Home / Làm Đẹp / 7 nguyên liệu làm mỹ phẩm handmade organic chiết xuất tự nhiên

7 nguyên liệu làm mỹ phẩm handmade organic chiết xuất tự nhiên

/

Cấu tạo hóa học những nguyên liệu làm mỹ phẩm từ sáp dầu mỡ, chất hoạt động bề mặt, chất giữ ẩm, chất bảo quản, chất sát trùng và chất tạo màu.

nguyên liệu làm mỹ phẩm

Các nguyên liệu cơ bản để sản xuất mỹ phẩm bao gồm: các chất dầu mỡ sáp, chất hoạt động bề mặt, chất làm ẩm, chất sát trùng, chất bảo quản, chất chống oxy hóa, chất màu, hương liệu và các chất phụ gia khác. Số lượng cũng như thành phần của các nguyên liệu tùy theo công thức của từng loại mỹ phẩm. Mỗi loại nguyên liệu có thể có một hoặc nhiều chức năng, và có tác động tương đồng hoặc hỗ trợ cho các nguyên liệu khác.

Bài viết giới thiệu một số vấn đề chính như: các yêu cầu cơ bản, nguồn gốc, tính chất của một số hợp chất tiêu biểu, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng, ứng dụng trong mỹ phẩm và độc tính đối với người sử dụng. Riêng nguyên liệu hương liệu được trình bày chi tiết trong phần hóa hương liệu và các chất phụ gia khác trong phần sản phẩm chăm sóc da dạng phấn.

1. Nguyên liệu làm mỹ phẩm từ dầu mỡ sáp

Khi nói về dầu, người ta thường nghĩ tới các chất lỏng hữu cơ có trong tự nhiên giống như dầu olive và dầu dừa… là các glycerid hay các hợp chất este của glycerin và các acid béo, những loại dầu này đã được dùng làm nguyên liệu cho mỹ phẩm từ rất lâu. Ngoài ra, người ta cũng tìm thấy các hợp chất có tính chất tương tự trong tự nhiên hoặc tổng hợp như các dầu hydrocacbon, dầu silicon… Những loại này không chứa glycerin liên kết.

Có nhiều cách để định nghĩa đầu và sáp theo chức năng của chúng. Dầu đặc trưng bởi tính chất kỵ nước và tính không tan trong nước. Chúng có thể được sử dụng làm chất nhũ hóa hoặc làm dung môi cho các chất hữu cơ, có độ nhớt thấp và tồn tại ở thể lồng ở 21°C. Mỡ có tính chất tương tự như dầu nhưng tồn tại ở thể rắn ở 21°C, vì vậy tính lan rộng của mỡ bị giới hạn.

Sáp là chất rắn ở 21°C, tan trong dầu, không tan trong nước và tạo lớp màng chống nước. Một số loại sáp được sử dụng làm các chất nhũ hóa, trợ nhũ hóa, chúng là các chất rất dễ gây lắng.

1.1. Dầu và mỡ

Hóa mỹ phẩm thường quan tâm đến những tính chất sau đây của dầu mỡ:

– Chất lỏng, có độ bay hơi thấp ở nhiệt độ phòng và không tan trong nước.

– Có cảm giác nhờn khi cọ giữa các ngón tay, sau khi sử dụng chúng để lại một lớp màng nhớt trên da và tóc.

– Lan tỏa dễ dàng trên da và để lại một lớp màng kỵ nước trên da.

– Có thể được nhũ hóa với nước khi có mặt một chất nhũ hóa thích hợp.

– Có khả năng làm dung môi tốt, vì thế có thể được dùng làm dung môi cho các chất hữu cơ khác ở trạng thái được nhũ hóa hay không nhũ hóa, nhằm mục đích điều trị hay tạo các hiệu quả mong muốn khắc.

– Có tính chất làm mềm, chúng ngăn sự khô da bằng cách duy trì hàm lượng nước của da, tạo cho da sự mềm mại. 

– Nguyên liệu dầu mỡ thỏa mãn sáu tính chất trên có mạch cacbon dài và thường không phân nhánh.

1.1.1. Dẫn xuất từ dầu mỏ

Dầu mỏ là một hỗn hợp các hydrocacbon có màu nâu đen và mùi mạnh. Trong dầu mỏ, ngoài hydrocacbon còn có các hợp chất chứa lưu huỳnh, nitơ… Những chất này có mùi khó chịu và gây khó khăn cho việc tinh chế dầu mỏ.

Phần sản phẩm từ dầu mỏ sử dụng trong nguyên liệu làm mỹ phẩm gọi là dầu trắng. Dầu trắng kỹ thuật dùng trong mỹ phẩm có tỷ trọng 0,84 ÷ 0,88; ở 60/60°F, phạm vi nhiệt độ sôi từ 310° ÷ 410°F.

Thành phần dầu trắng: Dầu trắng là một hỗn hợp phức tạp của các loại hydrocacbon khác nhau, chúng là các hợp chất polymethylen đa vòng hay các vòng no với công thức chung (CH2)n.

Ngoài ra, dầu trắng có chứa một lượng nhỏ parafin mạch dài, các naphten, hệ đa vòng chứa nhân thơm.

Trong hệ vòng naphten gắn với nhánh parafin, nhóm -CH là nơi dễ bị oxy hóa, khi tiếp xúc với không khí, đặc biệt khi có ánh sáng mặt trời, có thể làm biến đổi màu hay gây mùi khó chịu.

1.1.2. Hydrocacbon có nguồn gốc động vật

Chất tiêu biểu là squalene (C30H50), nguồn chính là từ dầu gan cá mập. Phân tử squalene có 6 nhánh metyl và có 6 liên kết đôi, các liên kết này rất dễ bị oxy hóa và polyme hóa. Squalene có mùi cả khó chịu và không được sử dụng nhiều trong mỹ phẩm. 

Squalene có thể được biểu diễn như sau:

Tuy nhiên, khi hydro hóa dầu gan cá mập trước khi chưng cất ta thu được hydrocacbon no squalan. Squalan được dùng làm chất làm mềm và chất bôi trơn da, nó dễ bị nhũ hóa và tương hợp với phần lớn các cấu tử của mỹ phẩm.

1.1.3. Dầu silicon

Là các chất tổng hợp có công thức như sau:

Mạch phân tử silicon có thể kéo dài. Dầu silicon ở trạng thái lỏng, không màu, trong như nước, có sức căng bề mặt thấp. Chúng không bị oxy hóa khi đốt nóng trong không khí đến nhiệt độ 150°C, cháy khi đốt trên 320°C, bị phá hủy bởi acid và kiềm mạnh. Silicon có độ nhớt ít thay đổi theo nhiệt độ.

Dầu silicon được sử dụng trong kem stearat (như kem tan) để tạo lớp màng chống nước trên da, đưa vào kem đánh răng để tạo lớp màng kỵ nước ngăn ngừa dính thức ăn.

1.1.4. Rượu cao phân tử

Rượu cao phân tử là các rượu có mạch cacbon dài kỵ nước. Rượu cao phân tử phản ứng với các acid tạo ester.

– CH2OH + CH3COOH → – CH2OCOCH3 + H2O

– CH2OH + HOSO2OH → CH2OSO2OH + H2O 

Các ester của rượu cao phân tử với acid sulfuric có thể được trung hòa bằng kiềm để tạo muối alkyl sulfate, muối này được sử dụng làm chất HĐBM (thường sử dụng nhóm rượu có mạch cacbon từ 12 ÷ 18). 

Trong sản xuất thường dùng acid chlorosulfonic: 

– CH2OSO2OH + CISO2OH → – CH2OSO2OH + HCL

Các rượu béo có mạch cacbon chứa 18 nguyên tử C (no hoặc không no) được sử dụng nhiều trong mỹ phẩm.

Oley alcol tổn tại ở dạng tự do hay ester, có trong dầu đầu của động vật có vú, nguồn chính là cá nhà táng. Sản phẩm thương mại là một chất lỏng màu vàng tái, chỉ số iod 80 : 85, không tan trong nước.

CH3(CH2)7 – CH = CH – (CH2)7 – CH2OH

Linoleyl alcol được sản xuất từ dầu và mỡ có nguồn gốc động vật và thực vật. Tính chất tương tự oleyl alcol.

CH2(CH2)4CH = CH – CH2 – CH = CH3 – (CH2)7CH2OH

Linolenoyl alcol có hai nối đôi giống với linoleyl alcol và có tính chất tương tự.

CH3 – (CH2 – CH = CH2)3 – CH2 – (CH2)6 – CH2OH

1.1.5. Glyceride

Glyceride phản ứng với acid tạo ra các mono, di hay tri ester. Các triglyceride của glycerine và các acid béo có nhiều và chiếm phần lớn trong các loại dầu mỡ tự nhiên.

Tính chất lý hóa của các glyceritde được xác định bởi cấu trúc và tính chất của các acid béo trong phân tử. Các acid béo chứa từ 10C trở lên tương đối khó bay hơi, đôi khi có mùi mạnh và được trưng.

Các dầu có nguồn gốc từ động vật dưới nước có nhiều loại acid béo khác nhau hơn dầu mỡ từ động vật trên cạn và thực vật, chúng đều có hàm lượng các acid béo không no cao. Động vật nước ngọt và thực vật chủ yếu chứa các acid không nó C16 và C18 và một lượng nhỏ các acid không no C20 và C22. Trái lại, đầu thực vật biển chứa một lượng lớn các acid béo không no C20 và C22, với một lượng nhỏ hơn là các acid không no C16 và C18.

Dầu cá không thể dùng trực tiếp trong nguyên liệu mỹ phẩm do có mùi mạnh và khuynh hướng bị oxy hóa. Dầu cá được xử lý để thu lấy các cấu tử có giá trị trong ngành mỹ phẩm như squalene, oleyl alcol, spermaceti và vitamin A.

Acid béo no: Công thức chung CnH2nO, với n là số chẵn, các acid béo quan trọng nhất là:

AcidSố nguyên tử CĐiểm nóng chảy (°C)
Butyric 4-19
Caproic6-1,5
Caprylic 816
Gapric1031,5
Lauric1244
Myristic1454
Palmitic1664
Stearic1870
Arachidric2077
Behenic2280

Acid béo không no

(1) Acid chứa một nối đôi

– Acid oleic: CH3(CH2)CH = CH(CH2)COOH, được tìm thấy trong tất cả đầu và mỡ, m.p 4°C; b.p 286°C (ở 100mm Hg); chỉ số iod 90. Rất khó tách ra ở trạng thái tinh khiết. 

– Acid erucic: CH3(CH2)7CH = CH(CH2)11COOH; có trong các glycerid của dầu cải, dầu mầm hạt mù tạc, mầm hạt quế trúc m.p 33,8°C; b.p 314,4 (ở 100mmHg); chỉ số iod 75. 

(2) Acid chứa một nối đôi và nhóm hydroxyl 

Acid ricinoleic CH3(CH2)5CH(OH)CH2CH = CH(CH2)7COOH. Xà phòng, sodium ricinoleate có tính sát trùng cũng như tính chất tẩy rửa, m.p 5,5°C; b.p 245°C (ở 10mmHg); chỉ số iod 85.

(3) Acid có một vòng và một nối đôi: CnH2n-4O2

Acid hydnocarpic có trong dầu hydnocarpus. Các tinh thể không màu khi mới điều chế, màu sẫm dần và nhiệt độ nóng chảy giảm so với ban đầu là 69 – 60°C.

(4) Acid Chaulmoogric: CH(CH2)10COOH

Acid chaulmoogric có trong dầu chaulmoogric, m.p 68,5°C; b.p 247 : 248°C (ở 20mmHg), chỉ số iod 90,5. Nó cũng sẫm dần và bị giảm nhiệt độ nóng chảy. 

(5) Acid có hai nối đôi: CnH2n-4O2

Acid linoleic là chất tiêu biểu nhất trong nhóm này, có nhiều cái glycerid tự nhiên như trong hạt cây thuốc phiện và dầu lạnh, dầu ngô, dầu đậu nành; m.p 12°C; chỉ số iod 181.1. 

CH3(CH2)4CH = CH – CH2 – CH = CH – (CH2)7COOH

(6) Acid có b3 nối đôi: CnH2n-6O2

Acid linolenic có trong nhiều glycend tự nhiên: dầu đậu nành, dầu hạt cây thuốc phiện, dầu lạnh..; b.p 230 : 232°C (ở 17mmHg). 

CH3(CH2 – CH = CH)3CH2(CH2)6COOH

(7) Các acid béo không bão hòa khác

Một số acid béo không bão hòa có trong dầu dẫn xuất từ động vật dưới nước như acid clupanodonic C22H34O2, nó là một dầu có mùi mạnh, đóng rắn ở -78°C, sôi ở 236°C ở 5mmHg. Acid clupanodonic rất dễ bị oxy hóa khi tiếp xúc với không khí. 

1.1.6. Dầu, mỡ, sáp tổng hợp

Acid béo mạch dài và các rượu mạch dài tự do có thể thu trực tiếp từ nguyên liệu tự nhiên, chúng được dùng để tổng hợp các ester, bằng các phản ứng giữa rượu và acid mạch ngắn. Ví dụ, khi acid palmitic phản ứng với methyl alcol khi có mặt acid hydrochloric, sau đó để lắng, sản phẩm methyl palmitate sẽ tách ra nằm ở lớp dưới.

Ester của rượu thấp phân tử có thể tạo ra trực tiếp từ các glyceride bằng phản ứng rượu phân. Các methyl ester của hỗn hợp acid lauric, myristic, palmitic có thể được điều chế trong thương mại bằng phản ứng của methyl alcol với dầu hạt quả cọ hay dầu dừa với xúc tác acid hoặc bazơ.

Methyl ester có giá trị thương mại cao vì có nhiệt độ sôi thấp hơn các acid béo tương ứng và có thể tách ra khỏi hỗn hợp các acid béo. Từ methyl ester, người ta có thể tổng hợp được các acid béo hoặc rượu béo. Acid béo được dùng rộng rãi trong việc sản xuất các alcylolamid hoặc điều chế các glyceride không có trong tự nhiên như glyceryl monostearate (C17H35COOCH3 – CHOH – CH2OH), một chất trợ nhũ hóa.

Các triglyceride cũng có thể được tổng hợp bằng cách acetyl hóa glyceryl monostearate để sản xuất các dầu, mỡ, sáp tổng hợp. 

1.2. Sáp

Trong nguyên liệu làm mỹ phẩm, sáp là các chất rắn không tan trong nước, tồn tại ở dạng tinh thể hay vô định hình. Sáp có nhiều loại và thường là hỗn hợp như sáp ong chủ yếu là ester nhưng chứa 11 ÷ 13% hydrocacbon và khoảng 13% acid béo tự do.

1.2.1. Tinh chất

Sáp sử dụng trong nguyên liệu làm mỹ phẩm có các tính chất sau

– Tạo lớp màng chống thấm nước nhờ có mạch cacbon dài kỵ nước.

– Tan trong dầu, làm tăng nhiệt độ nóng chảy của lớp màng dầu trên da, làm tăng khả năng làm mềm da của dầu. 

– Một số trường hợp được sử dụng làm tác nhân nhũ hóa hay trợ nhũ hóa.

– Thông thường làm tác nhân lắng và trong nhiều trường hợp cải thiện độ mịn và cấu trúc của kem nhũ tương.

– Tạo độ bóng trong các sản phẩm mỹ phẩm như son môi.

1.2.2. Một số sáp thông dụng trong mỹ phẩm

Sáp parafin thu từ dầu mỏ, gồm chủ yếu các hydrocacbon no (C20 – C35), m.p 35 ÷ 75°C.

Các acid béo: các acid rắn ở nhiệt độ phòng và có thể sử dụng như sáp.

Cetyl alcol: CH3(CH2)14 – CH2OH, có tính chất sáp, làm chất trợ nhũ hóa, tồn tại ở dạng tự do cũng như dạng ester trong spermaceti, m.p 47 ÷ 49°C.

Stearyl alcol: CH3(CH2)16CH2OH; m.p 57 ÷ 59°C, có tính chất gần giống cetyl alcohol, đôi khi trong quá trình sử dụng hai rượu được trộn lại với nhau.

Lanolin: chất rắn hơi dính, màu vàng tái. Lanolin là hỗn hợp các ester trung tính và rượu tự do, bao gồm cả cholesterol, có thể làm tác nhân nhũ hóa, m.p 31 ÷ 41°C.

Spermaceti thu được từ cá nhà táng, chứa chủ yếu cetyl palmitate, mp 45°C.

Sáp ong là hỗn hợp các ester cetyl hoặc myricyl với gốc myristate hoặc palmitate và một vài acid béo tự do, rượu tự do và các hydrocacbon, m.p 62 ÷ 64°C, có thể dùng làm chất nhũ hóa rất hiệu quả.

Sáp carnauba là sáp lá cọ, cứng và giòn, vàng sáng hay xanh xám với độ bóng cao, m.p 84°C.

Cũng như dầu và mỡ, việc sản xuất các sáp có nhiều tiến bộ, đặc biệt là trong kỹ thuật polymer, nhiều loại sáp tổng hợp đã được sử dụng thay thế nguyên liệu tự nhiên.

2. Chất hoạt động bề mặt

Hiện tượng cơ bản của chất hoạt động bề mặt là hấp phụ, nó có thể dẫn đến hai hiệu ứng hoàn toàn khác nhau:

– Làm giảm một hay nhiều sức căng bề mặt ở các mặt phân giới trong hệ thống.

– Bền hóa một hay nhiều mặt phân giới bằng sự tạo thành các lớp bị hấp phụ.

Một tác nhận hoạt động bề mặt là một vật liệu có tính chất làm thay đổi năng lượng bề mặt mà nó tiếp xúc. Sự giảm năng lượng bề mặt có thể dễ quan sát thấy trong sự tạo bọt, sự lan rộng một chất lỏng trên một chất rắn, sự phân tán các hạt rắn trong môi trường lỏng và tạo sự huyền phù. Ứng dụng chất hoạt động bề mặt trong nguyên liệu làm mỹ phẩm có 5 lĩnh vực chính tùy thuộc vào tính chất của chúng

– Tẩy rửa.

– Tạo bọt.

– Làm ướt khi cần có sự tiếp xúc tốt giữa dung dịch và đối tượng.

– Làm tan khi cần đưa vào sản phẩm cấu tử không tan, ví dụ như đưa hương liệu.

– Nhũ hóa trong các sản phẩm, sự tạo thành và độ bền của nhũ tương là quyết định, ví dụ trong kem da và tóc.

2.1. Phân loại chất hoạt động bể mặt

Tất cả các chất hoạt động bề mặt thông thường có một điểm chung về cấu trúc: phân tử có hai phần, một phần kỵ nước và một phần ưa nước.

Phần kỵ nước thường là các mạch hay vòng hydrocarbon hay hỗn hợp của cả hai, phần ưa nước thường là các nhóm phân cực như các nhóm carboxyl, sulfate, sulfonate, hay trong các chất hoạt động bề mặt không ion, nó là một số nhóm hydroxyl hay ether. Tính chất kép này của các phân tử cho phép nó hấp thụ ở mặt phân cách và điều này giải thích cho tính chất của chúng.

Có thể phân loại chất hoạt động bề mặt theo nhiều cách, nhưng có lẽ hợp lý nhất là phân loại theo tính chất ion, khi đó sẽ có bốn loại:

Chất hoạt động bề mặt anion là các chất mà phân tử của chúng trong nước có ion hoạt động bề mặt tích điện âm, ví dụ như C17H33COO-Na+ (natri oleate).

Chất hoạt động bề mặt cation; các ion hoạt động bề mặt trong dung dịch tích điện dương.

Chất hoạt động bề mặt không ion: phần ưa nước thường cấu tạo từ vô số các nhóm phân cực, ví dụ nhóm hydroxyl hay liên kết ether trong dãy ethylene oxide. Cũng những liên kết đó được dùng để tăng tính ưa nước trong một số chất hoạt động bề mặt anion, ví dụ như các alkyl ether sulfate R (OCH2CH2)nOSO3-M+.

– Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính có khả năng tạo các ion hoạt động bề mặt tích điện dương lẫn âm.

2.2. Tính chất của chất hoạt động bề mặt

Sự thay đổi về tính chất bề mặt khi nồng độ của một dung dịch nước của chất hoạt động bề mặt tăng lên là một đặc điểm của phần lớn các phân tử hoạt động bề mặt. Ví dụ khi nồng độ tăng, sức căng bề mặt của dung dịch sodium dodecyl sulfate (C12H25OSO3Na) giảm nhanh cùng với những sự thay đổi tương ứng về các tính chất vật lý như sức căng giữa các bề mặt, độ dẫn điện…

Ở một nồng độ nào đó có một sự gián đoạn xảy ra, sức căng bề mặt và các tính chất khác không giảm xuống nữa. Nồng độ ở đó sự gián đoạn này xảy ra được gọi là nồng độ mixen tới hạn CMC. Việc khám phá ra sự gián đoạn này và nguyên nhân của nó lần đầu tiên được giải thích bởi McBain vào những năm 1920. 

Mcbain cho rằng sức căng bề mặt giảm khi nồng độ của các ion đơn tăng (ví dụ như C12H25OSO3-) đến giá trị CMC thì các ion đơn bắt đầu liên kết thành một nhóm mà ông gọi là mixen. Các mixen này có thể ở dạng hình cầu, với kích thước phân tử, trong đó các đuôi kỵ nước của các anion định hướng theo tâm quả cầu, trong khi phần đầu ưa nước lại ở bề mặt ngoài. 

Vì vậy, một mixen hình cầu của sodium dodecyl sulphate sẽ gồm một nhóm các đuối C12H25 hướng về phía tâm quả cầu còn đầu -OSO3-, ở bề mặt ngoài. Thực tế các mixen không có tính chất hòa tan các chất hữu cơ không tan trong nước. Hiện tượng này gọi là sự làm tan, hiện tượng này là một trong những đặc tính quan trọng của chất hoạt động bề mặt đối với hóa mỹ phẩm.

Khi sức căng bề mặt giảm, tính tạo bọt và thẩm ướt thường tăng. Sức căng bề mặt giảm thường đi đôi với sự giảm sức căng giữa các bề mặt mà nó cho tính nhũ hóa và tẩy rửa tốt hơn. Ở nồng độ cao hơn CMC, tất cả các chất hoạt động bề mặt đều có tính làm tan ra.

2.2.1. Các chất hoạt động bề mặt anion

(1) Nhóm anion liên kết trực tiếp với phần kỵ nước:

– Fatty acid soap

– Alkyl sulfate

– Alkyl sulfonate

– Alkyl aryl sulfonate

– α -sulfonyl fatty acid

– Secondary alkyl sulfate

– Alkyl phosphat

(2) Nhóm anion liên kết quả liên kết ester:

– Monoglyceride sulfate

– Dialkyl sulfosuccinate 

– Polyethylene glycol ester sulfate

– Isethionat

(3) Nhóm anion được nối qua liên kết ete

– Alkyl ether sulfate

– Alkyl phenol sulfate

– Alkyl ether carboxylate

– Alkanolamide sulfate

(4) Nhóm anion được nối qua liên kết amid

– Taurine

– Sarcosinate

(5) Nhóm anion được nối qua liên kết amidin

– Imidazole sulfate

2.2.2. Các chất hoạt động bề mặt cation

(1) Các muối amoni bậc 4 trong đó nitơ nối trực tiếp với nhóm kỵ nước

– Muối alkyl trimethyl ammonium

– Muối dialkyl dimethyl ammonium

– Muối alkyl benzyl dimethyl ammonium

(2) Chất hoạt động bề mặt dicationic

– Muối quaternized diamine

(3) Alkanol amides

– Fatty acid alkanolamide

– Fatty acid dialkanol amid

(4) Các dẫn xuất poly ethylene glycol

– Alkyl poly glycol ether

– Alkyl aryl poly glycol ether

– Poly glycol ester

– Thio ether

(5) Các dẫn xuất polyethylene imin

– Alkyl poly ethylene imin

– Poly ethylene imin amid

2.2.3. Chất hoạt động bề mặt không ion

(1) Alkylamino acid

– Alkyl ß-aminopropionat

– Betaine

(2) Acylamino acid

– Alkyl B-aminopropionat

– Acyl peptit

– Alkyl imidazoline

2.3. Chọn lựa và sử dụng chất hoạt động bề mặt (HĐBM)

2.3.1. Tẩy rửa

Là một quá trình phức tạp liên quan đến việc thấm ướt đối tượng (tóc hay da). Nếu các chất cần loại là dạng rắn dính mỡ, quá trình tẩy rửa liên quan đến sự nhũ tương hóa các chất dầu được loại đi và bền hóa nhũ tương.

Với nhu cầu làm sạch da, xà phòng vốn là một chất tẩy rửa rất tốt. Theo thói quen, người ta thường đòi hỏi có bọt nhiều dù nó không có chức năng gì, khả năng tạo bọt của xà phòng có thể tăng dễ dàng bằng cách thêm vào các acid béo mạch dài.

Việc làm sạch tóc phức tạp hơn và trong quá trình làm sạch tóc, thể tích bọt có đóng một vai trò nào đó. Sodium lauryl ether sulphate (SLES) là một cấu tử thông dụng của xà phòng gội đầu và sự tạo bọt thường được tăng thêm bằng cách cho thêm các alkanolamide. Các chất HĐBM lưỡng tính được dùng cho các xà phòng gội đầu chuyên biệt.

2.3.2. Thẩm ướt

Tất cả các tác nhân HĐBM đều có một số tính chất làm ướt. Trong mỹ phẩm, người ta thường sử dụng các alkyl sulphate mạch ngắn (C2), hoặc alkyl ether sulphate.

2.3.3. Tạo bọt

Như đã nói ở trên, để tạo thể tích bọt lớn và bền, người ta thường sử dụng SLES tăng cường với các alkanolamide.

2.3.4. Nhũ hóa

Một tác nhân nhũ hóa tốt thường đòi hỏi phần kỵ nước hơi dài hơn tác nhân thấm ướt. Hiện nay xà phòng vẫn còn được sử dụng làm tác nhân nhũ hóa trong nguyên liệu làm mỹ phẩm do dễ điều chế. Nếu một acid béo được đưa vào pha dầu và kiềm đưa vào pha nước, khi đó các nhũ tương bền dầu trong nước dễ dàng hình thành khi trộn lẫn. Nhũ tương nước trong dầu như trong một số kem tóc thường được bền hóa bằng xà phòng chứa kali..

Các chất HĐBM không ion cũng có giá trị trong nhũ tương.

2.3.5. Làm tan

Tất cả các chất HĐBM trên nồng độ CMC đều có tính chất làm tan. Điều này quan trọng khi cần phải kết hợp hương liệu hữu cơ hay một chất hữu cơ không tan vào sản phẩm, vi dự như xà phòng gội đầu. Xà phòng, alkyl ether sulfate và phần lớn là các chất HĐBM được sử dụng cho mục đích này, tuy nhiên cần sử dụng ở nồng độ cao để cho quá trình làm tan tốt

2.4. Các tính chất khác của chất hoạt động bề mặt

Ngoài những tính chất đã nói trên trong nguyên liệu làm mỹ phẩm hiện nay, một số chất HĐBM có những tính chất riêng biệt như sau:

– Tất cả các chất HĐBM cation hấp phụ mạnh trên protein và các đối tượng khác tích điện âm, vì thế chúng được dùng để cải thiện tính chất bề mặt của các đối tượng, ví dụ làm tăng cảm giác bóng và mượt của tốc. Các hợp chất cation có khả năng diệt khuẩn và có thể được sử dụng trong các xà phòng, gội đầu đặc biệt và nước súc miệng.

– Sodium N-lauroyl sarcosinate có khả năng ức chế enzyme hexokinase (enzyme có liên quan đến quá trình phân hủy đường trong miệng) được sử dụng trong kem đánh răng.

– Không nên sử dụng hỗn hợp các chất HĐBM cation do chúng có thể tạo thành các muối cation – anion không tan, ngay cả các chất HĐBM anion cũng có ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ, bọt sinh ra bởi SLES có thể dễ dàng bị phá vỡ bởi xà phòng, tính chất này được ứng dụng trong các công thức chất tẩy rửa tạo bọt thấp. 

3. Chất giữ ẩm

Chất giữ ẩm là các vật liệu hút ẩm có tính chất hút hơi nước từ không khí ẩm cho đến khi đạt được cân bằng. Khả năng hút ẩm phụ thuộc tính chất làm ẩm và độ ẩm tương đối của không khí xung quanh. 

Chất giữ ẩm được thêm vào các kem mỹ phẩm, đặc biệt là loại mỹ phẩm dầu trong nước, để tránh các kem bị khô khi tiếp xúc với không khí. Tuy nhiên, tính chất của lớp màng hút ẩm với chất gây ẩm tồn tại trên bề mặt da khi sử dụng sản phẩm có thể là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng lên kết cấu và tính trạng của da.

3.1. Sự mất nước của sản phẩm

Việc một sản phẩm mỹ phẩm bị khô có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, từ khi sản xuất đến lúc sử dụng hết sản phẩm. Quá trình này chịu tác động của nhiệt độ, mức độ tiếp xúc và độ ẩm tương đối của không khí. Nước trong sản phẩm bốc hơi tới khi áp suất hơi nước của sản phẩm bằng với áp suất của hơi nước trong không khí xung quanh.

Đặc tính của bao bì đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa khô sản phẩm, sản phẩm sẽ được bảo vệ tốt khi bao bì được đóng kín hiệu quả, chất làm ẩm ít quan trọng hơn vì chỉ có một không gian nhỏ phía trên bị bão hòa với hơi nước.

Đối với sản phẩm nhũ tương, độ khô sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào loại nhũ tương. Nhũ tương nước trong dầu mất nước chậm hơn nhiều so với nhũ tương dầu trong nước. Các loại kem nhũ tương dầu trong nước rất khó duy trì trạng thái còn mới nguyên ngay cả khi bao bì rất kín.

Chất giữ ẩm chắc chắn không loại trừ được hoàn toàn sự khô sản phẩm. Nồng độ của chất làm ẩm trong pha nước của một sản phẩm điển hình thường quá thấp để có thể đạt được cân bằng với độ ẩm không khí trung bình. Chất giữ ẩm chỉ có thể làm giảm tốc độ mất nước vào không khí, do đó bao gói kín là yếu tố bảo vệ tốt nhất.

3.2. Tính chất của chất giữ ẩm lý tưởng

Sản phẩm phải hút ẩm từ không khí và duy trì nó ở điều kiện độ ẩm thông thường.

– Hàm lượng nước ít thay đổi theo độ ẩm tương đối. Chất làm ẩm có độ nhớt thấp, dễ trộn vào sản phẩm, tuy nhiên chất có độ nhớt cao giúp ngăn ngừa sự tách rời nhũ tương. Chất làm ẩm nên tương hợp với nhiều vật liệu, có tính chất dung môi hay làm tan.

– Màu, mùi, vị thích hợp.

– Không độc và không kích thích.

– Không gây ăn mòn đối với vật liệu bao gói.

– Không bay hơi, không đóng rắn hay kết tinh ở nhiệt độ thông thường.

– Trung tính trong các phản ứng. 

– Không đắt tiền.

3.3. Các loại chất làm ẩm

Có ba loại chất làm ẩm: vô cơ, cơ kim, và hữu cơ.

3.3.1. Chất làm ẩm vô cơ

CaCl2 là điển hình, khá hiệu quả nhưng gây ăn mòn và tính tương hợp không cao, chỉ được sử dụng giới hạn trong sản phẩm mỹ phẩm.

3.3.2. Chất làm ẩm cơ kim (kim loại – hữu cơ)

Chất chính là natri lactat, chất này có tính hút ẩm cao hơn glycerin, nhưng không tương hợp với một số vật liệu thô, có thể gây ăn mòn, có vị rõ rệt và có thể biến màu. Các loại chất làm ẩm cơ kim không được sử dụng rộng rãi trong mỹ phẩm, tuy nhiên được dùng trong kem da vì nó không độc và không gây viêm da, pH trong sản phẩm có thể được điều chỉnh bằng cách trộn với acid lactic, cũng là một chất hút ẩm khá tốt. Dung dịch đệm có thể đạt pH 7,1 ÷ 7,2 ở tỷ lệ 5% natri lactate/ acid lactic.

3.3.3. Chất làm ẩm hữu cơ

Được sử dụng rộng rãi nhất, các chất làm ẩm hữu cơ là các rượu đa chức, các ester và ete của chúng như ethylen glycol, glycerin (trihydroxy propan), sorbitol (hexahydroxy hexan).

Rượu đa chức có thể được tạo ra bằng cách cộng ethylene oxide vào đơn vị cơ bản (ethylen glycol) hay vào chính nó. Các liên kết ete làm giảm tính chất hút ẩm, tính chất này phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ các nhóm -OH và số nguyên tử cacbon.

Các hợp chất thường được sử dụng nhất cho mục đích hút ẩm trong nguyên liệu làm mỹ phẩm là: ethylen glycol; propylen glycol; glycerol; sorbitol; polyethylene glycol.

3.4. Yếu tố an toàn khi sử dụng chất giữ ẩm

Ba chất làm ẩm được dùng rộng rãi trong nguyên liệu làm mỹ phẩm là glycerin, sorbitol và propylen glycol do không độc đối với da. Ethylene glycol không được xem là an toàn do bị oxy hóa cho acid oxalic và bất kỳ sự hấp phụ nào qua da cũng có thể dẫn đến sỏi thận. Glycerin đã bị đặt vấn đề về khả năng có thể hút nước từ da.

4. Chất sát trùng

Một tỷ lệ lớn các sản phẩm mỹ phẩm dùng cho các mục đích vệ sinh thông thường có chứa chất sát trùng, từ xà phòng, dầu gội đầu cho đến nước rửa miệng và kem đánh răng.

Các tác nhân diệt khuẩn dùng trong nguyên liệu làm mỹ phẩm chủ yếu để giảm bớt các tình trạng như hôi miệng, mùi cơ thể, mụn trứng cá. Mặc dù có một số điểm tương đồng, các sản phẩm này nên được phân biệt rõ ràng với các sản phẩm chứa thuốc chữa trị các tình trạng bệnh lý, do thuốc chữa trị có thể chứa chất kháng sinh và các tác nhân khác không thích hợp cho mục đích vệ sinh.

Việc sử dụng các chất sát trùng trong sản phẩm mỹ phẩm khác với việc sử dụng các chất bảo quản. Chất sát trùng có khả năng chống lại các vi sinh vật trên da, đầu hay trong miệng… còn chất bảo quản là để duy trì sản phẩm luôn ở điều kiện tốt.

4.1. Hệ vi sinh vật trên cơ thể người

Hệ vi sinh vật trên bề mặt cơ thể bao gồm hai nhóm riêng biệt: hệ thường trực và tạm thời. Các vi sinh vật thường trực sinh trưởng nhanh trên bề mặt da, như acetobacter, micrococcus, corynebacterium gram+, những nơi ẩm như nách và háng có thể có mặt các vi khuẩn gram- như acinetobacter.

Lượng vi khuẩn thay đổi đáng kể trên các phần khác nhau của cơ thể: tóc, nách, háng. Phần lớn các vi sinh vật thường trực được tìm thấy trên bề mặt da nhưng khoảng 10 ÷ 20% tập trung ở nang lông, tuyến bã nhờn… những nơi khó loại chúng. Thường việc rửa da không hiệu quả lắm trong việc loại đi các vi sinh vật thường trực (và điều đó chỉ có thể đạt được bằng cách dùng các chất diệt khuẩn). Tuy nhiên phần lớn các vi sinh vật thường trực có độc tính thấp.

Các vùng của cơ thể (chủ yếu là tay) cũng chứa các hệ vi sinh vật tạm thời nhiễm từ môi trường. Hệ sinh vật này gồm nhiều loại khác nhau, kể cả các loài gây bệnh. 

Tuy nhiên, thông thường các vi sinh vật tạm thời chỉ tồn tại trong khoảng thời gian tương đối ngắn do không đủ độ ẩm và có sự hiện diện các chất kháng khuẩn như các acid béo trên bề mặt da. Khác với các sinh vật thường trực, các sinh vật này chỉ gắn lỏng lẻo với da và có thể bị loại đi phần lớn bằng cách tắm rửa.

4.2. Tính hiệu quả của các tác nhân diệt khuẩn

Tính hiệu quả của các sản phẩm sát trùng không chỉ phụ thuộc vào tính chất của chất diệt khuẩn mà còn tùy thuộc vào bản chất của công thức sản phẩm, có thể là xà phòng thỏi, nhũ tượng, xà phòng lỏng hay cách thức tẩy rửa… 

Việc sử dụng chlorhexidine tạo ra hiệu quả nhanh chóng trong việc loại các sinh vật trên da, trong khi các hợp chất phenol như hexachlorophene và irgasan 300 chỉ có tá dụng hạn chế ở lần đầu sử dụng, các chất này chỉ có hiệu quả tốt sau thời gian sử dụng lâu dài.

Điều cần thiết đối với các sản phẩm mỹ phẩm có tính sát trùng là mục đích sử dụng: loại các sinh vật thường trực hay tạm thời, loại nhanh chóng hay lâu dài… 

Các sản phẩm dùng cho tắm rửa thông thường giúp cơ thể chống lại cả vi khuẩn thường trực và tạm thời, trong khi những sản phẩm dùng trong việc rửa tay liên quan đến toalet, vệ sinh thực phẩm, cầm nắm trẻ em mới sinh, tiếp xúc người bệnh cần có khả năng loại đi các sinh vật tạm thời trên da để ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm.

4.3. Các chất sát trùng thông thường

4.3.1. Phenol và cresol

Một số lớn các dẫn xuất của phenol và cresol có kính diệt khuẩn, các hợp chất này diệt vi khuẩn gram+ mạnh hơn gram chúng được sử dụng với nồng độ 0,1 ÷ 5%. Tuy nhiên, nhiều hợp chất tan ít trong nước nên cần phải dùng xà phòng hay các chất hoạt động bề mặt khác để đạt nồng độ cho hoạt động tối ưu. Dù độc tính có thể khá thấp, nhiều phenolic gây ra kích thích ở nồng độ cao, do vậy các hợp chất này không được sử dụng nhiều trong nguyên liệu làm mỹ phẩm và được thay thế bằng các bisphenol, các salicylanilide và carbanilide.

4.3.2. Bisphenol

Trong rất nhiều các chất sát trùng phenol đã được tổng hợp, các phenol đã được halogen hóa nằm trong số các chất có hoạt tính mạnh nhất. Nhiều dẫn xuất diphenol được halogen hóa được sử dụng rộng rãi trong mỹ phẩm, đặc biệt do khả năng tương hợp với xà phòng như hexachlorophene, dichlorophene, bithionol và irgasin DP 300. 

Cũng như các phenolic, các hợp chất này thường hiệu quả đối với vi khuẩn gram+ hơn vi khuẩn gram và nấm. Chúng tan ít trong nước, vì vậy các sản phẩm dung dịch cần chứa các chất hoạt động bề mặt để đạt nồng độ cần thiết. Nồng độ thường được sử dụng là từ 0,3 ÷ 2%. 

Tất cả các hợp chất này không tương hợp với các hợp chất hoạt động bề mặt cation, hexachlorophene không tương hợp với các hợp chất hoạt động bề mặt anion và không ion. 

4.3.3. Công thức một số hợp chất sát trùng tương hợp với các chất anion

Hexachlorophene dùng trong xà phòng dạng thỏi, xà phòng lỏng và các nhũ tương tẩy rửa với nồng độ 2 ÷ 3%, hiệu quả giới hạn ở lần đầu sử dụng. Hiệu quả nhanh của một số sản phẩm xà phòng lỏng chứa 3% hexachlorophene có thể được tăng lên bằng cách thêm vào 0,3% chlorocresol.

Một bất lợi quan trọng khi sử dụng hexachlorophene là tính hoạt động chọn lọc của nó đối với vi sinh vật gram+ dẫn đến hiện tượng các vi sinh vật gram có thể phát triển trong các sản phẩm này.

Việc sử dụng rộng rãi hexachlorophene trong sản phẩm mỹ phẩm đã làm tăng sự lo sợ về nguy cơ tích tụ không mong muốn trong cơ thể. Vào tháng 9 năm 1912, sự nhiễm độc hàng loạt do dùng hexachlorophene trong một loại bột cho trẻ em liên quan đến một số cái chết của trẻ sơ sinh tại Pháp, dẫn đến việc cơ quan thực phẩm và thuốc men Hoa Kỳ loan báo sẽ hạn chế việc sử dụng hexachlorophene, sau đó là quy định dùng hexachlorophene tới nồng độ 0,1% làm chất bảo quản.

Dichlorophene cũng được sử dụng trong xà phòng và các sản phẩm mỹ phẩm nhưng không rộng rãi bằng hexachlorophene.

Bithionol: Mặc dù các bisphenol này ít gây ra kích thích đối với da và thỉnh thoảng mới gây ra dị ứng, nhưng đã có các bằng chứng về sự nhạy cảm ánh sáng do bithionol gây ra.

Irgasan DP 300 được sử dụng rộng rãi trong xà phòng thỏi diệt khuẩn, dầu gội đầu và các sản ph khử mùi. Rất hiệu quả ngay cả ở nồng độ thấp đối với nhiều vi khuẩn gram- và một phạm vi thông thường vi khuẩn gram+, nhưng không có tác động đối với loại pseudomonas và ít có hiệu quả với nấm.

Irgasan DP 300 không độc, không gây dị ứng và nhạy cảm ánh sáng, thường được sử dụng với nồng độ 0,5 ÷ 2% đối với các sản phẩm được rửa khỏi da sau khi dùng như xà phòng mỹ phẩm, chất phụ gia cho xà phòng tắm, xà phòng lỏng để phun tia… Đối với các sản phẩm được dùng trên da mà không loại đi như sản phẩm khử mùi, kem, sản phẩm vệ sinh kín, nồng độ sử dụng là 0,05 ÷ 0,2%. Irgasan DP 300 thường không tương hợp với xà phòng và các hệ anion khác.

Salicylanilid và carbanilid

(1) Các salicylanilide đã được halogen hóa

Các đồng đẳng của salicylamid và salicylanilid đã được sử dụng đặc biệt có tác dụng chống nấm và vi khuẩn, có hiệu quả khi làm các chất phụ gia cho xà phòng.

Một số hợp chất chính:

– 4,5-dibromo salicylamilid (DBS).

– 3′,4,5-trichloro salicylanilid (anobial)

– 3,4,5-tribromo salicylanilid (temasep IV, tuasal 100, TBS)

– 2,3,3,5-tetrachlorosalicylanilide (TCS)

– 3,3′,4,5′-tetrachlorosalicylanilide (irgasan BS 200, TCS)

Một trong những yếu tố ngăn cản việc sử dụng các salicylanilid được halogen hóa là sự an toàn của chúng. Người ta nghi ngờ tetrachloro salicylanilide rất nguy hiểm do khả năng gây ra sự nhạy cảm về ánh sáng. TCS gây ra sự viêm da do ánh sáng và không còn được sử dụng trong xà phòng.

Qua nghiên cứu tribromo salicylanilid và dibromo salicylanilid, người ta kết luận rằng các hợp chất này có tính nhạy cảm ánh sáng rất thấp. Các chất diệt khuẩn loại này đã được sử dụng trong xà phòng mỹ phẩm một thời gian dài và được sự chấp nhận của người tiêu dùng.

(2) Các carbanilid

Trichlorocarbanilide (3,4,4′-trichlorocarbanilide) còn gọi là TCC hay tetrachlorocarbon là một chất diệt khuẩn hoạt tính cao, và cũng như irgasan DP 300, được sử dụng rộng rãi ở nồng độ 1 ÷ 2% trong xà phòng diệt khuẩn và các sản phẩm mỹ phẩm khác. TCC gần như không tan trong nước, nhưng có thể được làm tan bởi một số hợp chất không ion.

TCC có độ an toàn tương đối cao, sử dụng trong xà phòng gội đầu, chất khử mùi, sản phẩm da và xà phòng. Tuy nhiên, phải lưu ý tránh nhiệt độ cao khi sản xuất vì nó phân hủy cho chloroaniline có độc tố cao.

Một carbanilid khác, 3-trifluoromethyl-4,4′-dichloro carbanilid (irgasan CF3, anobial TFC) không làm cho da bị nhạy cảm do ánh sáng. Một nhũ tương chứa 2% irgasan CF3 và 0,1% β-phenoxyethanol có hiệu quả diệt khuẩn kéo dài, tương tự như sản phẩm chứa hexachlorophene và có thể dùng thay thế hexachlorophene.

(3) Chất diệt khuẩn hoạt động bề mặt cation 

Được sử dụng rộng rãi trong nước rửa miệng, chất khử mùi, sản phẩm vệ sinh phụ nữ, sản phẩm cho phụ nữ, sản phẩm làm sạch gàu, sản phẩm tóc, các nước thơm làm se da… Một vài vấn đề nảy sinh khi sử dụng các hợp chất bậc 4 vì các hợp chất này có khuynh hướng làm cho vi khuẩn tạo thành khối và chúng bám chặt vào bề mặt các tế bào, vì lý do này, một tác nhân dội sữa hóa học cần phải được thêm vào. Thông thường các hợp chất bậc 4 hiệu quả đối với vị khuẩn gram+ hơn gram-.

Các hợp chất cation không tương hợp với một số lớn các vật liệu, đặc biệt là các hợp chất anion, kể cả xà phòng. Vì vậy những hợp chất này ít được sử dụng trong kem và dầu gội đầu trừ khi các tác nhân gây nhũ hóa không ion được sử dụng…

(4) Các hợp chất ammonium bậc 4

Ở nồng độ 1 ÷ 2% hay cao hơn có thể gây ra sự mở giác mạc mắt lâu dài. Nồng độ sử dụng cho dầu gội đầu là 0,5%. Sử dụng trên da với nồng độ 0,5 1%, do clo vị đắng, nên trong nước súc miệng, người ta khuyên nên dùng nồng độ thấp hơn. Trong chất khử mùi và bột sát trùng cho trẻ em thường dùng với nồng độ 0,1 ÷ 0,2%, dùng xử lý tã lót trẻ em với nồng độ 0,2%.

Từ năm 1970, theo một số báo cáo của các bệnh viện, dung dịch các hợp chất ammonium bậc 4 kém hiệu quả khi sử dụng chống lại một số mầm sinh bệnh. 

Một số chất điệt khuẩn amonium bậc 4:

Tên thương mạiNhóm hóa học
Benzalkonium chloride
Marinol
Vantoc CL
Roccal
Zephiral
Zephirot
Alkyl-dimethyl benzyl ammonium chloride
Arquad 16Alkyl-trimethyl ammonium chloride
Vantoc ALAlkyl-trimethyl ammonium Bromide
Cetrimid
CTAB
Cetavion
Morpan CHSA
Cetyl-trimethyl ammonium bromide
Domiphen bromid
Bradosol
β-phenoxyethyl-dimethyl-dodecyl ammonium bromide
Benzethonium chloride
Phemerol
Octaphin
Hyamin 1622
p-tert-Octylphenoxyethoxyethylammonium chloridedimethyl-benzyl
Fixanol VR
Vantoc B
Tetradecyl-pyridinium bromide
Fixanol C
Ceepryn
Cetyl-pyridinium bromide hay chloride
DiometamDi-(n-octyl)-dimethyl ammonium bromide
Isothan QAlkyl-isoquinolinium bromide

(5) Dowicil 200

1-(3-chloroallyl)-3,5,7-triaza-1-azoni adamantane chloride, sản xuất bởi Dow chemicals. Khi hoạt động, dowicil phóng thích từ từ formaldehyde trong dung dịch nước, nó hiệu quả đối với vi khuẩn hơn nấm và men. 

Dowicil tan nhiều trong nước, không bị ảnh hưởng đáng kể bởi pH, nhưng khi sử dụng trong thời gian dài dung dịch bị biến màu và có mùi đặc trưng. Hoạt động của nó được duy trì khi có mặt các chất tẩy rửa anion và không ion.

(6) Chlorhexidine

ù không thực sự là một hợp chất bậc 4, tuy nhiên giống chúng ở điểm là bị ức chế mạnh bởi các vật liệu anion. Hợp chất này có tính sát khuẩn tốt và độc tính rất thấp. Một số các chất làm giảm hiệu quả của chlorhexidine và sự hiện diện của các ion chloride, sulfate, phosphate hay cacbonate tự do gây ra kết tủa, nó không tương hợp với sodium carboxyl methylcellose, alginate, sáp ong và formaldehyde. 

Chlorhexidine là một tác nhân diệt khuẩn tác động nhanh được dùng cho các kết quả loại trừ tức thời. Nó được sử dụng rộng rãi làm chất sát trùng thông thường trong quá trình giải phẫu, trong xử lý các vết bỏng và vết thương và ngăn ngừa nhiễm khuẩn, trong bột trẻ em. 0,1% chlorhexidine hydrochloride có tính sát trùng dịu, trong khi nồng độ nhỏ hơn 0,5% được dùng trong sản phẩm vệ sinh phụ nữ.

Hiệu quả của chlorhexidine đối với hệ sinh vật rằng miệng đã được nghiên cứu, người ta thấy một nước xúc miệng chứa 0,2% chlorhexidine digluconate làm giảm lượng vi khuẩn thường tạo thành trên bề mặt răng.

(7) Chất diệt khuẩn hoạt động bề mặt lưỡng tính

Là một nhóm các hợp chất kết hợp tính tẩy rửa trong phần anion với khả năng diệt khuẩn trong phần cation. Các chất được sử dụng rộng rãi nhất trong nhóm này là amino acid glycine được thế bằng một nhóm alkyl amine mạch dài: R-NH(CH2CH2NH2)2CH2COOH với R là một nhóm alkyl, thường từ C10-C16.

Vì các hợp chất này rông nhạy cảm với việc bị mất hoạt tính do protein như các hợp chất ammonium bậc 4, chúng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp mỹ phẩm. Tuy nhiên hiệu quả của chúng đôi khi bị giảm do xà phòng và các hợp chất tẩy rửa anion khác, và trong một vài trường hợp do các chất tẩy rửa không ion.

(8) Các hợp chất halogen

Các dung dịch iodine ít được dùng do tính chất gây kích thích và dây bẩn, chúng được thay thế phần lớn bởi các iodophor. Các iodophor là hỗn hợp của iodine với các chất HĐBM được sử dụng làm chất sát trùng ở nồng độ 0,5 ÷ 1%, có áp suất hơi thấp và gần như không có mùi, ít gây kích thích và không dây bẩn.

Các iodophor có thể được đưa vào công thức cùng với các chất HĐBM anion, cation và không ion và các sản phẩm có ưu điểm hoạt động như chất làm sạch da cũng như chất sát trùng.

Sodium hypochlorite và các loại hợp chất giải phóng chloride là các chất diệt vi khuẩn, nấm và virus mạnh. Mặc dù chúng được sử dụng rộng rãi trong việc chống nhiễm trùng vết thương trong bệnh viện, nhưng thường không được dùng làm chất sát trùng da, có thể do mùi không dễ chịu của chúng và khuynh hướng gây kích thích da ở nồng độ chloride lớn hơn 0,5%.

(9) Hợp chất thủy ngân

Các hợp chất thủy ngân vô cơ như mercury chloride và mercury nitrate vẫn được sử dụng trong việc sát trùng da nhưng hiếm khi được sử dụng trong sản phẩm mỹ phẩm. 

5. Chất bảo quản

Chất bảo quản được thêm vào sản phẩm với 2 lý do

– Ngăn ngừa hư hỏng sản phẩm.

– Bảo vệ người tiêu dùng.

5.1. Nguồn gây ô nhiễm

Một số nguyên nhân gây nhiễm khuẩn:

– Từ nguyên liệu thô.

– Môi trường.

– Thiết bị.

– Vật liệu bao gói.

– Do người sản xuất; có thể đây là nguồn nhiễm khuẩn cao nhất.

5.2. Sự phát triển của vi khuẩn trong sản phẩm

5.2.1. Hàm lượng nước

Các vi sinh vật phụ thuộc vào nước để tổng hợp các thành phần của tế bào nên tính chất hóa lý của pha nước trong nhũ tương là yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự phát triển của vi sinh vật. Đối với các sản phẩm không nhũ tương, các yếu tố chủ yếu là pH, áp suất thẩm thấu, sức căng bề mặt và sức căng oxy của hệ thống.

Thông thường nhũ tương với pha liên tục là nước dễ bị vi khuẩn tấn công hơn nhũ tương với pha liên tục là dầu. Một số vi sinh vật có thể phá hủy các triglyceride trong các nhũ tương, quá trình này được tạo điều kiện thuận lợi bởi sự hấp phụ của vi sinh vật ở bề mặt dầu – nước. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dầu/nước có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của vi khuẩn.

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong pha nước như carbohydrate, protein, phospholipid của bất kỳ sản phẩm nào cũng sẽ góp phần vào sự phát triển của vi khuẩn và làm cho yêu cầu bảo quản sản phẩm cao hơn. Sorbitol, glycerol và ngay cả các chất HĐBM, đặc biệt là các chất không ion và một số ít các hợp chất anion khi có mặt ở nồng độ thấp có thể bị phân hủy bởi vi khuẩn. Alkyl sulfat, dẫn xuất polyethylene glycol có trọng lượng phân tử thấp bị phá hủy nhanh chóng, trong khi các chất alkyl sulfonated, alkylphenoxy polyoxyethanol và dẫn xuất polyethylene glycol cao phân tử bị tấn công chậm hơn.

5.2.2. Độ pH

Vì các loại vi khuẩn có các khoảng pH hoạt động khác nhau nên pH của sản phẩm không được xem là yếu tố diệt khuẩn. 

5.2.3. Áp suất thẩm thấu

Các màng bán thẩm bao quanh cơ thể vi sinh vật có thể bị vỡ do sự thay đổi về áp suất thẩm thấu, sau đó có thể dẫn đến sự co màng và lấy nước của vi sinh vật. Do vậy glycerin và sorbitol ở nồng độ 40 ÷ 50% hay các chất điện phân ở nồng độ cao có tác dụng ức chế vi sinh vật.

Vì vậy khi ở nồng độ đậm đặc, sản phẩm có khả năng tự bảo quản, tuy nhiên khi sử dụng chúng có thể bị pha loãng dẫn đến việc bị hư nhanh chóng. Ví dụ như dầu gội đầu, được bản cho các nhà làm tóc chuyên nghiệp ở dạng đậm đặc và được pha loãng khi dùng, điều này dẫn đến việc sản phẩm bị hư nếu không bảo bảo quản đúng cách.

5.2.4. Sức căng bề mặt và oxy

Sức căng bề mặt do chất hoạt động bề mặt tạo ra là một nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của vi khuẩn. Nhiều vi khuẩn gram- phát triển tốt trong môi trường có nhiều chất hoạt động bề mặt, trong khi phần lớn vi khuẩn gram+ không phát triển tốt ở giá trị sức căng bề mặt nhỏ hơn 0,05Nm.

Các vi khuẩn gram- phát triển nhiều trong dầu gội đầu và cũng là yếu tố gây nhiễm khuẩn cho pha nước của các nhũ tướng. Chất hoạt động bề mặt cation độc đối với nhiều vi sinh vật, chất hoạt động bề mặt anion độc đối với một vài vi sinh vật và các chất hoạt động bề mặt không ion gần như không độc đối với bất kỳ vi khuẩn nào.

Phần lớn các vi sinh vật, vi khuẩn và nấm gây hỏng sản phẩm là hiếu khí và sự phát triển của vi sinh vật phụ thuộc vào khả năng cung cấp oxy cho quá trình trao đổi chất.

5.2.5. Nhiệt độ

Vi khuẩn thường hoạt động ở nhiệt độ 30 ÷ 37°C, nấm và men ở 20 ÷ 25°C. Ở nhiệt độ thấp, hoạt động của vi sinh vật bị giảm.

5.3. Các yêu cầu của chất bảo quản

– Không độc, gây kích thích hay nhạy cảm ở nồng độ sử dụng trên da.

– Bền với nhiệt và chứa được lâu dài.

– Có khả năng tương hợp với các cấu tử khác trong công thức và với vật liệu bao gói.

– Nên có hoạt tính ở nồng độ thấp.

– Giữ được hiệu quả trong phạm vi pH rộng.

– Có hiệu quả đối với nhiều vi sinh vật.

– Dễ tan ở nồng độ hiệu quả. 

– Không mùi và không màu.

– Không bị bay hơi, giữ được hoạt tính khi có các muối kim loại như nhôm, kẽm, và sắt.

5.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng của chất bảo quản

5.4.1. pH môi trường

Các công thức của nguyên liệu làm mỹ phẩm có một khoảng pH rộng và loại này hay loại khác vi sinh vật có khả năng phát triển trong khoảng pH 2 ÷ 11, một chất bảo quản lý tưởng nên hiệu quả trong khoảng này. Thực tế, nhiều chất bảo quản có hoạt tính phụ thuộc pH, đa số hoạt động trong môi trường acid. 

Một số chất bảo quản có phạm vị pH hoạt động rộng nhưng là các hợp chất có hóa tính cao (như formaldehyt và các chất cho formaldehyt), chúng sẽ phản ứng với các chất khác trong công thức.

Nhiều acid yếu được dùng làm chất bảo quản, hoạt tính của chúng phụ thuộc lượng acid không bị phân ly, điều này lại phụ thuộc vào hằng số phân li và pH của hệ. Acid benzoic là một chất bảo vệ rất tốt ở dạng không bị phân ly do đó phụ thuộc rất nhiều vào pH, vì thế ở pH 6 lượng acid benzoic cần dùng nhiều gấp 60 lần ở pH 3.

Các phenol, kể cả các paraben, có tính acid yếu và do đó ít bị ảnh hưởng bởi pH như acid mạnh, như methylparaben ở pH 8.5 có khoảng 50% không bị phân ly.

Các chất bảo quản khác, ví dụ như các cationic chỉ hoạt động ở dạng bị ion hóa. Các hợp chất ammonium bậc 4 hoạt động ở pH kiềm, nhưng hoạt tính giảm nhanh theo pH.

5.4.2. Nồng độ của chất bảo quản

Nồng độ hiệu quả của chất bảo quản thay đổi từ 0,001% ở các hợp chất thủy ngân hữu cơ cho đến 0,5% ÷ 1% đối với các acid yếu do phụ thuộc vào pH của sản phẩm.

Khi sử dụng kết hợp các chất bảo quản, người ta nhận thấy có các ưu điểm sau:

– Việc sử dụng ở nồng độ thấp hơn của mỗi chất bảo quản. tránh được vấn đề gây độc và việc hòa tan nó trong sản phẩm.

– Khả năng sống sót của vi sinh vật giảm đi khi phải tiếp xúc với nhiều chất bảo quản.

– Tính diệt khuẩn khi dùng kết hợp có thể lớn hơn tổng các hiệu quả riêng biệt của từng chất bảo quản.

Một số tác dụng hiệp đồng: methyl ester trong pha nước của một nhũ tương và propyl ester trong pha đầu, các paraben với phenoxyethanol, benzalkonium chloride hay chlorhexidine với một số alcol thơm, p-chlorlo-m-cresol và benzalkonium chloride, m cresol và phenyl mercuric acetat, benzalkonium chloride và phenyl mercuric acetat.

5.4.3. Hệ số phân bố

Vấn đề bảo quản các công thức chứa dầu và nước rất phức tạp do phải xét đến khả năng phân bố giữa hai pha. Vì các vi sinh vật chỉ phát triển trong pha nước nên có thể chất bảo quản bị phân bố làm cho nó mất đi nồng độ hiệu quả trong pha này. Lý tưởng là chất bảo quản nên có độ tan trong nước cao và trong dầu thấp, tức là hệ số phân bố dầu – nước thấp.

Hệ số phân bố thay đổi theo pH và tính chất của dầu. Một số dầu có hydrocacbon chiếm ưu thể, trong khi một số dầu khác, ví dụ như dầu thực vật, chứa các nguyên tử oxy. Các phenol được cho hóa tạo liên kết hydro với loại dầu sau làm cho chúng có hệ số phân bố cao, vì thế chất bảo quản này không thích hợp cho hệ có chứa loại dầu này. Tuy nhiên, các phenol được cho hóa là các chất bảo quản thích hợp cho các công thức dựa trên các dầu có hydrocacbon chiếm trội.

5.4.4. Tương tác giữa các cấu tử và chất bảo quản

Khác với sự không tương hợp về mặt hóa học giữa các cấu tử dùng trong sản phẩm và chất bảo quản, các nhân tố vật lý như sự làm tan, sự hấp thụ hay việc liên kết với vị trí hoạt động có thể làm chất bảo quản mất hoạt tính trong các hệ tương hợp về hóa học.

5.4.5. Chất hoạt động bề mặt

Một số chất hoạt động bề mặt cation có tính diệt khuẩn mạnh và khi chúng được sử dụng kết hợp với các chất sát trùng hay bảo vệ khác, khi đó hiệu quả tăng lên. Hiệu quả diệt khuẩn của các cation thay đổi theo chiều dài của mạch kỵ nước, các hợp chất hiệu quả nhất có chiều dài mạch alkyl khoảng 12 ÷ 14 nguyên tử C.

Nhiều chất hoạt động bề mặt không ion, nhất là tween 80, polyethylene glycol 1000, monocetyl ether và polyethylene glycol 400 laurate, được thấy là có tác dụng bảo vệ vi sinh vật. Tween 80 và nhiều polyethylene glycol ester bảo vệ vi sinh vật gram- từ hiệu ứng ức chế các chất bảo vệ.

Xà bông và chất hoạt động bề mặt anion có tính diệt khuẩn yếu ở nồng độ cao và còn có khuynh hướng giúp cho sự phát triển của vi khuẩn gram- và nấm ở nồng độ thấp. 

Các chất này làm giảm hoạt tính của nhiều chất bảo quản và đây là kết quả của sự làm tan các chất bảo quản trong các mixen. Dưới nồng độ mixen tới hạn CMC của một dung dịch xà phòng hay chất tẩy rửa anion, chất bảo vệ và chất sát trùng có hoạt tính mạnh, trong khi ở nồng độ lớn hơn CMC, hoạt tính bị giảm đi.

Các chất hoạt động bề mặt không ion được sử dụng rộng rãi làm chất nhũ tương hóa cho kem và cũng là chất làm tan hương liệu trong các sản phẩm không được nhũ hóa. Chúng làm mất hoạt tính các chất bảo quản mạnh hơn nhiều so với xà phòng và chất HDBM anion hay cation.

5.4.6. Ảnh hưởng của các hạt rắn

Một số lớn các chất rắn không tan khác nhau được sử dụng trong mỹ phẩm, như, cao lanh, oxid titan, acid tartric, oxid kẽm và CaCO, cũng như các chất rắn không tan nhuộm màu kem và các pigment tự nhiên và tổng hợp đều có thể hấp phụ chất bảo quản trên bề mặt.

Sự hấp phụ này phụ thuộc tính chất của chất rắn, loại chất bảo quản và pH của hệ.

5.5. Lựa chọn chất bảo quản

Các bước chọn chất bảo quản trong nguyên liệu làm mỹ phẩm như sau:

– Kiểm tra các cấu tử có thể gây nhiễm (ví dụ như nước, vật liệu sản xuất tự nhiên, bao gói)

– Xem xét các vật liệu cung cấp nguồn năng lượng cho sự phát triển của vi sinh vật (ví dụ như glycerin, sorbitol… ở nồng độ nhỏ hơn 5%, chất HĐBM không ion gần như ở bất kỳ nồng độ sử dụng nào, xà phòng và chất HĐBM anion ở nồng độ dưới 15%, protein, carbohydrate, dẫn xuất cellulose và các nhựa tự nhiên).

– Xác định pH trong pha nước của sản phẩm trước khi sử dụng bất kỳ chất bảo quản nào phụ thuộc mạnh vào dạng không bị phân ly cho hoạt động của nó. Xem xét việc thay đổi pH để làm tăng hoạt động diệt khuẩn.

– Xác định tỷ lệ nước và đầu trong công thức, đánh giá sự phân bố chất bảo quản giữa hai pha, xem xét khả năng thêm vào các cấu tử thay đổi hệ số phân bố hay CMC.

– Đánh giá tỷ lệ tổng cộng chất bảo quản tự do khi có các chất cao phân tử trong công thức, và nhân nồng độ hiệu quả thông thường với một thừa số thích hợp.

5.6. An toàn trong sử dụng chất bảo quản

Vấn đề an toàn luôn được đặt ra hàng đầu trong mọi loại nguyên liệu làm mỹ phẩm. Chất bảo quản thường đắt tiền, do vậy nó thường được sử dụng ở nồng độ thấp nhất có thể, tuy nhiên vẫn phải xem xét khả năng gây ảnh hưởng đối với người sử dụng.

Các ester p-hydroxybenzoate: ở nồng độ 0,3% không gây kích thích ban đầu. Ở nồng độ 5 ÷ 10% (sử dụng trong bột, kem các dung dịch chữa trị chân vận động viên…) các phản ứng gây hại cũng không nhiều. Các hợp chất này tương đối an toàn so với các hợp chất khác về mặt gây nhạy cảm. Tuy nhiên, dung dịch bão hòa có thể gây kích thích đối với mắt.

Acid benzoic: an toàn.

Acid sorbic: ở nồng độ nhỏ hơn 0,5% đã gây ra kích thích ban đầu, đặc trưng bởi ban đỏ và ngứa.

Acid dehydro acetic được sử dụng rộng rãi làm chất bảo quản thực phẩm và mỹ phẩm, ít bị ảnh hưởng bởi sự có mặt các chất nhũ tương hóa không ion.

Các hợp chất ammonium bậc 4: ở nồng độ dưới 0,1% gây ít hay không gây ra sự kích thích, nồng độ cao hơn gây ra ban đỏ và làm khô da.

Formaldehid là chất gây kích thích da do dễ bay hơi và mùi khó chịu nên không được sử dụng rộng rãi làm chất bảo quản.

6. Chất chống oxy hóa

6.1. Khái niệm về chất chống oxy hóa

Trong nguyên liệu làm mỹ phẩm, hiện tượng oxy hóa thường gây ra sự thoái hóa và có thể dẫn đến hỏng hoàn toàn sản phẩm. Hai vấn đề chính liên quan đến các phản ứng oxy hóa là mức độ các chất hữu cơ bị phân hủy do oxy hóa, các yếu tố ảnh hưởng lên tốc độ và quá trình phản ứng như độ ẩm, nồng độ oxy, bức xạ cực tím, sự có mặt của các chất chống oxy hóa và chất xúc tiến quá trình oxy hóa.

Cho đến nay, theo thuyết phản ứng dây chuyền hiện đại, động học cho quá trình tự oxy hóa có thể được mô tả như sau: 

Giai đoạn khởi đầu (khơi mào):

RH → các gốc tự do (R*, RO2*) 

Giai đoạn phát triển mạch:

R* + O2 → RO2*

RO2* + RH → ROOH + R*

Giai đoạn ngắt mạch:

RO2* + RO2*

RO2* + R*

R* + R*

Nguyên tắc chung của một chất chống oxy hóa là ức chế sự tạo thành các gốc tự do hoặc dựa vào hệ các chất phản ứng với các gốc tự do khi chúng được tạo thành.

Các tác nhân chelat hóa kim loại: Hiệu quả thông thường của các tác nhân chelat hóa kim loại là liên kết với các ion kim loại làm tăng quá trình oxy hóa và vì thế sẽ ngăn cản tác dụng xúc tác của chúng đối với phản ứng dây chuyền oxy hóa thông thường. 

Phản ứng này không ngăn ngừa sự oxy hóa thông thường xảy ra, mà chỉ làm chậm sự tạo thành các peroxid. Sự biến hóa đạt được bằng phản ứng của kim loại với các acid hữu cơ như acid tartaric, acid citric, ethylene diamine tetra acetic (EDTA).

Ví dụ: Người ta nghiên cứu ảnh hưởng của hydroquinone lên các sản phẩm không hoạt động.

Ngoài hệ đơn, các chất chống oxy hóa còn được sử dụng hiệp đồng trong hệ chung. Sự hiệp đồng xảy ra khi hai hay nhiều chất chống oxy hóa trong hệ có hiệu quả tổng cộng lớn hơn tổng hiệu quả chất riêng biệt.

Các chất chống oxy hóa thường dùng trong mỹ phẩm:

(1) Hệ chứa nước:

Sodium sulfit
Sodium metabisulfit
Sodium bisulfit
Sodium thiosulfate
Sodium formaldehyde sulphoxylat
Aceton sodium metabisulfit
Acid ascorbic
Acid isoascorbic
Thioglycerol
Thiosorbitol
Thioglycollic acid

(2) Hệ không chứa nước:

Ascorbyl palmitat
Hydroquinon
Propyl gallat
Nordi hydro guaiaretic acid
Butylated hydroxytoluen (BHT)
Butylated hydroxyanisole (BHA)α – tocopherob
Phenyl α – naphthylamide
Lecithin

6.2. Chọn lựa chất chống oxy hóa

Chất chống oxy hóa lý tưởng phải bền và hiệu quả trong khoảng pH rộng, không màu, không mùi, không độc, tương hợp với cấu tử trong sản phẩm và bao gói, phản ứng tạo sản phẩm oxy hóa tan được.

6.2.1. Các chất chống oxy hóa phenol

Nhựa guaiacum kém hiệu quả hơn phần lớn các phenolic. Tác dụng bảo vệ đối với dầu động vật tốt hơn dầu thực vật, không bị ảnh hưởng bởi nước và nhiệt.

Acid nordihydrogualaretic có nhiều tính chất giống như nhựa guaiacum nhưng hiệu quả hơn. Ở nồng độ 0,003% có khả năng chống lại sự trở mùi do oxy hóa, so với propyl gallate là 0,006%. Hoạt tính tăng khi có mặt acid citric với nồng độ 0,75%; dung dịch 0,05% trong chất béo không bị kết tinh.

Tuy nhiên, acid nordihydrogualacetic đã bị loại đi khỏi danh sách các chất cho phép của Mỹ năm 1968.

Các tocophenol có tác dụng chống oxy hóa dầu động vật và các acid béo, đặc biệt khi có mặt chất hiệp đồng như acid citric, leicithin hay acid phosphoric, tuy nhiên ít có tác dụng bảo vệ dầu thực vật và ít được sử dụng rộng rãi do giá cao. 

Các gollat là một trong các chất chống oxy hóa hiệu quả nhất. Methyl, ethyl, propyl, octyl và dodecyl gallat thường được sử dụng trong mỹ phẩm, tuy nhiên acid gallic bị chuyển màu sang xanh khi có vết sắt.

Trong số các ester của acid gallic được nghiên cứu, propyl gallat là chất chống oxy hóa mạnh nhất. Acid citric là chất hiệp đồng rất tốt với các chất chống oxy hóa, nhất là acid nordihydroguaiaretic và propyl gallat. 

6.2.2. Các chất chống oxy hóa không phenol

Acid ascorbic và ascorbyl palmitat hoạt động bằng cách ngăn chặn quá trình oxy hóa gốc tự do. Các ester ascorbyl đặc biệt hiệu quả trong dầu thực vật và tạo hỗn hợp hiệp đồng rất tốt với các phospholipid như lecithin và tocopherol.

Hiệu quả của chất chống oxy hóa có thể được tăng cường bằng cách thêm vào một tác nhân chelat hóa thích hợp. Các acid citric, phosphoric, tartaric và acid ethylene diamine tetra acetic có thể thêm vào hệ để tăng cường khả năng chống sự oxy hóa. Các tác nhân chelat hóa rẻ tiền, ít gây ra biển màu hay mùi hơn so với các hợp chất phenol nồng độ cao.

6.2.3. Độc tính của một số chất chống oxy hóa

Propyl trihydroxy benzoate mạch thẳng ít độc hơn pyrogallol. Propyl gallate 10% trong propylen glycol không gây dị ứng khi cho tiếp xúc với da người trong vòng 24 giờ, nhưng dung dịch pyrogallol 10% trong popylen glycol gây ngứa trong điều kiện tương tự.

Hydroxyanisole được butyl hóa (BHA): BHA có hai đồng phân chính là 2 và 3-tert butylhydroxyanisole, ít khi được sử dụng một mình, do hoạt tính của nó trong phần lớn các hệ kém hơn propyl gallat, nhưng có khả năng tạo hiệp đồng rất tốt với các ester gallat. Công nghiệp thực phẩm và nguyên liệu làm mỹ phẩm thường sử dụng hỗn hợp 20% BHA; 6% propy1 gallat; 4% acid citric và 70% propylene glycol. Đối với các sản phẩm dầu động vật và thực vật, có thể sử dụng hỗn hợp BHA ở mức 0,025% để bảo vệ. V

Hydroxy toluen được butyl hóa (BHT): BHT là 2,6-ditertbutyl-4-methyl phenol hay di-tertbutyl-p-cresol (DBPC), nó được sử dụng rộng rãi làm chất chống oxy hóa cho các acid béo và dầu thực vật. BHT có nhiều ưu điểm so với các chất chống oxy hóa phenol khác ở chỗ không có mùi phenol, bền với nhiệt và độc tính thấp, tuy nhiên BHT không có khả năng hiệp đồng với các ester gallat. Trong nguyên liệu làm mỹ phẩm thường có chứa các hợp chất có nổi đôi dễ bị oxy hóa, do đó nên sử dụng BHT với nồng độ 0,01 ÷ 0,1% và thêm vào tác nhân chelat hóa thích hợp như acid citric hay EDTA. 

7. Chất màu dùng trong mỹ phẩm

7.1. Phân loại màu

– Màu tan trong nước, trong alcol và trong dầu

– Màu không tan vô cơ, hữu cơ

+ Màu không tan vô cơ oxid

+ Màu không tan vô màu đen

+ Màu không tan vô màu xanh biếc

+ Màu không tan vô màu xanh lá

+ Màu không tan vô màu pha tạp

+ Màu không tan vô màu kim loại

7.2. Các loại màu được phép sử dụng

Phẩm màu sử dụng trong nguyên liệu mỹ phẩm được chia ra làm ba loại, dựa theo luật sử dụng màu của Mỹ ban hành năm 1938

F, D và C: màu trong thực phẩm, dược phẩm và nguyên liệu mỹ phẩm.

D và C: màu trong được và mỹ phẩm.

Ext D và C: các loại màu khác dùng trong dược và mỹ phẩm. Một số màu dùng trong nguyên liệu mỹ phẩm (có thể xem chi tiết thêm trong Handbook of Cosmetic Science của H. W. Hibbot, New York).

Vàng: Nº7.

Ngoài các màu theo quy định, có thể sử dụng các màu sau nhưng không được vượt quá 6% tính theo khối lượng.

D&C cam: Nº 4, 5, 17. 

D&C đỏ: Nº 5, 9, 10, 11, 12, 13, 19, 33. 

Những màu sau được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc răng miệng (sản phẩm chăm sóc răng miệng có các quy định tương tự như dược phẩm), khi sử dụng phải chú ý đến giới hạn khuyến cáo cho phép:

D&C cam: N° 4,5.

D&C đỏ: N° 8, 12, 19, 33, 37.

Lưu ý: Đối với những sản phẩm có sử dụng phẩm màu, phải sử dụng nước đã khử ion và tiệt trùng nhằm hạn chế tối đa sự phân hủy màu gây ra bởi vết kim loại và vi sinh vật.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :