Home / Làm Đẹp / Nước/Eau trong mỹ phẩm: tính chất, công dụng, xử lý sạch

Nước/Eau trong mỹ phẩm: tính chất, công dụng, xử lý sạch

/

Trong tất cả nguyên liệu để sản xuất mỹ phẩm, nước là nguyên liệu được sử dụng nhiều nhất, không có nước, số lượng sản phẩm mỹ phẩm sẽ giảm đáng kể, do giá thành thấp lại chiếm nhiều trong thành phần mỹ phẩm. Trong toàn bộ lượng nước sạch trên hành tinh của chúng ta, chỉ có 0,03% là có thể sử dụng được ngay.

thành phần nước trong mỹ phẩm

1. Tính chất và công dụng của nước trong ngành mỹ phẩm

Nước là một trong những chất cực kỳ hoạt động, hoạt động hơn nhiều so với hầu hết các nguyên liệu sử dụng trong sản phẩm mỹ phẩm, nên mức độ phá hủy của nước cũng lớn: nước ăn mòn kim loại, phân hủy các chất vô cơ và hữu cơ.

Trong sản xuất mỹ phẩm, nước được sử dụng chủ yếu làm dung môi hoặc để pha loãng hơn là một thành phần thiết yếu. Khi kết hợp với các chất khác, nước tạo thành phần quan trọng của dầu gội đầu, sản phẩm tắm rửa, sản phẩm nhũ tương… Do rẻ tiền và dễ kiếm, nước đóng vai trò quan trọng trong sản xuất mỹ phẩm. Tuy nhiên cần quan tâm đến chất lượng nước khi sử dụng.

2. Thành phần của nước trong mỹ phẩm

Thông thường nước ngầm hoặc nước mặt có chứa các ion vô cơ như: Ca2+, Na+, K+, HCO3-, SO2-4, Cl và SiO2-3… Ngoài ra, nước có thể chứa một lượng nhỏ chất hữu cơ, đặc biệt là các acid humic và acid fulvic (các acid cao phân tử sinh ra do quá trình phân hủy thực vật), amino acid, carbohydrate và protein (từ lá hư), các alkan, alken phân tử lớn (từ sự phát triển của tảo) và một số hợp chất sunfua (từ nước thải sinh hoạt hoặc nhà máy).

Ở các vùng đô thị, nguồn nước mặt và nước ngầm bị ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp. Trong nước ô nhiễm có thể có mặt các chất vô cơ như: amoniac, phosphat, borat, crom, kẽm, berili, cadimi, đồng, Co, Ni, Fe, Mn… Chất hữu cơ như: xăng, các hợp chất chlor hóa, chất hoạt động bề mặt alkyl benzen sulfonat natri… Bất kể nguồn nước nào đều có thể chứa vi khuẩn, virus, vi nấm…

Hầu hết nguồn nước đều không thích hợp để sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Nước cần trải qua các giai đoạn làm sạch trước khi sử dụng. Vấn đề làm sạch nước không phải là sản xuất nước hoàn toàn tinh khiết, mà chỉ sản xuất nước đạt được tiêu chuẩn, người sử dụng hài lòng khi nhìn, ngửi, uống và không nguy hiểm cho sức khỏe con người. Nước uống cần phải loại hết các chất rắn, lơ lửng, acid humic và các vi sinh vật nhưng vẫn còn chứa đủ muối khoáng và khí hòa tan.

3. Các yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng nước trong sản xuất mỹ phẩm

Nguồn nước chính là nước sinh hoạt cung cấp từ các nhà máy. Tuy nhiên, với những tiêu chuẩn cao cấp ngày nay, để đạt được những sản phẩm ổn định, nước cần phải làm sạch hơn nữa trước khi đưa vào sản xuất.

3.1 Ảnh hưởng của các ion vô cơ trong nước

Nước cấp từ nhà máy nước vẫn còn một lượng lớn muối Na, Ca, Mg, K, các kim loại nặng, đặc biệt là Hg, Cd, Zn, Cr, cũng như vết sắt, vết kim loại khác có thể sinh ra từ ống dẫn.

Trong sản xuất các loại sản phẩm nước như nước thơm và nước dùng sau cạo râu (chứa 15 ÷ 40% nước), khi có mặt các ion kim loại như Ca, Mg, Fe, và Al có thể sự hình thành các chất kết tủa, làm mất phẩm chất sản phẩm. Khi sản phẩm có mặt các hợp chất hữu cơ dạng phenolic (chất chống oxy hóa và chất ổn định), các ion kim loại như Fe sẽ phản ứng và tạo thành những chất gây đổi nhau cản nhầm.

Trong sản xuất các sản phẩm dạng nhũ tương, sự có mặt của các ion vô cơ có điện tích cao như Mg và Zn có thể làm mất cân bằng tĩnh điện của các chất hoạt động bề mặt, từ đó ảnh hưởng đến độ bền nhũ. Cũng như sự hiện diện của các ion này trong pha nước cũng có thể tăng độ nhớt sản phẩm như kem, nước thơm (gội và tắm), xà phòng tắm và một số sản phẩm khác,

3.2. Ảnh hưởng của vi sinh vật

Hoạt động của vi sinh vật sẽ làm hỏng sản phẩm mỹ phẩm do sự phát sinh mùi hoặc màu lạ. Rất nhiều vi sinh vật như vi khuẩn, vi nấm ngoài việc làm hỏng sản phẩm còn có thể gây hại đến người tiêu dùng. Vì vậy, tất cả nguyên liệu, dụng cụ, thiết bị… có liên quan đến sản xuất cần phải được tiệt trùng hiệu quả.

Thông thường số lượng vi sinh vật trong nước cấp biến đổi thất thường, do mức độ phát triển của vi sinh vật phụ thuộc vào độ bẩn của nước. Sự nhiễm bẩn của nước phụ thuộc vào cách xếp đặt đường ống, hệ thống lưu trữ, mức độ thường xuyên sử dụng hệ thống phân phối.

4. Xử lý, làm sạch nước cấp

4.1. Loại ion vô cơ

Có thể sử dụng các phương pháp: trao đổi ion, chưng cất, thẩm thấu ngược.

4.1.1.Trao đổi ion

a- Hệ thống trao đổi ion 

Được cấu tạo từ nhựa trao đổi ion cao phân tử. Các loại nhựa trao đổi ion có thể tham gia phản ứng trao đổi với các ion vô cơ trong nước, giải phóng ion trong nhựa. Nhựa cationic để loại cation và nhựa anionic dùng để loại anion.

b- Hoạt động của hệ thống trao đổi ion

– Nguồn nước (A) chứa nhiều loại ion vô cơ khác nhau được cho đi qua cột cationic (I). Ở đây xảy ra quá trình trao đổi, các ion (+) được thay thế bởi H và chúng được giữ lại vị trí hoạt hóa trên cột, nước ra sau cột A là nước (B). Sau đó nước (B) tiếp tục đi qua cột anionic và tại đây các ion (-) bị giữ lại và thay thế chúng là ion OH → nước đi ra (C) không còn chứa ion vô cơ.

– Sau một thời gian hoạt động do các vị trí hoạt hóa trên nhựa bị làm đầy bởi những ion, khả năng trao đổi ion không còn, khi đó nhựa cần được tái sinh lại để tiếp tục hoạt động.

– Để tái sinh, tiến hành rửa nhựa bằng acid và bazơ, phản ứng trao đổi xảy ra và cation được thay thế bởi HI*, anion thay thế bởi OH-.

c- Các loại cột trao đổi ion

Theo cách hoạt động sẽ có bạ loại, mỗi loại sẽ tạo ra nước có chất lượng khác nhau.

Loại 1: Hai loại nhựa được đặt ở hai cột khác nhau gọi là hệ tầng đôi. Đối với loại này thường có sự trao đổi không ion Na từ cột cationic. Hiện tượng này phụ thuộc vào tỷ lệ giữa ion Na trên tổng cation trong nước. Sau khi qua cột anionic, natri hydroxyt hình thành làm cho nước có pH khoảng 10 (khá cao).

Loại 2: Cả hai loại nhựa được trộn lại và chứa trong một cột duy nhất gọi là hệ tầng hỗn hợp. Loại này khắc phục được nhược điểm của loại 1 là pH sẽ được giảm xuống do có phản ứng trung hòa. Hàm lượng của ion trong nước sau trao đổi có nồng độ thấp hơn Ippm. Tuy nhiên nước sau trao đổi thường hấp thu CO, và hình thành acid yếu H2CO3 dẫn đến nước có pH acid.

Loại 3: Kết hợp một cationic mạnh vào một cationic yếu trong loại tầng đôi hoặc tầng hỗn hợp. Hệ thống này thì không thể loại được ion có tính acid yếu như CO2-3, SiO2-3. Nước sau khi xử lý vẫn còn các ion đặc biệt với hàm lượng khá cao, pH của nước khoảng 4. Hệ thống này được dùng để làm sạch nước chứa nhiều vi khuẩn.

Theo cách tái sinh thì hệ thống trao đổi ion cũng được phân chia thành các loại: tự tái sinh, lớp phim hoặc là loại không tái sinh. 

Tự tái sinh: Hệ thống trao đổi ion tự tái sinh thì sự tái sinh sẽ được thực hiện bằng một trong hai cách:

Thủ công: sử dụng van

Tự động: nhựa sẽ được tái sinh khi hoạt động tới thời điểm đã định sẵn khi chế tạo hoặc khi chất lượng nước ra đạt đến một giá trị định trước nào đó. Loại tự động được ứng dụng rộng rãi, và cả hai loại tầng hỗn hợp và tầng đôi đều có thể sử dụng hệ thống này.

Hệ thống trao đổi ion dạng lớp phim (đối với tầng hỗn hợp): Khi cần phải tái sinh lại thì lớp phim ngoài sẽ được lấy đi và được thay thế bởi nhựa sạch mới. Lớp phim sau khi không còn khả năng trao đổi được đưa trở lại phân xưởng để tái sinh.

Loại này có một số thuận lợi hơn so với hệ thống tự tái sinh: nước đi ra tinh khiết hơn, không mất thời gian ở việc tái sinh nhựa, không cần nhiều về kỹ năng sử dụng, lắp đặt nhanh và dễ. Bất tiện chính là chi phí vận hành khá cao.

Loại không tái sinh: nhựa sau khi không còn khả năng trao đổi thì sẽ không cho tái sinh để hoạt động lại. Loại này có ích ở những nơi mà sự tái sinh nhựa không thực hiện được.

Một loại kỹ thuật trao đổi ion thường được sử dụng trong công nghiệp mỹ phẩm là “trao đổi bazơ” hoặc làm mềm nước”. Trong trường hợp này thì nước cung cấp đi qua cột nhựa cationic dạng Na, do đó ion Ca, Mg trong nước cứng được thay thế bởi ion Na và nước đi qua đã được làm mềm. Hàm lượng ion tương đương của nước được xử lý bằng phương pháp này còn lại như cũ, chỉ có hàm lượng cation là thay đổi.

4.1.2. Phương pháp chưng cất

Phương pháp trao đổi ion có một số nhược điểm: không loại được những chất không phân ly thành ion hoặc không ion trong nước, do đó phương pháp chưng cất được sử dụng để khắc phục nhược điểm trên.

Phương pháp này chủ yếu sử dụng trong công nghiệp được vì ngành này yêu cầu độ tinh khiết của nước cao, phải được vô trùng hoàn toàn. Công nghiệp mỹ phẩm không sử dụng phương pháp này do giá thành cao. Nếu không tái sinh nhiệt thì chưng cất một kg nước cần năng lượng tối thiểu là 0,8kW.

4.1.3. Phương pháp siêu lọc

Phương pháp siêu lọc đơn giản và nhanh chóng để tách phân tử hòa tan bằng cách bơm nước qua máy lọc có kích thước của lỗ xốp nhỏ hơn kích thước phân tử hòa tan. Tuy nhiên, phương pháp này có năng suất (dưới 10l/ph) quá thấp để có thể sử dụng nhiều cho sản xuất.

4.1.4. Phương pháp thẩm thấu ngược

Nguyên tắc của phương pháp thẩm thấu ngược là dùng màng bán thấm, màng lọc cho các phân tử nước đi qua và giữ lại các hạt có kích thước nhỏ hơn nước. Nước tự do hấp phụ trên bề mặt lọc, ở một áp suất lọc nhất định thì chỉ có nước lọc đi qua được, còn các ion tuy có kích thước nhỏ hơn kích thước lỗ xốp nhưng do có đám mây hydro bao bọc nên sẽ không thấm qua lớp màng.

Phương pháp này có thể loại được 95% ion vô cơ, 100% vi khuẩn, virus và tỷ lệ khá cao các thành phần hữu cơ khác, phụ thuộc vào khối lượng phân tử của chúng.

Để lọc, người ta dùng nhiều loại màng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là màng bằng cellulose acetat là loại màng có cấu trúc không đẳng hướng. Màng cellulose có lớp hoạt tính phía trên có bề dày 1800 ÷ 2600A, còn ở dưới là lớp hạt thô (100 ÷ 200µm) đảm bảo độ bền cơ màng lọc, làm việc ổn định ở 18MPa và pH 3 ÷ 8.

Màng được tạo thành với cấu trúc thích hợp để làm việc ở áp suất khoảng 400 ÷ 600psi (2,7 ÷ 4,1N/mm). Quá trình này làm việc trong chu trình liên tục. Nước cung cấp đi qua lớp màng (lớp hoạt tính) và sẽ thu được nước tinh khiết ở bên kia lớp màng. Có khoảng 75% nước đi qua, còn lại 25% nước vẫn còn chứa chất ô nhiễm.

Nhược điểm của phương pháp này là màng dễ bị hư dưới sự tấn công của vi khuẩn, nhiệt độ cao và giá trị pH thay đổi trong khoảng hẹp, sau thời gian sử dụng khoảng 5 ÷ 10 năm cần thay đổi lớp màng. Lớp màng không đẳng hướng có giá thành cao.

Đây là một phương pháp khá lý tưởng để cung cấp nước sạch cho ngành mỹ phẩm.

4.2. Loại vi sinh vật

Nguồn nước cấp chứa khá nhiều vi sinh vật, số lượng vi sinh vật khoảng 10^2 ÷ 10^3/1ml. Trong thùng chứa thì số lượng vi khuẩn có thể đạt 10^5 hoặc 10^6 trong 1m2 nước. Trong điều kiện trữ nước do dinh dưỡng hạn chế nên chủ yếu chứa các loại vi khuẩn gram (-) mà điển hình là pseudomonas, achromobacter và alcaligenes.

Những loại này phát triển khá nhanh trong các sản phẩm có nền là nước.

Có một vài loại vi sinh vật không bị ảnh hưởng bởi quá trình diệt khuẩn bằng clo hóa, hoặc tồn tại ở dạng bào tử, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng sẽ phát triển trở lại.

Quá trình trao đổi ion có thể làm cho mức độ ô nhiễm vi sinh vật cao hơn, lớp phim nước mỏng trên bề mặt cột là nơi lý tưởng cho vi sinh vật phát triển. Ngoài ra, trong các thiết bị sản như bơm, thiết bị đo lường, khớp nối, đường ống, van dụng cụ đo đều có những vùng đọng nước tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển. Như vậy trước khi đem tinh chế để loại ion cần phải loại vi khuẩn trong nước.

Một số phương pháp được sử dụng để loại trừ vi sinh vật như: phương pháp xử lý hóa học, xử lý nhiệt, lọc, xử lý bằng tia UV, thẩm thấu ngược. Chúng có thể được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau.

4.2.1. Phương pháp hóa học

Cột nhựa và hệ thống chưng cất bị ô nhiễm được vô trùng và làm sạch bằng cách dùng dung dịch formol loãng hoặc clo (ở dạng dung dịch hypoclorit) nhưng trước đó nhựa phải được cho tiếp xúc với dung dịch muối để được rửa giải hoàn toàn, nếu không thì formol có thể chuyển thành para formaldehyd (một dạng polyme), và hypoclorit làm thoát khí clo. Phương pháp xử lý thông thường là cho tầng xúc tác tiếp xúc với dung dịch hóa chất 1% qua đêm.

Khi nước đã qua trao đổi ion, cho vào chất khử trùng với nồng độ nhỏ để loại bỏ những vi sinh vật còn sót lại và ngăn ngừa sự lây nhiễm.

Trong sản xuất mỹ phẩm, nước thường được cho thêm clo với hàm lượng 1 ÷ 4ppm (nếu dùng 5ppm thì chỉ gây mùi nặng, chưa có ảnh hưởng rõ ràng đến sản phẩm mỹ phẩm). Việc kiểm tra nồng độ của clo phải tiến hành thường xuyên và thực hiện tái định lượng khi nồng độ clo giảm xuống mức dưới 1ppm.

Một phương pháp ít được sử dụng hơn là xử lý nước với chất bảo quản và có gia nhiệt. Ví dụ, dùng dung dịch paraben 0,4 ÷ 0,5% và đun nóng ở 70°C thì nước hầu như được vô trùng và nước này được dùng cho việc làm sạch thiết bị sản xuất.

4.2.2. Phương pháp nhiệt

Nước được gia nhiệt đến 85 ÷ 90°C trong khoảng 20 phút. Phương pháp này đủ để loại trừ tất cả vi khuẩn thông thường trong nước nhưng không phá hủy được dạng bào tử. Sau đó khoảng 2 giờ để bào tử chuyển thành vi khuẩn, lặp lại quá trình gia nhiệt lần thứ hai để loại hết vi sinh vật, nếu cần thiết có thể thực hiện thêm lần thứ ba.

Có thể dùng một thiết bị liên tục gọi là UHST để loại hết toàn bộ vi khuẩn trong nước: gia nhiệt nước ở trong một lớp phim đến khoảng 120°C, sau đó làm lạnh tức thời.

4.2.3. B UV

Chiếu tia tử ngoại có bước sóng < 300nm qua nước để tiêu diệt hầu hết vi sinh vật thông thường trong nước như: virus, vi khuẩn và nấm mốc.

Do hiệu ứng quang hóa của tia tử ngoại tác động lên DNA và RNA trong lớp nuclein bảo vệ bên ngoài vi sinh vật nên chúng sẽ bị tiêu diệt khi xuất hiện trong nước. Tia sóng này không thể xâm nhập sâu vào nước, do đó nước phải cho chảy thành lớp mỏng khi tiếp xúc gần với nguồn UV, điều này gây giới hạn trong việc cung cấp. Phương pháp này không có hiệu quả hoàn toàn, một lượng nhỏ vi sinh vật có thể thoát khỏi hệ thống xử lý và sẽ tăng nhanh lên nếu điều kiện cho phép

4.2.4. Phương pháp lọc

Cho nước đi qua thiết bị lọc có kích thước lỗ xốp < 0,2um thì hầu hết vi khuẩn đều bị giữ lại. Phương pháp lọc có thể dùng riêng hoặc phối hợp với thiết bị lọc khác.

Bộ lọc màng tuy loại được vi sinh vật gây ô nhiễm trong nước khá hiệu quả nhưng có một số nhược điểm sau: 

– Gây cản trở dòng chảy.

– Chi phí thiết bị và vận hành khá cao. 

– Sự tích lũy của vi sinh vật trong chất trợ lọc làm tăng trở lực và khi đạt đến một giá trị áp suất nhất định thì một vài loại vi sinh vật nào đó có thể phá vỡ màng hoặc làm cho nước ngừng chảy.

– Một vài vi sinh vật, đặc biệt là nấm mốc có thể phát triển nhanh trong chất tạo màng và sẽ đi qua lớp màng.

– Thiết bị sử dụng theo một chu trình kín liên tục, trên đường đi quả bơm và màng lọc, nước tuần hoàn có thể bị nóng lên và làm cho sự phát triển vi sinh vật bị giữ lại trên màng tăng lên.

Cuối cùng cần chú ý rằng, chất sinh nhiệt sẽ bị loại khỏi nước sau quá trình chưng cất, siêu lọc và thẩm thấu ngược. 

5. Hệ thống cung cấp nước trong mỹ phẩm

Chất lượng của nước sử dụng phụ thuộc vào chất lượng nước cấp, hệ thống, bản chất của vật liệu chế tạo, cách thiết kế và bảo dưỡng hệ thống.

5.1. Vật liệu

Vật liệu cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước. Vật liệu không đảm bảo sẽ bị ăn mòn làm nhiễm bẩn nguồn nước.

Vật liệu lý tưởng để chế tạo đường ống cung cấp nước là thép không gỉ. Nhưng do giá thành cao nên chưa được sử dụng phổ biến. Hiện nay, nhiều hệ thống cung cấp sử dụng đường ống bằng nhựa, đặc biệt là loại ống được chế tạo từ PVC, PP và ABS…

Nhược điểm của vật liệu nhựa là không chịu được tác động của nhiệt và có thể giải phóng những cấu tử trong nhựa làm ô nhiễm nước như: chất xúc tác, chất tạo màu, chất hóa dẻo, chất chống oxy hóa, chất bôi trơn, chất chống keo tụ, chất làm giảm tĩnh điện, chất làm tăng sức bền và monome, polyme phân tử nhỏ.

5.2. Sơ đồ bố trí của hệ thống cung cấp

Sự lựa chọn vật liệu chế tạo ống và thiết bị là bước đầu tiên trong quá trình thiết kế hệ thống cung cấp, tiếp theo cần phải thiết kế hệ thống, lựa chọn và bố trí thiết bị, bởi vì một thiết bị dù tốt nhất cũng gây ra hàng loạt vấn đề khi sử dụng nếu không thích hợp với mục đích sử dụng và không liên kết với thiết bị khác trong hệ thống.

Sau đó, người kỹ sư thiết kế cần quyết định các bộ phận cơ bản của sơ đồ, lựa chọn thiết bị lọc chính và phụ, có thể lựa chọn hệ thống phần phối kín hoặc hệ thống có bình trung gian.

5.2.1. Sơ đồ hệ thống phân phối kín

Hệ thống phân phối tuần hoàn kín và liên tục, nước được tuần hoàn liên tục trong đường ống, từ bồn chứa dầu qua các thiết bị lọc, đến các điểm sử dụng, sau đó quay trở lại điểm khởi đầu. Nước chuyển động liên tục trong hệ thống nên không có các vùng tĩnh.

Do nước tuần hoàn liên tục, nên nhược điểm chính của hệ thống là có sự trộn lẫn của nước trước khi lọc và nước đã qua xử lý làm hao tốn công xử lý.

sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống phân phối kín
Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống phân phối kín

Nước cung cấp A được đưa vào bồn chứa kín (C) có lắp van cầu, có gắn ống thông khí B và van xả D. Bơm E đẩy nước dọc theo van một chiều F qua thiết bị lọc thô trước khi vào thiết bị trao đổi ion (H), sau đó đi vào vào thiết bị khử trùng (I). Nước được bơm đến các điểm sử dụng L1, L2, L3, L4, sau đó tuần hoàn trở lại đi qua bồn chứa ban đầu.

5.2.2. Sơ đồ hệ thống có bồn trung gian

Hệ thống này ít được sử dụng hơn so với hệ thống phân phối kín. Hệ thống phân phối có bồn trung gian sử dụng một bồn chứa trung gian để chứa nước đã qua xử lý. Hệ thống này tránh được sự trộn lẫn nước ban đầu với nước đã xử lý, giảm hao phí năng lượng. Tuy nhiên do có bồn chứa trung gian, hệ thống tồn tại những khu vực tĩnh, dễ tạo điều kiện cho sự phát triển của vi sinh vật. Hệ thống có bồn chứa hoạt động hiệu quả trong những nhà máy nhỏ.

Nước sau khi qua hai hệ thống trao đổi ion sẽ được đưa vào bồn chứa kín N, có bộ lọc vi sinh vật (B) và một thiết bị khử trùng bằng clo, hàm lượng clo trong nước được giữ ở 1ppm. Từ bồn chứa trung gian, nước được bơm đến các điểm sử dụng L1…L4.

sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống phân phối có bồn trung gian
Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ thống phân phối có bồn trung gian

5.2.3. Sơ đồ hệ thống phân phối với hệ tống xử lý song song

Đối với sản xuất lớn và yêu cầu độ tinh khiết cao thì thường dùng hệ thống phân phối. Trong hệ thống này, mỗi đường dẫn nước đều được bố trí các thiết bị xử lý riêng. Giá thành của hệ thống cao nhưng đảm bảo sự an toàn và ít gặp sự cố nhất.

Trước khi bắt đầu lắp đặt bất cứ một hệ thống cung cấp nào, điều cần thiết là nắm được yêu cầu và đặc điểm kỹ thuật của nhà máy. Khi thiết kế hệ thống, có thể sử dụng riêng hoặc có thể kết hợp các hệ thống với nhau.

sơ đồ hệ thống phân phối xử lý song song
Sơ đồ hệ thống phân phối xử lý song song

5.3. Quản lý hệ thống cung cấp nước

Lúc lắp đặt cần giữ tất cả đường ống và những thiết bị phụ tùng ở điều kiện sạch sẽ và tất cả những nắp đậy, thiết bị lọc bụi khác phải phù hợp với cả hệ thống.

Nếu như đặt mua hệ thống thì cần phải giữ thùng chứa sạch sẽ và thay đổi bộ lọc, đèn chiếu UV với tần số thích hợp.

Khi sử dụng, cần kiểm tra độ dẫn điện của nước thường xuyên, và cột nhựa trao đổi ion phải được thay hoặc là tái sinh đúng lúc. Tương tự, cần kiểm tra mức ô nhiễm vi sinh vật ít nhất là một lần trong một tuần. Toàn bộ hệ thống cần được làm sạch bằng phương pháp hóa học khi gặp sự cố đầu tiên.

Tóm lại, nếu hệ thống tinh lọc nước được thiết kế phù hợp và được bảo quản tốt thì sẽ cung cấp đủ nước với chất lượng cao, cho sản xuất ở bất cứ lúc nào.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :