Home / Thú Cưng / Canine Adenovirus (CAV-2) ở chó: chẩn đoán xét nghiệm & điều trị

Canine Adenovirus (CAV-2) ở chó: chẩn đoán xét nghiệm & điều trị

/

Virus Adenovirus ở chó bao gồm 2 loại chính là CAV-1 và CAV-2. Trong đó, loại CAV-2 là tác nhân gây bệnh đường hô hấp do virus ở chó (CIRD), còn được gọi là viêm khí quản-phế quản truyền nhiễm ở chó. Nhiễm trùng thường không có triệu chứng, nhưng có thể dẫn đến các biểu hiện về đường hô hấp từ ho nhẹ đến viêm phổi, hiếm gặp hơn là các dấu hiệu thần kinh và về đường tiêu hóa.

Mặc dù có liên quan chặt chẽ, CAV-2 về mặt di truyền lại khác biệt với CAV-1, tác nhân gây bệnh viêm gan truyền nhiễm ở chó. Tiêm phòng CAV-2 hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh do cả CAV-1 và CAV-2 gây ra, giúp giảm thiểu nhiễm trùng ở những quần thể được tiêm chủng.

Virus Adenovirus (CAV-2) ở chó là gì?

CAV-2, thuộc họ virus Adenoviridae, là một dạng virus DNA không có màng bọc với phân tử xoắn kép. Ổ cắm ưa thích của nó nằm rải rác khắp đường hô hấp trên, từ niêm mạc đến phế nang và hạch bạch liên quan. So với CAV-2, CAV-1 lại thích bám trụ gan, thận và mạch máu hơn. Đường truyền nhiễm của CAV-2 là qua đường mũi-miệng. Nó nhanh chóng nhân đôi trong các tế bào bề mặt đường hô hấp trên, tế bào tiết chất nhầy ở khí quản và phế quản, tế bào biểu mô ống phế quản không có lông mao và tế bào phổi loại II. Chỉ trong 3-6 ngày nhiễm virus, tổn thương mô bắt đầu xuất hiện và kéo dài cho đến khoảng ngày thứ 9 thì kháng nguyên virus mới biến mất. Tổn thương mô ban đầu này tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng vi khuẩn thứ phát, kéo dài diễn biến bệnh. Các vi khuẩn đồng nhiễm thường gặp nhất là Mycoplasma canis, Mycoplasma cynos, Bordetella bronchiseptica và Streptococcus equi subspecies zooepidemicus.

Tỷ lệ nhiễm CAV-2 khác nhau tùy theo nghiên cứu và quốc gia, phụ thuộc vào tình trạng tiêm chủng và sở hữu của chó trong mẫu nghiên cứu. Virus phân bố toàn cầu, trong đó chó chưa tiêm phòng và chó không có chủ được nhận định là có nguy cơ nhiễm cao hơn. Một nghiên cứu trên chó khỏe tại các trại cứu hộ động vật ở Mỹ cho thấy CAV-2 là virus đường hô hấp được phát hiện thường xuyên nhất với tỷ lệ 12,5%. Mỗi loài thường nhạy cảm với một kiểu gen Adenovirus riêng, gây ra cả nhiễm trùng không triệu chứng lẫn nhiều biểu hiện bệnh lý khác nhau trên động vật có vú (kể cả người), bò sát, chim và cá. Nhiều loài chó hoang dã cũng dễ nhiễm CAV-1 và CAV-2. Mặc dù có bằng chứng cho thấy một số kiểu gen Adenovirus lây lan giữa người và linh trưởng không phải người cũng như các loài khác, bao gồm cả mèo, nhưng CAV-1 và CAV-2 không được coi là bệnh lây từ động vật sang người. Do khả năng đột biến và phạm vi rộng trên nhiều loài, Adenovirus được coi là mối đe dọa cần theo dõi đối với sức khỏe con người.

Chẩn đoán bệnh Adenovirus (CAV-2) ở chó: Đuổi bắt thủ phạm sớm thế nào?

Để chẩn đoán chính xác nhiễm CAV-2, xét nghiệm PCR (phản ứng chuỗi polymerase) trên mẫu dịch lấy từ đường hô hấp trên là phương pháp tiêu chuẩn. Lưu ý rằng khả năng nhân đôi của virus đạt đỉnh trong khoảng 3-6 ngày sau nhiễm và giảm dần, trở nên khó phát hiện sau 9 ngày. Vì vậy, việc lấy mẫu cần được thực hiện càng sớm càng tốt sau khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng.

Tuy nhiên, hạn chế chính của PCR là việc tiêm phòng gần đây có thể dẫn đến kết quả dương tính giả, không phản ánh tình trạng bệnh thực tế. Trong nghiên cứu, chó con đã cho kết quả dương tính với CAV-2 trên PCR tới 21 ngày sau khi tiêm vắc-xin virus sống giảm độc lực (MLV) mặc dù không biểu hiện triệu chứng. Do đó, khi đánh giá kết quả PCR, cần cân nhắc cả yếu tố tiêm phòng gần đây và triệu chứng lâm sàng để đưa ra quyết định điều trị chính xác.

Điều trị nhiễm CAV-2 ở chó: Hỗ trợ đúng cách, mau khỏi bệnh

May mắn là nhiều trường hợp nhiễm CAV-2 không có triệu chứng và không cần điều trị đặc biệt. Yếu tố nguy cơ chính dẫn đến nhiễm trùng và chuyển nặng thành bệnh là chưa tiêm phòng và nhiễm đồng thời với các loại virus khác. Mặc dù mật độ chó đông đúc tại trại cứu hộ và nhà trọ chó có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm và đồng nhiễm các tác nhân gây bệnh đường hô hấp, chó nuôi riêng lẻ cũng được coi là ổ chứa virus tiềm ẩn và có thể mang mầm bệnh mà không biểu hiện triệu chứng.

Là một virus không có màng bọc, CAV-2 có thể tồn tại trên bề mặt ít nhất 7 ngày. Do đó, việc lựa chọn chất khử trùng hiệu quả là điều cần thiết để vệ sinh môi trường.

Khi có triệu chứng, biểu hiện thông thường của nhiễm CAV-2 không biến chứng thường khó phân biệt với các bệnh đường hô hấp khác, bao gồm ho do viêm thanh khí quản, sốt, chảy nước mũi và mắt màu xanh đục, lờ đờ và sụt cân. Với các trường hợp nhiễm virus cấp tính kéo dài dưới 10 ngày, không kèm biếng ăn hay lờ đờ, chăm sóc hỗ trợ là điều trị ưu tiên. Thuốc long đờm không được khuyến cáo sử dụng. Thuốc giảm ho có thể tạm thời làm giảm ho khan nhưng chống chỉ định với ho có đờm vì chúng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng vi khuẩn thứ phát. Điều trị kháng sinh được chỉ định sau 10 ngày bệnh tiến triển hoặc nếu có thêm các triệu chứng như biếng ăn, lờ đờ, sốt ngoài tiết dịch xanh đục. Doxycycline trong 7-10 ngày là lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm phổ biến nhất cho giai đoạn đầu.

Viêm phổi là biến chứng phổ biến và nghiêm trọng nhất của nhiễm CAV-2, do tăng độ bám dính mô và nhiễm trùng cơ hội do vi khuẩn. Dấu hiệu lâm sàng cho thấy chuyển thành viêm phổi bao gồm ran nổ hoặc rít khi nghe phổi, sốt và khó thở. Chẩn đoán đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh và hướng dẫn điều trị có thể bao gồm chụp X-quang ngực cho thấy tổn thương phế nang, công thức máu toàn bộ, và nuôi cấy mẫu dịch qua nội khí quản hoặc rửa phế nang và kháng sinh đồ. Doxycycline có thể là lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm phù hợp cho viêm phổi nhẹ khi chưa thể làm kháng sinh đồ.

Viêm phổi nặng kèm dấu hiệu nhiễm trùng huyết, bao gồm hạ đường huyết và màng nhầy xung huyết, cần điều trị đa mô thức đường tiêm, chẳng hạn như kết hợp fluoroquinolone với kháng sinh phổ rộng với vi khuẩn gram dương và kỵ khí, cho đến khi có kết quả kháng sinh đồ.

Xét nghiệm kháng thể CAV-2: Đánh giá nhưng không thay thế tiêm phòng

Xét nghiệm kháng thể CAV-2 có thể thực hiện bằng cách đo nồng độ kháng thể (titers) thông qua thử nghiệm trung hòa virus tại phòng xét nghiệm chuyên khoa hoặc sử dụng bộ xét nghiệm kháng thể ELISA bán sẵn tại điểm chăm sóc. Mục đích của xét nghiệm kháng thể bao gồm:

  • Kiểm tra đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng ban đầu.
  • Đánh giá nhu cầu tiêm lại vaccine.
  • Xác định mức độ nguy cơ trong quá trình kiểm soát dịch bệnh bùng phát.

Tuy nhiên, xét nghiệm kháng thể cũng có một số hạn chế:

  • Khó khăn trong việc giải thích nồng độ kháng thể thấp, vì tế bào nhớ miễn dịch có thể sản sinh thêm kháng thể khi bị nhiễm bệnh.
  • Chưa chắc chắn về khả năng bảo vệ chéo giữa các chủng CAV-2 khác nhau.
  • Bộ xét nghiệm nhanh tại điểm chăm sóc chưa được đánh giá độc lập về độ chính xác.

Mặc dù nồng độ kháng thể có thể giúp đánh giá nguy cơ nhiễm CAV-1 và CAV-2 đối với thú cưng sống trong môi trường đông đúc hoặc có lịch sử tiêm phòng phức tạp, bạn không nên dựa hoàn toàn vào kết quả xét nghiệm thay thế cho việc tiêm phòng.

Tiêm phòng vaccine CAV-2: Lá chắn bảo vệ hiệu quả cho chó cưng

Tiêm phòng là phương pháp chính ngăn ngừa bệnh do cả CAV-2 và CAV-1 gây ra. Vaccine hiệu quả và phổ biến nhất cho cả hai loại adenovirus ở chó là vaccine MLV chứa CAV-2. Loại vaccine này tạo ra khả năng bảo vệ chéo chống lại CAV-1, do đó cũng ngăn ngừa được bệnh viêm gan truyền nhiễm ở chó. Mặc dù tiêm phòng không hoàn toàn ngăn chặn virus xâm nhập cơ thể chó đã tiêm, nhưng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong giảm đáng kể.

Lịch tiêm phòng hiện tại khuyến cáo bắt đầu tiêm vaccine MLV CAV-2 từ 6 tuần tuổi, sau đó cách nhau 2-4 tuần cho đến 16-20 tuần tuổi tùy theo nguy cơ phơi nhiễm và khả năng bị kháng thể từ mẹ ảnh hưởng. Đối với chó trên 16 tuần tuổi khi tiêm lần đầu, mũi thứ hai cách mũi thứ nhất 2-4 tuần. Sau khi hoàn thành loạt tiêm ban đầu, mũi tiếp theo được tiêm cách mũi cuối cùng 1 năm, sau đó tiêm lại định kỳ 3 năm một lần.

Các sản phẩm thương mại có chứa MLV CAV-2 thường được tiêm dưới da và kết hợp với các thành phần vaccine khác như bệnh dại, parvovirus, parainfluenza và Leptospira. Nghiên cứu cho thấy tiêm đồng thời các thành phần này cùng với vaccine dại vẫn đảm bảo đáp ứng kháng thể tốt. Do thời gian miễn dịch khác nhau, việc tiêm chủng đầy đủ ban đầu và nhắc lại 3 năm một lần là điều cần thiết. Trong môi trường đông đúc như trại cứu hộ, tiêm phòng cho 90% chó tại cơ sở có vai trò quan trọng trong việc giảm các triệu chứng của bệnh đường hô hấp do virus.

Tác dụng phụ nghiêm trọng của vaccine MLV CAV-2 hiếm gặp. Một nghiên cứu cho thấy 36% chó có phản ứng nhẹ thoáng qua sau tiêm như li bì, sưng hạch bạch và tiêu chảy, với một trường hợp sưng đau tại chỗ tiêm. Giống như các loại vaccine khác, phản ứng quá mẫn và thi thoảng là thiếu máu tán huyết do miễn dịch có thể xảy ra, mặc dù chưa rõ tỷ lệ liên quan trực tiếp đến thành phần CAV-2. Các loại vaccine cũ chứa virus CAV-1 cũng hiệu quả với cả hai chủng virus nhưng gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng hơn, bao gồm viêm thận kẽ và phù giác mạc (mắt xanh), vì vậy hiện nay không còn được sử dụng phổ biến.

Tóm lại

CAV-2 là một loại virus phổ biến tồn tại trong quần thể chó khỏe mạnh trên toàn thế giới. Nó là một nguyên nhân đáng kể gây ra Hội chứng Hô hấp Do Virus Ở Chó (CIRD), đặc biệt khi kết hợp với các bệnh nhiễm trùng do virus hoặc vi khuẩn khác. Tiêm phòng bằng vắc xin MLV là điều cần thiết để giảm các triệu chứng lâm sàng và ngăn ngừa bệnh viêm gan truyền nhiễm ở chó.

Nguồn tham khảo:

  • Benetka V, Weissenböck H, Kudielka I, et al. Canine adenovirus type 2 infection in four puppies with neurological signs. Vet Rec.
    2006;158(3):91-94.
  • Macartney L, Cavanagh HMA, Spibey N. Isolation of canine adenovirus-2 from the faeces of dogs with enteric disease and its unambiguous typing by restriction endonuclease mapping. Res Vet Sci. 1988;44(1):9-14.
  • Maboni G, Seguel M, Lorton A, et al. Canine infectious respiratory disease: new insights into the etiology and epidemiology of associated pathogens. PLoS One. 2019;14(4):e0215817.
  • Grad R, Sobonya RE, Witten ML, et al. Localization of inflammation and virions in canine adenovirus type 2 bronchiolitis. Am Rev Resp Dis. 1990;142(3):691-699.
  • Cardillo L, Piegari G, Iovane V, et al. Lifestyle as risk factor for infectious causes of death in young dogs: a retrospective study in southern Italy (2015-2017). Vet Med Int. 2020;2020:6207297.
  • Lappin MR, Blondeau J, Boothe D, et al. Antimicrobial use guidelines for treatment of respiratory tract disease in dogs and cats: Antimicrobial Guidelines Working Group of the International Society for Companion Animal Infectious Diseases. J Vet Intern Med. 2017;31(2):279-294.
  • Schulz BS, Kurz S, Weber K, et al. Detection of respiratory viruses and Bordetella bronchiseptica in dogs with acute respiratory tract infections. Vet J. 2014;201(3):365-369.
  • Lavan R, Knesl O. Prevalence of canine infectious respiratory pathogens in asymptomatic dogs presented at US animal shelters. J Small Anim Pract. 2015;56(9):572-576.
  • Borkenhagen LK, Fieldhouse JK, Seto D, Gray GC. Are adenoviruses zoonotic? A systematic review of the evidence. Emerg Microbes Infect. 2019;8(1):1679-1687.
  • Ongrádi J, Chatlynne LG, Tarcsai KR, et al. Adenovirus isolated from a cat is related to human adenovirus 1. Front Microbiol. 2019;10:1430.
  • Buonavoglia C, Martella V. Canine respiratory viruses. Vet Res. 2007;38(2):355-373.
  • Ruch-Gallie R, Moroff S, Lappin MR. Adenovirus 2, Bordetella bronchiseptica, and parainfluenza molecular diagnostic assay results in puppies after vaccination with modified live vaccines. J Vet Intern Med. 2016;30(1):164-166.
  • Reagan KL, Sykes JE. Canine infectious respiratory disease. Vet Clin North Am Small Anim Pract. 2020;50(2):405-418.
  • Bergmann M, Freisl M, Zablotski Y, et al. Antibody response to canine adenovirus-2 virus vaccination in healthy adult dogs. Viruses. 2020;12(10):1198.
  • Ford RB, Larson LJ, McClure KD, et al. 2017 AAHA canine vaccination guidelines. JAAHA. 2017;53(5):243-251.
  • Bouvet J, Cariou C, Poulard A, et al. Compatibility between a rabies vaccine and a combined vaccine against canine distemper, adenovirosis, parvovirosis, parainfluenza virus and leptospirosis. Vet Immunol Immunopathol. 2018;205:93-96.
  • Taguchi M, Namikawa K, Maruo T, et al. Antibody titers for canine parvovirus type-2, canine distemper virus, and canine adenovirus type-1 in adult household dogs. Can Vet J. 2011;52(9):983-986.
  • Andrukonis A, Brown KM, Hall NJ, Protopopova A. Intake vaccinations reduced signs of canine respiratory disease during an outbreak at an animal shelter. Front Vet Sci. 2021;8:627580.
This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :