Home / Nhà Đất / 49 cách phối hợp màu sắc nội thất nhà ở, chung cư tinh tế

49 cách phối hợp màu sắc nội thất nhà ở, chung cư tinh tế

/

Trong thiết kế nội thất, lựa chọn màu sắc nên dựa theo độ tuổi, giới tính, phong tục tập quán và sở thích của gia chủ để tiến hành phối hợp. Thiết kế và vận dụng màu sắc cho khu vực khác nhau trong nhà nên có sự xem xét khác nhau.

cách dùng màu sắc trong nhà

Bản thân màu sắc không phân chia xấu đẹp, chỉ có sự phối hợp khác nhau sẽ tạo ra bầu không khí và cảm xúc khác nhau, đồng thời mục đích đầu tiên của phối hợp màu sắc cần phải đạt được là sự hợp lý. Để đạt được mục đích này, phải tuân thủ những nguyên tắc phối màu dưới đây:

1. Phối màu không gian tốt nhất không nên dùng quá 3 màu, trong đó không tính màu trắng và màu đen

Trong thiết kế nội thất thông thường đều sẽ hạn chế màu sắc trong 3 màu. Chỉ có một số nhà thiết kế nội thất chuyên nghiệp hiểu rõ hơn về quan màu sắc tầng thứ, có thể sẽ phối hơn 3 màu, nhưng thường cũng chỉ hơn hoặc 2 màu.

2. Màu vàng kim, màu bạc có thể phối hợp với bất kỳ màu sắc nào

Màu vàng kim không bao gồm màu vàng, màu bạc không bao gồm màu trắng xám. Nhưng màu vàng kim và màu bạc thường không thể đồng thời tồn tại, trong không gian đồng nhất chỉ có thể sử dụng một màu trong đó, hơn nữa diện tích không nên quá rộng.

– Trong trường hợp không có nhà thiết kế chỉ dẫn, thì thang độ xám phối màu nhà cửa tốt nhất là: tường màu hơi nhạt, sàn nhà có màu trung tính, đồ dùng gia đình có màu hơi đậm.

– Ba màu sắc trong cùng một không gian đóng tương đối, bao gồm trần nhà có hoa văn, mặt tường, sàn và đồ dùng gia đình. Phòng khách và phòng ngủ có thể sử dụng các loại màu sắc phối hợp khác nhau, nhưng nếu phòng khách và phòng ăn liền với nhau thì nên xem như tiến hành phối màu cho cùng một không gian.

– Phòng bếp không nên sử dụng màu nóng, trừ hệ màu màu vàng.

– Không được lát gạch sàn màu xanh lục đậm.

– Không sắp đặt những vật liệu có hệ màu tương đồng nhưng có chất liệu khác nhau với nhau, nếu không sẽ rất dễ phối ra màu sắc không hợp lý.

– Cố gắng không dùng những vật liệu có in hình hoa to, hoa nhỏ, nếu không rất khó tạo nên không gian nhà cửa hiện đại, đơn giản, tươi sáng.

– Màu sắc của trần nhà cần phải nhạt hơn màu sắc của mặt tường (màu sắc của trần nhà chỉ có thể là màu trắng hoặc hệ màu cùng với mặt tường), hoặc đồng màu với mặt tường. Khi mặt tường là màu đậm thì trần nhà bắt buộc phải sử dụng màu nhạt.

– Khu vực ngoài không gian kín, cần phải sử dụng phương án phối màu đồng nhất; trong mỗi không gian kín có thể sử dụng phương án phối màu khác nhau.

Màu sắc của vật chất đều do màu đỏ, màu vàng, màu xanh lam, màu đen và màu trắng kết hợp mà thành, trong đó màu đỏ, màu vàng, màu xanh lam là màu sắc cơ bản, còn màu đen, màu trắng là nhân tố sáng tối để điều tiết màu sắc.

Dựa theo ảnh hưởng của màu sắc đối với tâm lý con người, màu sắc được chia thành 2 loại màu nóng và lạnh; màu nóng chủ yếu dùng cho môi trường vui vẻ, sôi nổi, trong khi đó màu lạnh chủ yếu dùng cho những nơi cần sự yên tĩnh. Phối hợp màu sắc phải chú ý đến sự hài hòa, do đó nên chú ý sự thay đổi của màu sắc. Trong đó, màu trắng là màu điều hòa thường được sử dụng. Khi một bề mặt màu sắc chuyển tiếp sang một bề mặt màu sắc khác, thông thường có thể sử dụng các đường trang trí để có tác dụng chuyển tiếp.

3. Phối màu nội thất cần có nét riêng

Màu sắc sử dụng trong trang trí nhà cửa cần phải có phong cách riêng, như vậy mới có thể bộc lộ cá tính rõ ràng, để lại cho người khác ấn tượng sâu sắc. Nét riêng này cần một số cách phối hợp màu sắc khác nhau và tạo nên đặc điểm rõ ràng, đồng thời cũng thể hiện cá tính và sức hấp dẫn kỳ lạ của gia chủ. Thông thường hệ màu khá thịnh hành trong trang trí nhà cửa hiện đại về cơ bản có một số loại dưới đây, mỗi một loại đại diện cho một đặc điểm và phong cách riêng.

3.1. Hệ màu mạnh mẽ

Màu trung tâm thông thường là màu đỏ, mặt sàn của cả căn nhà có thể trải thảm sàn màu đỏ. Rèm cửa sổ chọn vải hoa có màu xanh lam và màu trắng xen kẽ, như vậy có thể tạo nên sự đối lập mạnh với thảm sàn màu đỏ. Sofa có thể dùng màu đen, đồ dùng gia đình có màu chủ đạo là màu trắng. Mặt tường và trần nhà cũng có màu chủ đạo là màu trắng, như vậy có thể tránh sự đối lập mạnh của màu sắc gây chói mắt.

3.2. Hệ màu nhẹ nhàng

Màu trung tâm thường là màu vàng và màu cam. Cụ thể là thảm sàn chọn dùng màu cam, rèm cửa sổ, ga giường có thể dùng vải in hoa màu trắng vàng, sofa và trần nhà có hoa văn tốt nhất nên dùng màu xám. Ngoài ra, phối hợp thêm một số cây xanh để làm nền sẽ khiến cho ngôi nhà đầy không khí vui vẻ và thoải mái.

3.3. Hệ màu điển nhã

Màu trung tâm thường là màu hồng, có thể thiết kế sofa, chụp đèn có màu hồng. Thêm nữa rèm cửa sổ, đệm tựa có thể dùng vải in hoa màu hồng, sàn nhà chọn dùng gạch sàn màu trà nhạt, tường sơn màu trắng sữa. Sự phối hợp màu sắc như vậy sẽ phù hợp nhất với phòng ở của bạn gái trẻ.

3.4. Hệ màu mềm mại

Thông thường màu trung tâm là màu hồng dịu dàng. Thảm sàn, chụp đèn, rèm cửa sổ dùng màu kết hợp đỏ và trắng. Đồ dùng gia đình là màu trắng, trong phòng điểm xuyết một số màu xanh lam nhạt, có thể tăng thêm bầu không khí lãng mạn trong nhà.

3.5. Hệ màu ưu nhã

Màu trung tâm thường là màu hoa hồng và màu tím nhạt. Thảm sàn có thể dùng màu hoa hồng nhạt, sofa dùng màu hoa hồng đậm hơn màu thảm sàn một chút, rèm cửa sổ có thể phối hợp với vải cotton in hoa màu tím nhạt, chụp đèn và thân đèn đều dùng màu hoa hồng hoặc màu tím đậm nhạt đan xen. Có thể sắp đặt một số đệm tựa màu xanh lục hoặc chậu cây để điểm xuyết, tường và đồ dùng gia đình có thể sơn màu trắng xám, sự phối hợp như vậy có thể đạt được hiệu quả tao nhã.

3.6. Hệ màu hoa lệ

Màu trung tâm thường là màu vàng kim, màu xanh lam và màu vỏ quýt. Có thể chọn sofa màu đỏ rượu, thảm sàn tốt  nhất là màu đỏ đất tối cùng hệ màu, mặt tường dùng màu vàng gạo sáng, cục bộ có thể điểm xuyết màu vàng kim, ví dụ đèn tường mạ vàng, kết hợp thêm một số màu xanh lam bổ trợ, rất dễ tạo ra sự cách điệu hào hoa, giàu sang.

3.7. Chú ý khác trong phối màu nội thất nhà chung cư

Trước khi tiến hành phối hợp màu sắc cho những đồ dùng trong gia đình, cần phải hiểu rõ một số điều cấm kỵ trong phối hợp màu sắc, tránh đem lại hiệu quả không tốt sau khi phối hợp, thậm chí phối hợp sai.

– Màu cà phê phải cố gắng phối hợp với hệ màu nhạt.

– Màu đỏ, màu cam và màu vàng đều thuộc hệ màu có độ sáng khá cao, thích hợp hơn với người trẻ, nhưng tốt nhất nên phối hợp với một số hệ màu lạnh để giảm sự khô cứng mà chúng dễ tạo ra.

– Màu xanh lục là màu sắc khá thanh bình, mát mẻ, có thể phối hợp với một số hệ màu nóng, nhưng tốt nhất nên phối hợp với màu đỏ tối và màu đen.

– Thông thường những người điềm tĩnh đều rất thích màu xanh lam, đặc biệt màu sắc này còn có chức năng giảm nóng vào mùa hè.

– Màu nâu, màu trà là những màu sắc mang đầy phong cách cổ điển có thể phối hợp một số tấm sàn màu tiểu mạch hoặc màu gỗ tự nhiên dùng trong phòng đọc sách và phòng ngủ của người già.

– Hệ màu xám là hệ màu cách điệu cao quý, nhưng chất liệu vật liệu là vấn đề mấu chốt khi chọn lựa.

4. Quy luật trong phối hợp màu sắc trong nhà

Tính nghệ thuật của màu sắc thường được biểu hiện thông qua cảm nhận của con người, dưới đây là đặc tính nghệ thuật mà màu sắc có thể đem lại.

4.1. Cảm giác nóng, lạnh của màu sắc

Bản thân màu sắc không có sự khác biệt về độ nóng lạnh mà về mặt thị giác màu sắc đem đến sự tưởng tượng trong tâm lý của mọi người đối với cảm giác nóng lạnh.

4.1.1. Màu nóng

Sau khi nhìn thấy các màu đỏ, đỏ cam, cam, vàng cam, tím đỏ lập tức liên tưởng đến những hình ảnh như mặt trời, ngọn lửa, máu nóng, sinh ra cảm giác ấm áp, sôi nổi, nguy hiểm.

4.1.2. Màu lạnh

Khi nhìn thấy các màu như màu xanh lam, xanh lam tím, xanh lam lục sẽ rất dễ liên tưởng đến những hình ảnh như bầu trời, băng tuyết, hải dương và có cảm giác lạnh giá, lý trí, bình tĩnh.

Cảm giác nóng, lạnh của màu sắc không chỉ biểu hiện về mặt màu sắc cố định, mà còn cho thấy tính khuynh hướng tương đối của nó nếu đem so sánh. Như khi miêu tả dáng trước trên bầu trời có thể dùng màu sắc tươi mới và hơi lạnh như ánh sáng sớm của tranh mai hồng sẽ đem lại cảm giác rất tuyệt, trong khi đó khi miêu tả ráng chiều, sử dụng màu đỏ đậm sẽ đem lại cảm giác nóng mạnh. Nhưng nếu đem so sánh với màu cam thì cả hai màu đều có cảm giác lạnh nhất định.

Để diễn tả cảm giác nóng, lạnh của màu sắc, chúng ta thường dùng các từ ngữ khác nhau như: màu nóng – ánh nắng mặt trời, không trong suốt, kích thích, đậm, sâu, gần, nặng, nam tính, mạnh mẽ, khô, tình cảm, góc vuông, đường thẳng, rộng lớn, ổn định, sôi nổi, hoạt bát, phóng khoáng. Màu lạnh – bóng râm, trong suốt, trấn tĩnh, loãng, nhạt, xa, nhẹ, nữ tính, mềm yếu, ướt, lí trí, hình đường uốn lượn, co dãn, lưu động, vắng vẻ, yên tĩnh, tao nhã, bảo thủ.

4.1.3. Màu trung tính

Màu xanh lục và màu tím là màu trung tính. Các màu vàng xanh, xanh lam, ngọc biển xanh khiến mọi người liên tưởng đến cỏ, cây có cảm giác tươi trẻ, đầy sức sống, hòa bình. Các màu tím, xanh lam khiến mọi người liên tưởng đến hoa cỏ, các đồ quý hiếm cho nên dễ có cảm giác cao quý, thần bí.

Màu vàng thường được cho là màu nóng, bởi vì nó khiến người ta liên tưởng đến ánh nắng mặt trời, ánh sáng, nhưng cũng có người xem nó là màu trung tính, bởi vì tuy cùng thuộc dòng màu vàng, nhưng màu vàng chanh lại cho cảm giác hơi lạnh và màu vàng mù tạt có cảm giác hơi nóng.

4.2. Cảm giác nặng nhẹ của màu sắc

Điều này chủ yếu liên quan đến độ sáng của màu sắc. Màu sắc có độ sáng cao khiến mọi người liên tưởng đến bầu trời xanh, đám mây trắng sáng nhiều màu, hoa cỏ, bông, lông dê đem lại cảm giác nhẹ nhàng, bồng bềnh, lên cao, linh hoạt. Màu sắc có độ sáng thấp dễ khiến người khác liên tưởng đến các đồ vật như gang thép, đá cẩm thạch đem lại cảm giác nặng nề, ổn định, rơi xuống thấp.

4.3. Cảm giác cứng mềm của màu sắc

Cảm giác này chủ yếu cũng liên quan đến độ sáng của màu sắc, nhưng có quan hệ nhất định với độ thuần khiết. Độ sáng càng cao thì càng có cảm giác mềm mại, độ sáng càng thấp thì càng có cảm giác cứng. Màu sắc có độ sáng cao, độ thuần khiết thấp và màu sắc có độ thuần khiết trung bình đều đem lại cảm giác mềm mại, bởi vì chúng dễ khiến cho con người liên tưởng đến lông, da của các con vật như lạc đà, cáo, mèo, chó và các đồ dệt nhung.

Màu sắc có độ thuần khiết cao và độ thuần khiết thấp đều đem lại cảm giác cứng và nếu độ sáng của chúng thấp thì cảm giác này trở nên rõ ràng hơn, cảm giác cứng mềm của màu sắc và sắc thái dường như không liên quan đến nhau.

4.4. Cảm giác trước sau của màu sắc

Cảm giác trước sau của màu sắc là do các loại màu sắc có bước sóng khác nhau tạo nên hình ảnh trước sau trên võng mạc của mắt người, các màu sắc có bước sóng dài như đỏ, cam tạo nên hình ảnh ở phía sau, có cảm giác khá gần; các màu sắc có bước sóng ngắn như xanh lam, tím thì tạo nên hình ảnh ở mặt ngoài, đem lại cảm giác lùi về phía sau.

Trên thực tế, cảm giác trước sau của màu sắc là một hiện tượng ảo giác của mắt người, màu nóng, màu thuần, màu có độ sáng cao, màu tương phản mạnh, mảng màu diện tích lớn, màu tập trung có cảm giác tiến về phía trước, ngược lại, màu lạnh, màu đục, màu có độ sáng thấp, màu tương phản nhẹ, mảng màu diện tích nhỏ, màu phân tán có cảm giác lùi về phía sau.

4.5. Cảm giác to nhỏ của màu sắc

Do màu sắc có cảm giác trước sau, nên màu nóng, màu có độ sáng cao có cảm giác mở rộng, bành trướng; màu lạnh, màu có độ sáng thấp có cảm giác nhỏ, co lại.

4.6. Cảm giác hoa lệ, chất phác của màu sắc

Ba yếu tố của màu sắc đều có ảnh hưởng đối với cảm giác hoa lệ và chất phác của màu sắc, trong đó độ thuần khiết có ảnh hưởng lớn nhất.

Màu sắc có độ sáng cao, độ thuần cao, màu sắc tương phản mạnh, phong phú đem lại cảm giác hoa lệ, huy hoàng. Màu sắc có độ sáng thấp, độ thuần thấp, đơn thuần, tương phản nhẹ đem lại cảm giác chất phác, tao nhã, cổ kính. Nhưng bất luận là màu sắc nào, nếu đem kết hợp với ánh sáng thì đều có thể đạt được hiệu quả hoa lệ.

4.7. Cảm giác trang trọng, năng động của màu sắc

Màu nóng, màu có độ thuần cao, màu rực rỡ, màu tương phản mạnh đem lại cảm giác nhảy múa, năng động, phấn chấn; màu lạnh, màu có độ thuần thấp, màu có độ sáng thấp, đem lại cảm giác trang trọng, nghiêm túc.

4.8. Cảm giác hưng phấn và trấn tĩnh của màu sắc

Ảnh hưởng rõ ràng nhất đối với cảm giác hưng phấn và trấn tĩnh của màu sắc là các màu rực rỡ và tươi sáng như màu đỏ, cam, vàng đem đến cho con người cảm giác hưng phấn; các màu xanh lam, ngọc xanh biển, xanh lam, tím khiến người ta cảm thấy bình tĩnh.

Màu xanh lục và màu tím là màu trung tính, không có các cảm giác này. Ngoài ra, ảnh hưởng của độ thuần khiết đối với cảm giác hưng phấn và trấn tĩnh của màu sắc cũng khá rõ ràng, màu sắc có độ thuần khiết cao khiến con người có cảm giác hưng phấn, màu có độ thuần khiết thấp khiến con người có cảm giác trấn tĩnh.

Bản thân màu sắc không có tình cảm, nhưng trải qua sự tích luỹ và trải nghiệm trong cuộc sống của con người đã hình thành nên cảm nhận tâm lý đối với màu sắc của con người hiện tại.

Cảm nhận tâm lý mà màu sắc đem lại cho con người là chỉ phản ứng của thị giác đối với màu sắc, nó thay đổi tùy theo sự thay đổi của môi trường bên ngoài. Cảm nhận thị giác của con người chịu ảnh hưởng bởi độ màu và độ sáng của màu sắc sẽ tạo nên cảm nhận và tưởng tượng khác nhau như nóng lạnh, nặng nhẹ, xa gần, co dãn, động tĩnh. Màu sắc đầu tiên do sự nhận biết thị giác, sau đó ảnh hưởng đến tâm lý của con người, có tác động đến cảm tình của con người, thậm chí ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần và hứng thú của con người.

5. Tính khoa học trong phối màu đơn sắc trong phòng

5.1. Hệ thống màu đơn sắc chỉ sử dụng một loại màu

Nhưng từ trong màu sắc này nghiên cứu ra toàn bộ tầng thứ chuyển tiếp từ đậm đến nhạt. Một loại màu có lúc sẽ có hàng ngàn tầng thứ đậm nhạt. Mặc dù thiết kế trang trí nhà cửa không nên dùng màu đơn nhất để tránh cảm giác đơn điệu, nhưng thông qua việc điều chỉnh độ bão hòa và độ trong suốt của màu sắc khiến cho màu sắc thay đổi, khiến cho trang trí nhà cửa tránh được sự đơn điệu.

5.2. Dùng màu sắc có độ màu và độ sáng tối khác nhau dưới cùng một màu cơ bản

Cách phối màu nội thất trong nhà này để tiến hành phối hợp là một phương pháp rất an toàn, hoàn toàn có thể tạo ra bầu không khí yên tĩnh, an lành (thích hợp dùng cho phòng ngủ) và có thể đem lại cảm giác hài hòa trong một không gian.

5.3. Phối hợp màu đơn sắc là phần kết hợp quan trọng trong phối hợp màu sắc cho nhà cửa

Cảm giác chỉnh thể được tạo nên có tính thẩm mỹ khá cao, đem đến cho con người cảm giác thận trọng, chín chắn.

Phối màu đơn sắc cho diện tích lớn, ngoài việc tiến hành phối màu dựa trên các yếu tố chất liệu, cơ lý của vật liệu thì vấn đề quan trọng hơn là lấy đặc điểm thẩm mỹ của màu sắc làm biện pháp phối màu quan trọng. Có hai phương thức phối màu thường thấy là màu không sắc và màu có sắc. Đối với phối màu đơn sắc thì điều quan trọng nhất là màu không sắc, nghĩa là dùng hệ màu do màu đen, trắng, xám kết hợp thành. Màu đen có một cảm giác thần bí và cao quý. Màu trắng đem đến cho con người cảm giác thuần khiết, tao nhã, phối hợp hợp lý sẽ đem lại cho con người cảm giác mới mẻ, thuần khiết.

Điều cần phải chú ý là, màu đơn sắc thường ứng dụng trên bề mặt khá lớn (ví dụ bức tường, sàn nhà), những nơi này không chỉ sử dụng màu sắc đơn nhất mà còn thường sử dụng màu sắc nhạt nhất. Độ màu khá đậm trong cùng một hệ màu với nó thì dùng trên bề mặt khá nhỏ (ví dụ ở các vị trí của đồ dùng cho giường, rèm cửa sổ, ghế), độ màu đậm nhất thì được sử dụng trên các đồ vật nhỏ hơn như cốc, ly, bình hoa. Nếu chúng ta sử dụng phương án thiết kế phối màu cho màu hồng và màu xanh lục thì có thể phối lên bức tường đơn sắc, như vậy không chỉ khiến cho màu sắc không bị lộn xộn, mà còn có thể khiến cho mọi người trong nhà được hưởng thụ cảm giác tươi đẹp của mùa xuân.

Trong phối màu cho nhà cửa, thường sẽ không chỉ dùng màu đơn sắc để trang trí, bởi vì như vậy sẽ đem lại cảm giác cứng nhắc và không có hình Rối. Do đó, người ta hay sử dụng một màu gần với màu đỏ hoặc màu tương tự để trang trí, lợi dụng sự chuyển tiếp và thay đổi dần dần để tăng sự hưởng thụ về mặt thị giác, giảm cảm giác ấu trĩ và thô cứng, khiến cho không gian có sức sống hơn.

6. Sử dụng hợp lý hệ màu tương đồng khi phối màu đồ đạc trong nhà

6.1. Màu tương đồng là gì

Màu tương đồng là màu gần nhau trên dải màu, ví dụ màu xanh lục và màu xanh lam, màu đỏ và màu vàng đều là màu tương đồng.

Màu tương đồng là màu gần nhau trên thứ tự màu, quan hệ khá hài hòa, hay còn gọi là màu tương tự, khoảng cách của nó là ngắn nhất. Bởi vì, ba loại hoặc bốn loại màu đều đã bao hàm một màu giống nhau, màu giống nhau này trở thành màu chủ đạo trong tổ hợp màu sắc. Màu này được gọi là màu tương đồng.

Sử dụng màu tương đồng có thể khiến cho trang trí nhà cửa không bị rối loạn về màu sắc, dễ đạt được sự hài hòa, thống nhất.

Trong phối màu cho nhà của, màu xanh lục và màu xám là màu tương đồng được ứng dụng nhiều nhất.

6.2. Ứng dụng của màu xanh lục và màu tương đồng với nó

Màu tương đồng của màu xanh lục có màu xanh nước biển, màu xanh lá cây đậm, màu vàng xanh, phối hợp những màu này không chỉ đem lại cảm giác hài hòa của tổ hợp màu tương đồng mà còn có cảm giác nổi bật mà bản thân màu sắc tươi sáng hiển thị ra.

Màu sắc tươi sáng, rực rỡ cũng được nhà thiết kế cẩn thận sử dụng hài hòa trong ngôi nhà hiện đại, vận dụng một cách tinh tế sâu sắc vào trong  thiết kế nhà cửa theo các loại phong cách. Công nghệ phun sơn tiên tiến thường dùng và vật liệu phức hợp cao phần tử lại khoác lên màu sắc rực rỡ nảy một tầng màu sáng sẽ có sức hấp dẫn hơn. Sử dụng có hiệu quả màu sắc nổi bật này có thể phối ra một quần thể màu tươi sáng hoặc đầy tính tương phản, đây cũng là thủ pháp phối hợp thiết kế nhà cửa thịnh hành hiện nay.

6.3. Ứng dụng của màu xám và màu tương đồng với nó

Màu xám hoàn toàn tương phản với màu xanh lục, thể hiện đặc tính nặng nề, tao nhã. Nhà thiết kế hiện đại thường sẽ phát triển nó thành màu bạc với tư cách là điểm sáng trong trang trí nhà cửa. Dùng vật liệu phức hợp cao phân tử đầy màu sáng bạc phối với mặt sàn, ghế ngồi, mặt tường có màu tương đồng, phối hợp thêm với kim loại sáng có thể tạo ra cảm giác thời thượng.

Sự thay đổi dần dần của màu xám dường như phong phú hơn và cũng là một trong những nhân tố tốt để nhà thiết kế phát huy tính sáng tạo của bản thân, họ lợi dụng sự thay đổi dần dần của độ xám để thể hiện ra cảm giác tầng thứ và cảm giác mạnh của không gian.

Theo tính toán, có khoảng 10 triệu loại màu sắc mà mắt người có thể nhìn thấy và phân biệt được, nhưng chỉ có 3 loại màu cơ bản là màu đỏ, màu vàng và màu xanh Cam. Như vậy, có thể thấy màu tương đồng của mỗi loại màu sắc là nhiều vô kể. Vận dụng một cách phù hợp màu tương đồng có thể khiến cho ngôi nhà của chúng ta trở nên lộng lẫy, nhiều màu hơn.

7. Sử dụng hợp lý màu tương phản trong phòng

7.1. Màu tương phản là gì?

Màu tương phản có thể làm điểm nhấn, đem lại hiệu quả thị giác mạnh. Sử dụng hợp lý màu tương phản có thể khiến cho trang trí nhà cửa trở nên tươi sáng và có điểm nhấn. Khi thiết kế, thường lấy một loại màu làm màu chủ đạo, còn màu tương phản là màu điểm xuyết.

Màu sắc trong giới tự nhiên có thể phân thành hai loại lớn là màu không sắc và màu có sắc. Màu không sắc là màu đen, màu trắng và các loại màu xám có độ đậm nhạt khác nhau, còn tất cả những màu sắc khác đều thuộc loại màu có sắc.

7.2. 3 thuộc tính của màu sắc

+ Màu sắc: là đặc tính cơ bản, phản ánh diện mạo cơ bản của màu sắc.

+ Độ bão hòa: còn gọi là độ thuần khiết, chỉ độ thuần khiết của màu sắc.

+ Độ sáng: thể hiện sự đậm nhạt của màu sắc.

7.3. Loại hình cơ bản của màu sắc tương phản

Sau khi kết hợp hai màu sắc trở lên, hiệu quả tương phản màu sắc hình thành do sự khác biệt của màu sắc được gọi là sự tương phản màu sắc. Nó là một phương diện căn bản của sự tương phản màu sắc, mà độ mạnh yếu của nó được quyết định bởi cự ly trên vòng tròn màu giữa các màu, cự ly càng nhỏ thì sự tương phản càng yếu, ngược lại cự ly càng lớn thì sự tương phản càng mạnh.

7.4. Sự tương phản không độ

7.4.1. Sự tương phản của màu không sắc

Sự tương phản của màu không sắc tuy không nổi bật, nhưng sự kết hợp của chúng rất có giá trị về mặt thực dụng. Như màu đen và màu trắng, màu đen và màu xám, màu xám trung tính và màu xám nhạt, hoặc màu đen và màu trắng; màu xám, màu đen, màu xám đậm; màu xám nhạt… Hiệu quả tương phản tạo cảm giác phóng khoáng, trang trọng, tao nhã và đầy cảm giác hiện đại, nhưng cũng dễ sinh ra cảm giác đơn điệu, mộc mạc.

7.4.2. Sự tương phản của màu không sắc và màu có sắc

Màu đen và màu đỏ, màu xám và màu tím, hoặc màu đen và màu trắng; màu vàng, màu trắng màu xám, màu xanh lam… hiệu quả tương phản tạo cảm giác vừa phóng khoáng, vừa năng động, khi diện tích màu không sắc lớn sẽ có chút cảm giác tao nhã, trang trọng, khi diện tích màu có sắc lớn sẽ làm tăng thêm cảm giác năng động.

7.4.3. Sự tương phản của màu cùng loại

Độ sáng khác nhau của một loại màu hoặc sự tương phản do sự thay đổi độ thuần khiết khác nhau được gọi là tổ hợp màu cùng loại. Ví dụ như: sự tương phản của các màu như xanh lam và xanh lam nhạt (màu xanh lam và màu trắng), xanh lục và xanh lục phấn (màu xanh lục và màu trắng) và xanh mực (màu xanh lục và màu đen)… hiệu quả tương phản thống nhất, điềm đạm, tao nhã, hàm súc mà chín chắn, nhưng cũng dễ tạo ra sự đơn điệu, khô cứng.

7.4.4. Sự tương phản của màu không sắc và màu cùng loại

Sự tương phản của các màu như: màu trắng và màu xanh lam đậm và màu xanh lam nhạt, màu đen và màu vỏ quýt và màu cà phê…, hiệu quả của nó đã tổng hợp các loại ưu điểm nói ở mục (7.4.2) và (7.4.3). Cảm giác vừa có tầng thứ nhất định, vừa hiện lên thật hoạt bát, phóng khoáng, ổn định.

7.5. Sự tương phản hài hòa

7.5.1. Sự tương phản của màu sắc tương đồng

Sự tương phản của 2 đến 3 màu gần nhau trên vòng tròn màu, cự ly màu khoảng 30°, là loại hình tương phản yếu. Ví dụ như sự tương phản của các màu như màu đỏ cam và màu cam và màu vàng cam… Hiệu quả tạo cảm giác nhẹ nhàng, hài hòa, tao nhã, nhưng cũng có cảm giác đơn điệu, mơ hồ, nhạt nhẽo, không có lực, cần phải tăng hiệu quả bằng cách điều tiết độ sáng.

7.5.2. Sự tương phản của màu sắc tương tự

Cự ly tương phản của màu sắc tương tự khoảng 60°, là loại hình tương phản khá yếu, như sự tương phản của màu đỏ và màu vàng cam… hiệu quả phong phú, năng động nhưng lại không mất đi cảm giác thống nhất, tao nhã mà hài hòa.

7.5.3. Sự tương phản của màu sắc trung độ

Cự ly tưởng phản của màu sắc trung độ là khoảng 90°, là loại hình tương phản trung bình, ví dụ như sự tương phản của màu vàng và màu xanh lục, hiệu quả tươi sáng, năng động, đầy đủ và khiến cho con người hưng phấn, tương phản vừa có lực tương đương, nhưng lại không mất đi cảm giác hài hòa.

7.6. Sự tương phản mạnh

7.6.1. Sự tương phản của màu sắc tương phản

Cự ly tương phản của màu tương phản là khoảng 120°, là loại hình tương phản mạnh, ví dụ như sự tương phản của màu vàng xanh và màu đỏ tím… hiệu quả mạnh, nổi bật, có lực, năng động mà phong phú, nhưng có cảm giác lộn xộn, kích thích, dễ gây nên sự mệt mỏi của thị giác. Thường cần phải sử dụng nhiều biện pháp điều hoà để cải thiện hiệu quả tương phản.

7.6.2. Sự tương phản của màu bổ túc

Cự ly tương phản của màu bổ túc là khoảng 180°, là loại hình tương phản rất cực đoan, ví dụ như sự tương phản của các màu như màu đỏ và màu xanh nước biển, màu vàng và màu xanh tím. Hiệu quả màu sắc này rất mạnh, rất có lực, nhưng nếu xử lý không khéo dễ tạo ra cảm giác nguyên thuỷ, thô cứng, không yên định và không hài hòa.

Sự ứng dụng hệ màu tương phản là biện pháp quan trọng tạo nên hiệu quả màu sắc, cũng là phương pháp quan trọng đem đến cho màu sắc sức biểu hiện mạnh mẽ. Có 2 hình thức biểu hiện, là tương phản đồng thời và tương phản liên tục.

Ví dụ màu đỏ và màu xanh, màu vàng và màu xanh lam, màu tím và màu xanh lục, thực ra bất cứ màu sắc nào kết hợp với màu đen, màu trắng và màu xám cũng có quan hệ tương phản. Ngoài ra sự tương phản của màu đậm và màu nhạt, sự tương phản của màu nóng và màu lạnh, sự tương phản của màu sáng và màu tối đều thường được sử dụng.

Trong thiết kế trang phục, kiến trúc, nhà cửa, mỹ thuật, quảng cáo vận dụng ngày càng nhiều màu sắc tương phản. Ví dụ như sự tương phản kinh điển của các màu như màu đen và màu trắng, màu đỏ và màu xanh lục, màu xanh lam và màu vàng được ứng dụng rộng rãi trong các ngành nghề. Đặc biệt là sự vận dụng màu sắc tương phản trong nhà ở khiến cho ngôi nhà của chúng ta không chỉ có chức năng nghỉ ngơi mà còn có thêm rất nhiều tính thưởng thức về mặt thị giác.

8. Sử dụng hợp lý màu sắc chính

8.1. Phối màu sắc chính cho căn nhà là gì

Màu chính là màu sắc cơ bản nhất trong nhà, việc sử dụng sáng tối, đậm, có hoa văn có thể trực tiếp biểu hiện đặc điểm tính cách của chủ nhân, là một khâu tuyệt đối không thể sai sót và quan trọng nhất trong phối màu cho nhà cửa.

– Quan hệ và phương pháp phối hợp của màu chính với các mảng màu trong nhà

– Màu sắc nhà cửa chủ yếu phân thành màu chính, màu nhấn và màu điểm xuyết.

– Màu chính là màu có diện tích lớn, có tác dụng làm nền cho các đồ vật khác trong nhà.

– Màu chính thường dùng màu nhạt, thanh nhã, tránh dùng hình vẽ có hoa văn phức tạp và màu sắc có độ thuần khiết cao, đồng thời màu chính phải có sự tương phản mạnh một chút với màu sắc trang trí trong nhà. Ngày nay, ngày càng có nhiều người dùng màu tự nhiên và màu gỗ tự nhiên để làm màu chính trong nhà, có thể dùng gỗ tùng ngọt ngào ấm áp phối hợp với màu xanh lục có độ đậm trung bình, dùng sự tương phản rõ ràng để đạt được sự cân bằng giữa hai thứ, không chỉ nhẹ nhàng mà đầy ý vị, đồng thời biểu hiện ra vẻ đẹp tự nhiên của vật liệu gỗ.

Tuy nhiên, mỗi người lại có một sở thích khác nhau đối với màu sắc. Do đó, màu chính tốt nhất là có tác dụng làm nổi bật đặc điểm và phong cách chủ thể của ngôi nhà.

8.2. Dưới nền màu chính có thể lấy đồ dùng gia đình có địa vị thống trị trong nhà làm màu nhấn

Màu nhấn và màu chính yêu cầu có cùng độ mạnh hoặc độ đậm, giữa màu sắc hình thành sự tương phản thấp, nhưng điều này không có nghĩa là đồ dùng gia đình bắt buộc phải hòa hợp với bức tường. Nếu sử dụng bàn gỗ đào màu đậm và tường màu đỏ đậm hoặc màu xanh nước biển, cũng có thể tạo ra động thái cân bằng, có cường độ tương đương giữa hai màu sắc. Hệ màu đậm ấm áp, ví dụ như màu nâu xám hoặc màu nâu vàng có thể phối hợp với vật liệu gỗ màu lá cọ có độ đậm trung bình, đồ dùng gia đình trông sẽ rất đẹp mắt.

8.3. Màu điểm xuyết là mảng màu tốn nhiều công sức nhất, cũng là điểm nhấn của trang trí nội thất, diện tích tuy nhỏ nhưng lại là điểm bắt mắt

Sau khi đã xác định màu chính và màu nhấn, thì màu điểm xuyết khá linh hoạt và cũng có thể có thiết kế mạnh dạn hơn, những đồ điểm xuyết gần với màu chính phải đảm bảo duy trì sự thống nhất với màu chính, tránh làm lộn xộn, không có thứ tự.

Quan hệ màu sắc giữa ba nhóm màu là màu chính, màu nhấn và màu điểm xuyết không độc lập, cố định, nếu chỉ lý giải và thiết kế một cách máy móc, nhất định sẽ dẫn đến sai lầm, từ đó khiến cho không gian trở nên đơn điệu, nhàm chán. Do đó, khi xác định màu sắc chỉnh thể, vừa phải có quan hệ bối cảnh, quan hệ tầng thứ và điểm nhấn thị giác rõ ràng, vừa phải có sự phối hợp theo quan niệm sáng tạo.

8.4. Bí quyết phối màu cho màu chính

Trong thiết kế nội thất thông thường, đại đa số đều sẽ hạn chế màu sắc trong ba loại. Màu chính tốt nhất là dùng màu dịu có độ màu khá thấp, như màu trắng, màu xám, màu vàng nhạt, màu xanh lục phấn (màu trắng, màu đen không tính là màu).

Cũng có thể lựa chọn màu chính dựa theo chức năng của từng không gian. Ví dụ: màu xanh lục cho phòng đọc sách, màu xám cho phòng ngủ, màu cam cho phòng ăn, màu vàng cho phòng bếp. Hoặc lựa chọn màu chính khác nhau dựa theo tính cách và sở thích cá nhân, chỉ cần chú trọng tính thống nhất và tính hài hòa khi phối hợp là được.

Đối với phòng vệ sinh, có một số người thích dùng màu sáng làm màu nền chủ yếu, yêu cầu độ trong suốt và độ sạch sẽ khá cao, nhưng có người lại muốn có cảm giác ấm áp trong khi tắm, cho nên sử dụng khá nhiều màu ấm áp. Ví dụ như màu cà phê, màu cam và màu vàng. Hiện nay, có rất nhiều căn nhà của những người trẻ tuổi không chỉ sử dụng một loại màu làm màu chính mà còn mạnh dạn vận dụng hệ màu tương phản và hệ màu tương đồng, giúp không gian nhỏ trở nên thời thượng và cá tính.

Chọn màu nào làm màu chính, màu nhấn và màu điểm xuyết là vấn đề cần phải xem xét hàng đầu trong thiết kế màu sắc cho nhà cửa. Nhưng không được nhìn nhận một cách phiến diện, khu vực chính là các khu vực có diện tích rộng tuyệt đối như mặt tường, sàn nhà, trong vận dụng thực tế, còn bao gồm quan hệ bối cảnh trong tầng thứ tương đối.

Giữa các đồ vật có màu sắc khác nhau sẽ hình thành quan hệ bối cảnh đa tầng thủ, ví dụ chọn màu cho ghế sofa có thể lấy mặt tường làm bối cảnh, đệm tựa trên ghế sofa có thể lấy sofa làm bối cảnh, đối với đệm tựa thì mặt tường là bối cảnh lớn, sofa là bối cảnh nhỏ, cũng có thể trở thành bối cảnh thứ hai.

9. Số lượng màu sắc trong nhà và sự thống nhất hài hòa

Trong phối màu cho nhà cửa, không phải càng nhiều màu càng tốt mà thường phải khống chế trong ba màu để có sự thay đổi.

9.1. Số lượng màu sắc hợp lý

9.1.1. Màu sắc quá nhiều

Có gia đình khi tiến hành thiết kế trang trí nhà cửa, thường muốn sử dụng tất cả các loại màu sắc mà mình thích, kết quả là căn nhà trông rất sặc sỡ, thiếu tính thống nhất và cảm giác hài hòa, mọi thứ trông rất lộn xộn, thiếu khí chất. Nếu vận dụng không hợp lý, mọi người sống trong môi trường này sẽ cảm thấy nôn nóng, bất an.

9.1.2. Màu sắc quá ít

Ngược lại, nếu màu sắc quá ít cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sống và tâm trạng của mọi người. Có người không thích màu sắc sặc sỡ, do đó khi trang trí cố gắng giảm hết sức số lượng màu, hơn nữa những màu đã có cũng phối hợp thật nhạt, độ sáng cũng thật thấp, cho rằng như vậy mới tốt cho việc sinh sống lâu dài.

Thực ra, đây là một cách nghĩ sai lầm, bởi nếu thiếu màu sắc tươi sáng, phong phú, mọi người sẽ dần dần mài mòn đi tình cảm bột phát của bản thân, khi mệt mỏi sẽ không đem đến cảm giác tích cực mà thường rơi vào trạng thái không có tinh thần.

9.1.3. Lựa chọn hợp lý

Khi chọn lựa và ứng dụng màu sắc, nếu không biết nên dùng màu gì tốt nhất thì có thể dùng một số màu khá nhạt, sau đó dần dần tăng lên.

9.2. Làm thế nào để các màu sắc được hài hòa, thống nhất

9.2.1. Khiến cho màu sắc hình thành sự trùng lặp và hô ứng

Thực chất đó là xác lập màu nhấn của căn phòng. Dùng một màu sắc trong một số khu vực mấu chốt, khiến cho màu sắc này trở thành màu sắc chính của cả ngôi nhà. Ví dụ đồ dùng gia đình, rèm cửa sổ, thảm sàn đều sử dụng màu sắc tương đồng, những màu sắc khác phải ở vị trí thứ yếu, không rõ ràng.

Ngoài ra, có thể dựa trên mối liên hệ giữa các màu sắc, khiến cho quan hệ đạt được sự hô ứng. Ví dụ, mặt tường màu trắng có thể làm nổi bật sofa màu đỏ, đồng thời trên sofa màu đỏ có đặt lên đệm tựa màu trắng, khi đó đệm tựa màu trắng và mặt tường đã hình thành sự hô ứng mạnh, có cảm giác hô ứng và cảm giác sôi nổi. Đây vừa là biện pháp làm giảm số lượng màu sắc vừa là một phương pháp làm sinh động thêm quan hệ màu sắc. 

9.2.2. Khiến cho màu sắc hình thành sự liên tục có tiết tấu

Nếu bố trí màu sắc có quy luật, sẽ rất dễ đem lại cảm giác vận động về mặt thị giác, cũng có thể gọi là cảm giác vận luật của màu sắc. Loại cảm giác này không nhất định phải sử dụng cho diện tích rộng, cái mà nó nhấn mạnh là sự tiếp cận vị trí của vật thể.

Ví dụ trên một bộ sofa góc, một tấm thảm sàn lớn, một vài chiếc đệm tựa, một vài bức tranh hoặc một bó hoa đều có mảng màu tương đồng, tức là giữa chúng có liên hệ về mặt tiết tấu, làm như vậy có thể khiến cho mối quan hệ giữa đồ đạc với đồ đạc trong không gian nội thất trở nên chặt chẽ hơn, có sức liên kết hơn.

9.2.3. Sử dụng màu sắc tương phản mạnh

Màu sắc khi tương phản mạnh sẽ nổi bật hơn. Trong nhà ở, nếu có màu sắc tương phản rõ ràng thì những màu sắc khác rất khó được coi trọng, bởi vì thị giác thường hướng về những màu sắc tương phản. Thông qua sự tương phản ở vị trí gần, khiến cho mỗi màu sắc trở nên rõ ràng hơn, từ đó làm tăng thêm sức biểu hiện của màu sắc.

Phương diện tiến hành tương phản rất nhiều, không chỉ giới hạn với tương phản màu sắc mà còn tương phản độ sáng và độ màu và đều có thể vận dụng trong trang trí nhà cửa. Thông qua độ đậm nhạt của màu sắc, sự tương phản và điều tiết sáng tối có thể đạt được sự thống nhất và hài hòa của nội thất, làm tăng thêm sự phong phú cho màu sắc.

Điểm nhấn của phối màu cho nhà cửa chính là giải quyết số lượng màu sắc và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng, khiến cho cả không gian hòa hợp với chính thể hài hòa, từ đó tạo nên phong cách độc đáo của căn nhà Số lượng màu sắc nội thất có thể phân chia thống nhất thành rất nhiều tầng thú, quan hệ màu sắc cùng với sự tăng lên của tầng thứ cũng trở nên phức tạp, đồng thời cũng đơn giản hóa theo sự giảm bớt tầng thứ, giữa tầng thứ khác nhau xác lập số lượng màu sắc.

Thông qua sự trùng lặp, hô ứng và liên hệ của màu sắc, không chỉ có thể tăng cảm giác vận luật và cảm giác phong phú của màu sắc, khiến cho màu sắc nội thất phong phú đa dạng mà lại hài hòa, thống nhất, không đơn điệu, không lộn xộn và trong thống nhất có biến hóa.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :