Home / Nhà Đất / 17 nguyên lý màu sắc trong thiết kế nội thất kiến trúc nhà ở

17 nguyên lý màu sắc trong thiết kế nội thất kiến trúc nhà ở

/

Quan hệ màu sắc bổ túc, không bổ túc, điều tiết độ sáng bóng là những nguyên lý phối hợp màu sắc quan trọng trong thiết kế nội thất nhà ở.

nguyên lý kết hợp màu sắc trong thiết kế nội thất

1. Quan hệ màu sắc bổ túc

1.1. Màu sắc bổ túc là gì

Màu sắc đối diện (đối góc 180°) của mỗi một màu sắc trong vòng tròn màu được gọi là màu bổ túc (màu tương phản). Cũng có thể định nghĩa như thế này: hai màu sắc có thể phân biệt rõ ràng được gọi là màu bổ túc.

Về mặt màu sắc học, gọi mối quan hệ giữa màu nhị nguyên và màu tam nguyên là quan hệ bổ túc. Ví dụ, màu xanh lục là do màu vàng kết hợp với màu lam mà thành, màu đỏ là màu bổ túc của màu xanh lục, màu cam là do màu đỏ kết hợp với màu vàng mà thành, màu xanh lam đã bổ túc màu tam nguyên; màu tím là do màu đỏ kết hợp với màu xanh lam mà thành, màu vàng tức là màu bổ túc của màu tím.

Nếu đặt song song màu bổ túc với nhau, thì sự tương phản của hai màu bổ túc là mạnh nhất, bắt mắt nhất, rõ ràng nhất: màu đỏ và màu xanh lục, màu cam và màu xanh lam, màu vàng và màu tím, là ba cặp màu bổ túc cơ bản nhất. Trong bánh xe màu, màu sắc đối diện với chúng là màu bổ túc, sự tương phản màu sắc giữa chúng là mạnh nhất. Sự tương phản này bao gồm tương phản độ sáng, tương phản độ bão hòa, tương phản nóng lạnh, tương phản màu sắc và phai màu. Sự bổ túc của việc dùng những màu sắc tương phản này đem lại cho màu sắc sức biểu hiện mạnh mẽ.

Do màu bổ túc có tính phân ly mạnh, cho nên trong phối màu cho nhà cửa, có thể vận dụng hợp lý màu bổ túc ở vị trí phù hợp, như vậy không chỉ có thể tăng tính tương phản của màu sắc, kéo dài cảm giác cự ly, mà còn có thể bộc lộ rõ hiệu quả tương phản và cân bằng thị giác đặc thù.

1.2. Màu đỏ và màu xanh lục là một cặp màu bổ túc được ứng dụng nhiều

Sắp xếp hai màu đỏ và xanh lục với nhau có thể tạo ra hiệu quả tương phản mạnh. Phương án phối màu này có thể khiến cho căn phòng đầy sức sống và tràn đầy sinh khí, rất phù hợp để trang trí cho phòng sinh hoạt chung của gia đình, thậm chí là phòng làm việc của gia đình.

Căn phòng bình thường tốt nhất không nên dùng sự tương phản mạnh này, bởi vì thường xuyên nhìn sẽ tạo nên kích thích đối với thị giác, trong thời gian dài, dễ gây ra sự mệt mỏi cho thị giác.

1.3. Màu vàng cam và màu xanh lam cũng là một cặp màu bổ túc được ứng dụng nhiều

Màu cam và màu xanh lam là một cặp màu bổ túc, nhưng khác với màu đỏ và màu xanh lục, chúng hiện lên hài hòa, gần gũi hơn, rất phù hợp với nhóm người khoảng 30 tuổi.

Nếu vận dụng màu vàng cam và màu xanh lam trong phòng khách, sẽ tạo ra vẻ đẹp khác biệt. Tường tivi màu vàng hoặc màu cam sẽ rực rỡ và có tính trang trí rất mạnh, sofa, đệm tựa cũng có thể thiết kế thành màu cam nhạt để hài hòa với tường tivi.

1.4. Ứng dụng khác của màu sắc bổ túc

Để giảm sự mệt mỏi do nhìn một màu sắc trong một thời gian dài, thần kinh thị giác sẽ phát ra một màu bổ túc tương phản để tự điều tiết. Màu tương phản chính là một hiện tượng sinh lý do giác quan thị giác của con người sinh ra, là tác dụng cân bằng của võng mạc mắt đối với màu sắc.

Ví dụ, trên giấy màu trắng vẽ một hình vẽ màu đỏ tươi, sau đó nhìn nó một lúc, rồi lại chuyển qua một trang giấy trắng không có bất kỳ một hình vẽ nào, bạn sẽ phát hiện trên trang giấy trắng này đã xuất hiện một hình vẽ y hệt như vừa nãy, nhưng màu sắc của nó lại đã biến thành màu xanh lục nhạt, điều này cũng có thể giải thích nguyên nhân là vì màu bổ túc của màu đỏ là màu xanh lục.

2. Quan hệ màu sắc không bổ túc

Trong màu sắc học, màu không bổ túc bao gồm hai loại màu là màu tương đồng và màu cùng loại, chúng đều là loại màu khá giống nhau hoặc đặt với nhau không có cảm giác tương phản mạnh. Màu bổ túc của một loại màu chỉ có một loại, nhưng màu tương đồng và màu cùng loại lại có rất nhiều, về mặt biểu hiện tính phong phú và cảm giác tầng thứ của nhà cửa, tác dụng của chúng là không thể thay thế.

2.1. Màu tương đồng

Màu tương đồng là màu hoàn toàn ngược lại với màu bổ túc, màu bổ túc có tính chất hoàn toàn không hòa hợp và tương phản mạnh, đồng thời giữa các màu tương đồng thường là có màu sắc của nhau trong đó. Trong bánh xe màu, trên vòng tròn màu, bất kỳ một màu sắc nào giống với màu gần với nó (trong phạm vi 60°) đều thuộc phạm vi của màu tương đồng. Màu tương đồng cũng là quan hệ màu tương tự, chỉ là phạm vi thu nhỏ một chút. Ví dụ màu đỏ và màu vàng, màu xanh lục và màu xanh lam đều là màu tương đồng.

Màu đỏ tươi và màu da cam, màu đỏ tươi lấy màu đỏ làm chủ đạo, bên trong có một chút màu vàng; màu da cam lấy màu vàng làm chủ đạo, bên trong có một ít màu đỏ, tuy chúng có sự khác biệt rất lớn về mặt màu sắc, nhưng về mặt thị giác lại rất gần nhau.

Quan sát cặp màu tương đồng màu đỏ và màu vàng này trong vòng tròn màu, trị số màu sắc, độ sáng của chúng khác nhau, nhưng rất gần nhau, nếu so sánh màu cam và màu vàng hoặc màu cam và màu đỏ thì trị số màu sắc, độ sáng của chúng sẽ gần hơn.

Điều cần phải nói rõ là, giữa các màu sắc của hệ màu tương đồng, độ tương phản đen trắng về mặt thị giác là không lớn và rất thống nhất, tạo nên cảm giác hài hòa, nhìn yên định, vững vàng, không làm mất đi sức sống và là loại hình phối màu rất dễ vận dụng.

2.2. Màu cùng loại

Màu cùng loại là màu gần hơn màu tương đồng, nó chủ yếu chỉ sự biến hóa màu sắc khác nhau trong cùng một màu. Nếu dựa theo nhu cầu để điều phối ra màu cùng loại phù hợp hơn, phong phú hơn, thì sức biểu hiện màu sắc không gian của chúng ta sẽ rất mạnh, không chỉ tốt cho việc điều hòa màu sắc, mà còn có thể thể hiện sự biến hóa tinh tế.

Ví dụ, màu đỏ có rất nhiều loại như màu đỏ tím, màu đỏ đậm, màu đỏ hoa hồng, màu đỏ chót, màu đỏ tươi, màu đỏ cam… và màu vàng cũng có màu vàng đậm, màu vàng đất, màu vàng cam, màu vàng nhạt, màu vàng chanh… Quan sát 4 màu đỏ tím, đỏ thẫm, đỏ hoa hồng, đỏ chót trong vòng tròn màu thì chúng đều thuộc hệ màu đỏ, nhìn từ màu sắc của 4 màu cùng loại này, độ sáng có sự biến hóa hòa hoãn, mờ nhạt trong tiết tấu yếu trong mạnh.

Điều cần phải nói rõ là, những màu sắc này sẽ đem đến cho con người cảm nhận tâm lý dịu dàng, tao nhã, yên tĩnh. Trong vận dụng màu sắc cho nhà cửa, sử dụng nhiều màu phối của hệ màu cùng loại, là một cách làm rất cẩn thận và đáng tin cậy. Nhưng phải chú ý dùng một số biểu hiện của màu bổ túc và màu tương đồng để giảm thiểu cảm giác đơn điệu của không gian.

2.3. Ứng dụng khác của phối màu không bổ túc

Màu không bổ túc đều là màu có sắc thái rất gần nhau, chúng sẽ không xung đột nhau, cho nên kết hợp chúng trong phòng, có thể dễ dàng tạo ra không gian hài hòa, nhẹ nhàng hơn. Những màu sắc này phù hợp nhất với phòng khách, phòng đọc sách hoặc phòng ngủ. Để cân bằng màu sắc, cố gắng sử dụng màu sắc khác nhau có độ 6ão hòa tương đồng.

Những màu sắc này cũng phù hợp với căn phòng mà người già sử dụng, nhưng hải chọn dùng nhiều màu không bổ túc, để tạo ra bầu không khí hài hòa, giảm cảm giác kích thích. Chú ý độ thuần khiết của màu sắc không nên quá cao, nếu không làn da vốn lão hóa sẽ trông kém hơn trong màu sắc có độ thuần khiết cao với điện tích lớn. Do đó, màu sắc của căn phòng cho người già nên dùng màu ấm, độ thuần khiết thấp, kết hợp thêm màu cá nhân yêu thích với diện tích nhỏ để điểm xuyết.

3. Kết hợp màu sắc trong không gian nội thất

Màu hỗn hợp trung gian là màu trung gian của hai màu sắc điều hòa với nhau, cũng là màu chuyển tiếp và màu hỗn hợp của hai loại màu.

3.1. Phân loại màu chuyển tiếp

3.1.1. Màu nhị hợp

Màu nhị hợp là màu sắc do hai loại màu cơ bản phối với nhau tạo ra, ví dụ như màu đỏ phối với màu vàng ra màu da cam, màu vàng phối với màu xanh lam ra màu xanh lục; màu đỏ phối với màu xanh lam ra màu tím. Mặc dù là màu nhị hợp, nhưng loại màu này vẫn có sức ảnh hưởng đến thị giác rất mạnh, từ đó đem đến cho căn phòng bầu không khí thoải mái, tươi sáng, vui vẻ.

3.1.2. Màu tam hợp

Màu tam hợp là do ba loại màu phối với nhau tạo ra, ví dụ màu đỏ, phối với màu xanh lam ra màu tím; màu xanh lam là do màu xanh lục và màu vàng hòa hợp với nhau mà có.

Khi phối màu, nếu màu cơ bản có một số biến hóa về mặt phân lượng nhiều ít, thì màu sắc phối ra cũng sẽ phong phú đa dạng, sinh ra nhiều loại biến hóa màu trung gian.

Màu chuyển tiếp có thể thống nhất một số loại màu sắc không hài hòa. Trong thiết kế màu sắc cho nhà cửa, sử dụng hợp lý màu chuyển tiếp có thể khiến cho bài trí nhà cửa trở nên phong phú và đa biến. Có thể dùng màu trung gian của hai loại màu, cũng có thể trong màu đơn cho vào màu đen, màu trắng, màu xám để tiến hành điều hòa, hay trong màu đơn cho vào màu tương đồng…

3.2. Ứng dụng của màu xám

Màu xám là màu hỗn hợp trung gian của màu đen và màu trắng. Do độ xám của nó biến hóa rất phong phú, có thể đủ tạo nên cảm giác tầng thứ và cảm giác lập thể rất mạnh, nên màu này được ứng dụng rất rộng rãi.

Màu xám chỉ có thể dựa vào sự biến hoá tầng thứ của bản thân để tạo nên cảm giác không gian, phương án phối màu của màu không sắc có lúc sẽ hiện lên khô cứng và cảm giác hơi lạnh cho nên có thể điểm xuyết một số màu sắc tươi sáng lên màu nền của màu xám, trông sẽ có sức sống hơn. Thông qua sự tương phản tươi sáng của sáng tối, khiến cho cảm giác yên tĩnh và nhảy múa xuất hiện trên cùng một khu vực, tạo nên vẻ thời thượng mà đẹp đẽ, là phương pháp phối màu được các nhà thiết kế hiện đại thường sử dụng.

3.3. Sự điều hòa màu trung gian trong thiết kế nội thất

Sự điều hòa của màu trung gian chính là cùng hỗn hợp hai loại màu sắc, tạo ra một hoặc một vài màu trung gian nằm ở giữa hai màu, tạo nên sự chuyển tiếp thay đổi dần của màu sắc và độ thuần khiết, từ đó khiến cho màu tương phản hoặc màu bổ túc đều đạt đến sự điều hòa.

Chú ý nên tránh hỗn hợp tương đương của màu tương phản hoặc màu bổ túc, cố gắng lấy một màu trong đó làm chủ đạo, khiến cho màu sắc của nó vừa hàm súc lại vừa rõ ràng. Màu hỗn hợp trung gian có thể hài hòa độ tương phản đen trắng và độ mạnh tương phản của hai loại màu, khiến cho chỉnh thể không gian rất hài hòa.

4. Điều tiết ánh sáng trong căn phòng

Bản thân màu sắc có độ sáng nhất định, nó có thể điều tiết độ sáng của căn phòng ở một mức độ nào đó.

4.1. Lựa chọn màu sắc dựa theo độ sáng vốn có của căn phòng

4.1.1. Căn phòng hướng mặt trời

Không gian hướng mặt trời thường đều lấy ánh sáng rất tốt, không cần phải thiết kế quá nhiều để tăng cảm giác sáng. Nhưng điều cần phải chú ý là khi ánh nắng mặt trời buổi trưa chiếu trực tiếp, nếu căn phòng có mặt tường toàn màu trắng sẽ khiến cho mọi người có cảm giác chói hoặc bị ánh nắng mặt trời chiếu, rất không thoải mái.

Khoa học cũng chứng minh, vật liệu sơn màu trắng ảnh hưởng rất lớn đối với mắt người và vật liệu sơn màu nhạt ảnh hưởng tương đối nhỏ đối với mắt người. Tại rất nhiều quốc gia châu Âu đã dùng màu vàng nhạt và màu vàng gạo làm màu sơn mặt tường với diện tích lớn, vật liệu sơn với những màu sắc này không những sẽ không gây tổn thương đối với mắt mà còn làm tăng bầu không khí nhà cửa ấm áp, lãng mạn.

4.1.2. Căn phòng râm tối

Căn phòng râm tối, việc lấy ánh sáng không được tốt lắm, dễ gây nên áp lực tâm lý đối với mọi người. Áp dụng một số phương pháp thiết kế màu sắc hợp lý, làm nổi bật lên không gian mặt chính, khiến cho thiết kế hợp lý hơn thì căn phòng râm tối cũng trở nên sáng sủa hơn.

Không được dùng màu sắc tối làm màu mặt tường, ví dụ màu tím… sẽ khiến cho cả căn phòng trở nên tối tăm hơn và không có sinh khí. Sử dụng sơn màu trắng có độ sáng bóng cao cho mặt tường của căn phòng râm tối, tỷ lệ phản xạ ánh sáng rất cao, có thể hấp thu đầy đủ ánh sáng bên ngoài chiếu vào, khiến cho căn phòng trông rất sáng sủa.

Lắp một số đèn chiếu lên trên bức tranh màu nhạt trên tường, có thể đạt được tác dụng tăng độ sáng rất tốt. Ngoài ra còn có thể lắp đèn nóng sáng cách gần trần nhà màu trắng, cũng có hiệu quả kỳ diệu trong việc làm tăng độ sáng.

4.2. Lựa chọn màu sắc dựa theo độ sáng cần có cho căn phòng

Khi trang trí không phải chỉ xem xét sở thích cá nhân mà còn phải dựa theo chức năng không gian, trường hợp và đối tượng khác nhau để lựa chọn hiệu quả độ sáng cho phù hợp. Thường trong chiếu sáng nội thất, tốt nhất nguồn sáng chính nên có màu lạnh, nguồn sáng phụ trợ nên có màu nóng.

+ Ánh sáng của phòng ngủ nên khá ấm áp, độ sáng có thể tương đối thấp một chút, dùng màu vàng nhạt, màu xanh lam nhạt làm màu cho mặt tường.

+ Phòng đọc sách và phòng bếp yêu cầu sáng sủa, tốt nhất nên dùng màu xanh lục và màu vàng có độ sáng khá cao, có thể tăng độ sáng của phòng.

+ Phòng vệ sinh nên cố gắng lấy ánh sáng ấm áp, hòa dịu làm chủ đạo, phù hợp giúp tăng độ sáng, có thể khiến cho phòng vệ sinh nhìn sạch sẽ và ấm áp hơn.

4.3. Phương pháp điều tiết độ sáng trong thiết kế nội thất

Rất nhiều người thích dùng ánh sáng đèn nóng sáng, bố trí trong nhà sáng bừng, đẹp đẽ, nhưng ở lâu trong môi trường ánh sáng cao này sẽ có ảnh hưởng nhất định đối với sức khỏe và tinh thần của con người.

Trong tình trạng bình thường, hệ số phản xạ ánh sáng của trần nhà và mặt tường tốt nhất nên thấp hơn 60%, mặt sàn tốt nhất trong khoảng 15% – 35%. Mặt trang trí quá sáng, sẽ khiến cho hệ số phản xạ ánh sáng cao hơn 90%, vượt quá phạm vi chịu đựng của cơ thể người.

Nếu ở trong một môi trường phản quang mạnh, thiếu màu sắc, giác mạc và tròng đen của mắt người có thể bị tổn thương, dẫn đến mắt mệt mỏi, thậm chí thị lực giảm, tăng khả năng bị đục thuỷ tinh thể. Đồng thời, lâu dài còn có thể làm nhiễu loạn quy luật sinh lý bình thường của con người, gây ra suy nhược thần kinh và mất ngủ.

5. Điều tiết độ sáng bóng của vật liệu trang trí nội thất

Thiết kế nội thất nhà ở dựa theo quan niệm và phương pháp thiết kế nhất định để tiến hành hoạt động làm đẹp đối với môi trường không gian nội thất. Nó không chỉ phản ánh đặc trưng thời đại, phong cách và nét đặc biệt của khu vực thành thị, của không gian, mà còn có thể phản ánh đặc điểm tính cách của chủ nhân. Sự thể hiện của đặc tính thiết kế nội thất ở một mức độ rất lớn sẽ chịu những hạn chế của vật liệu trang trí, đặc biệt là chịu ảnh hưởng bởi các đặc tính trang trí như vật liệu trang trí sáng bóng, chất liệu, cảm giác chất liệu, hình vẽ, hoa văn.

5.1. Tính quan trọng của độ sáng bóng

Độ sáng bóng là chỉ tính chất của ánh sáng phản xạ có tính phương hướng của bề mặt vật liệu. Bề mặt của vật liệu trang trí càng trơn sáng thì độ sáng bóng của nó càng cao. Khi định hướng phản xạ, bề mặt vật liệu này đã có đặc trưng mặt gương thì gọi là phản xạ mặt gương. Độ sáng bóng khác nhau còn có thể thay đổi độ sáng tối của bề mặt vật liệu, đồng thời có thể mở rộng phạm vi thị giác cho nhà cửa, tạo ra hiệu quả tương phản hư thực khác nhau và là một trong những nhân tố cần phải xem xét trong thiết kế.

5.2. Tác dụng điều tiết của độ sáng bóng khác nhau

Khi lựa chọn vật liệu trang trí, nên xem xét ảnh hưởng độ sáng bóng của nó đối với hiệu quả trang trí. Độ sáng bóng của vật liệu sẽ sinh ra phản ứng về mặt tâm lý của con người, dẫn đến liên tưởng. Thông thường, tác dụng gây ra tâm lý này của vật liệu rất rõ ràng và mạnh mẽ.

Vật liệu trang trí trơn sáng, nhẵn mịn, một mặt sẽ đem đến cho con người cảm giác tao nhã, đẹp đẽ, mặt khác sẽ khiến cho con người sinh ra cảm giác tâm lý lãnh đạm, kiên cường; sự sáng bóng của kim loại khiến cho con người liên tưởng đến những đồ vật cứng, nặng, lạnh giá; còn sự sáng bóng của sản phẩm da, sản phẩm dệt sẽ khiến cho con người có cảm giác mềm mại, thoải mái và ấm áp. Cho nên khi lựa chọn vật liệu trang trí, cần phải nắm chính xác độ sáng bóng của vật liệu, để hài hoà với đặc điểm của không gian trang trí, từ đó khiến cho vật liệu có sức sống hơn.

Trang trí nhà cửa không thể không sử dụng vật liệu trang trí. Có thể nói, vật liệu trang trí là cơ sở vật chất để phương án và quan niệm thiết kế nội thất được thực hiện. Trước khi trang trí phải hiểu và nắm vững một cách đầy đủ tính năng của vật liệu, dựa theo điều kiện môi trường sử dụng, lựa chọn hợp lý các đặc tính như độ sáng bóng, chất liệu… của vật liệu mới có thể phát huy đầy đủ từng ưu thế của vật liệu, dùng biết được công dụng của nó, từ đó đáp ứng nhu cầu thiết kế nghệ thuật cho nhà cửa.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :