước tiên, người thợ cũng nên chú ý tới các nguy cơ gây mất an toàn và chấp hành đúng các quy định trong xưởng. Đọc thêm phương pháp 5S áp dụng trong lĩnh vực sản xuất và sửa chữa công nghiệp.

4.1. Nguyên nhân gây nguy hiểm trong an toàn lao động

– Hút thuốc trong quá trình làm việc. Đặc biệt trong lúc tiếp xúc với xăng, dầu, các chất dễ cháy nổ.

– Để chướng ngại vật chắn lối thoát hiểm khiến khó thoát khi có hỏa hoạn.

– Để dầu mỡ vấy bẩn nền đất dễ gây trượt chân ngã, gây tai nạn khi đi lại và làm việc trong xưởng.

– Không mang đủ trang phục bảo hộ lao động như giầy, quần áo, mũ, kính và không chấp hành quy định an toàn khi làm việc với các máy quay như máy mài, khoan, quạt gió.

– Để khí độc xả ra xưởng, không xả vào các hệ thống thoát khí.

4.2. Nguyên nhân gây nguy hiểm từ sử dụng thiết bị không đúng

– Các máy móc có bộ phận chuyển động như quạt nên xưởng, dây curoa máy nén khí, trục truyền của các băng thử,… không được che chắn an toàn.

– Các dây dẫn điện bị hỏng lớp cách điện. 

– Cất giữ và sử dụng các bình khí nén không đúng quy định.

– Các thiết bị điện không nối đất an toàn hoặc để hoạt động mà không chú ý.

– Các giá nâng xe không an toàn

– Các dụng cụ cầm tay bản, dính dầu mỡ hoặc nứt vỡ.

4.3. Quy định chung dành cho thợ xưởng

Các quy định chung đối với thợ xưởng đảm bảo quy trình bảo dưỡng và sửa chữa ô tô diễn ra an toàn bao gồm:

– Không hút thuốc, hoặc bật lửa châm thuốc gần khu vực dễ gây cháy nổ.

– Đảm bảo nhà xưởng sạch sẽ và thông gió tốt.

– Bảo quản xăng dầu và các chất dễ cháy theo quy định an toàn. 

– Biết rõ nơi đặt các bình cứu hoả và biết cách sử dụng. 

– Làm việc một cách yên tĩnh và luôn chú ý đến công việc đang làm.

– Sử dụng các thiết bị và dụng cụ cầm tay đúng quy cách.

– Không nói thêm tay đòn cho dụng cụ khi xiết các bu lông, đai ốc.

– Không dùng cờ lê hệ inch để vặn các đai ốc hệ mét và ngược lại.

– Khi dùng mỏ lết phải chú ý chiều tác dụng lực.

– Không nên để tuốc nơ vít, dao cắt hoặc các vật nhọn trong túi quần, túi áo vì chúng có thể làm bị thương trong quá trình làm việc.

– Mang trang phục bảo hộ lao động, quấn tóc gọn gàng đúng quy định.

– Lau sạch tay và dụng cụ dính dầu mỡ.

– Không để dầu mỡ chảy dưới nền xưởng, cần lau sạch ngay để tránh trơn trượt.

– Kê kích xe, chèn cẩn thận khi làm việc dưới gầm.

– Sử dụng đúng dụng cụ cho mỗi loại công việc.

– Đọc kỹ hướng dẫn khi dùng các dụng cụ bảo dưỡng và sửa chữa ô tô có điện hoặc khí nén.

Lưu ý: Thông tin bài viết mang tính chất tham khảo. Nếu copy, vui lòng để backlink đường dẫn phía cuối bài và không để nofollow trong code.

Đọc thêm:

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :