Home / Gia Đình / Sự phát triển của trẻ qua 6 giai đoạn từ bào thai đến dậy thì

Sự phát triển của trẻ qua 6 giai đoạn từ bào thai đến dậy thì

/

Có nhiều cách phân chia các thời kỳ phát triển của cơ thể trẻ em, tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Các nhà tâm lý học lấy đặc điểm giao tiếp và hoạt động chủ đạo làm cơ sở.

Dựa vào đặc điểm về hình thái, chức năng sinh lý, các quá trình sinh học trong cơ thể, các nhà nhi khoa đã chia sự phát triển của cơ thể trẻ em thành 6 thời kỳ. Cách phân chia này hiện được sử dụng rộng rãi ở nước ta.

  • Thời kỳ phát triển bào thai trong tử cung.
  • Thời kỳ sơ sinh.
  • Thời kỳ bú mẹ.
  • Thời kỳ răng sữa.
  • Thời kỳ niên thiếu.
  • Thời kỳ dậy thì.

1. Thời kỳ phát triển bào thai trong tử cung

Thời kỳ này bắt đầu từ trứng thụ tinh đến khi trẻ ra đời. Trung bình 270-280 ngày. Sự hình thành và phát triển thai nhi, diễn ra rất nhanh. Sự dinh dưỡng của thai nhi hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ. Hoàn cảnh sinh hoạt vật chất và tinh thần, tình trạng bệnh tật, điều kiện lao động của người mẹ khi có thai đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thai nhi.

Thời kỳ này được chia làm 2 giai đoạn:

1.1. Giai đoạn phát triển phôi – giai đoạn hình thành thai nhi (3 tháng đầu)

Giai đoạn này các bộ phận được hình thành và biệt hóa. Cuối giai đoạn các bộ phận đã được hình thành; thai nhi tăng cân ít (khoảng 25gam, dài 80-113mm). Nếu có những yếu tố độc hại (như hóa chất, virus, một số thuốc) có thể gây rối loạn hoặc cản trở sự hình thành các bộ phận, có thể dẫn đến những dị tật. Thai phụ tăng khoảng 2kg

1.2. Giai đoạn phát triển thai nhi (từ tháng thứ ba đến khi trẻ lọt lòng)

Đến tháng thứ 4 đã hình thành rau thai và qua đó người mẹ trực tiếp nuôi con. Thai nhi lớn nhanh cả về cân nặng và chiều cao (từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6 chủ yếu phát triển chiều cao; từ tháng thứ 7 đến tháng thứ 9 chủ yếu phát triển về cân nặng). Sự tăng cân của thai nhi phụ thuộc vào sự tăng cân của người mẹ và khả năng giãn nở của tử cung. Tính đến cuối thai kỳ người mẹ tăng trung bình từ 8-12kg. Nếu người mẹ không tăng đủ cân trong quá trình thai nghén sẽ làm tăng nguy cơ mẹ bị suy kiệt, cân nặng của trẻ sơ sinh thấp, tỷ lệ tử vong cao. Vì vậy bảo vệ sức khỏe bà mẹ khi có thai là thiết thực bảo vệ sức khỏe trẻ em.

Để đảm bảo cho thai phát triển bình thường, các bà mẹ có thai cần:

– Khám thai định kỳ, ít nhất 3 lần trong suốt thời kỳ thai nghén.

– Thận trọng khi dùng thuốc tránh tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố độc hại.

– Chế độ lao động hợp lý, tinh thần thoải mái.

– Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đảm bảo từ 2400-2500 calo/ngày

2. Thời kỳ sơ sinh (giới hạn trong vòng 1 tháng đầu sau khi sinh)

Đặc điểm chủ yếu là trẻ bắt đầu làm quen và thích nghi dần với môi trường sống ngoài tử cung.

2.1. Một số cơ quan có sự thay đổi

– Hệ hô hấp: Trẻ bắt đầu thở bằng phổi, biểu hiện bằng tiếng khóc chào đời.

– Vòng tuần hoàn chính thức thay thế cho vòng tuần hoàn nhau thai.

– Hệ tiêu hoá bắt đầu làm việc, trẻ bắt đầu nhận chất dinh dưỡng qua đường tiêu hoá

– Hệ thần kinh: Khả năng hưng phấn của các tế bào thần kinh trên vỏ não còn yếu, những kích thích ngoại cảnh thường là quá mức với khả năng nên dẫn đến tình trạng ức chế phản vệ, vì vậy trẻ ngủ nhiều khoảng 20 đến 22 giờ /ngày. Cơ thể nhìn chung còn non yếu.

– Các hệ cơ quan khác cũng có những thay đổi để thích nghi.

2.2. Trẻ có một số hiện tượng sinh lý:

– Sụt cân: Sau khi sinh 2 – 3 ngày có hiện tượng sụt khoảng 6-9% cân nặng, sau 10 ngày cân nặng của trẻ tăng trở lại, đến khi trẻ được một tháng có thể tăng được khoảng 600-1000g nếu được bú sớm và đầy đủ có thể tăng tới 1500g.

– Vàng da sinh lý: Sau khi sinh từ 2 đến 3 ngày một số hồng cầu bị vỡ, giải phóng sắc tố Bilirubin gây hiện tượng vàng da sinh lý ở trẻ. Hiện tượng vàng da sẽ hết dần. Cần phân biệt với vàng da bệnh lý để kịp thời điều trị cho trẻ.

– Bong da.

– Rụng rốn sau khi sinh 7-10 ngày.

2.3. Đặc điểm bệnh lý

– Các bệnh trước sinh: dị tật, đẻ non, rối loạn chuyển hóa.

– Các bệnh do đẻ: ngạt, sang chấn.

– Các bệnh nhiễm khuẩn: hô hấp, rốn, da, nhiễm trùng máu.

Bệnh thường có triệu chứng chậm nhưng tiến triển nhanh.

3. Thời kỳ bú mẹ

Tiếp theo thời kỳ sơ sinh đến khi bé được 12 tháng.

3.1. Đặc điểm sinh lý

– Tốc độ sinh trưởng rất nhanh, trẻ được một tuổi thường có cân nặng trung bình gấp 3 lần, chiều cao gấp 1,5 lần khi sinh, do quá trình đồng hoá mạnh hơn dị hoá (cơ thể tích lũy được nhiều năng lượng), đặc biệt trong 3 tháng đầu tiên. Do đó nhu cầu dinh dưỡng cao (120Kcalo/kgP/ngày).

– Chức năng của các bộ phận, cơ quan phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện:

+ Vận động: Hệ thống cơ xương phát triển tương đối nhanh, phát triển nhanh các vận động cơ bản như lẫy – ngồi – bò – đứng tập đi. Biết cầm đồ chơi bằng cả bàn tay, chuyển được đồ chơi từ tay này sang tay khác, cuối thời kỳ này trẻ có thể sử dụng ngón cái và ngón trỏ để cầm đồ chơi, sự phối hợp động tác tăng dần.

+ Tiêu hoá: 6 tháng trẻ bắt đầu mọc răng, 12 tháng trẻ có khoảng 8 răng sữa. Chức năng tiêu hóa phát triển nhanh, trẻ đã ăn được thức ăn từ lỏng (sữa) chuyển dần sang đặc (bột – cháo loãng). Tuy vậy số lượng men tiêu hóa chưa nhiều, hoạt tính của các men còn thấp nên khả năng tiêu hóa còn kém.

+ Thần kinh: Hoạt động thần kinh cao cấp hình thành. Một số phản xạ có điều kiện đã được hình thành, cuối năm thứ nhất hệ thống ngôn ngữ (hệ thống tín hiệu thứ 2) được hình thành trẻ bắt đầu tập nói. Trẻ nói được các từ có một âm tiết, với số từ khoảng vài chục từ.

3.2. Đặc điểm bệnh lý

– Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: ở thời kỳ này trẻ có nhu cầu dinh dưỡng cao, nhưng khả năng tiêu hóa còn kém, việc lựa chọn thức ăn không phù hợp dẫn đến trẻ dễ bị rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, táo bón, từ đó dễ bị suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu sinh lí do thiếu Fe và axit Folic.

– Miễn dịch: Miễn dịch thụ động giảm nhanh trong 6 tháng cuối năm, miễn dịch chủ động còn yếu. Do đó dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn hoặc các bệnh do virus như: sởi, ho gà, bạch hầu, thuỷ đậu, viêm phổi

– Khả năng điều hoà thân nhiệt kém, trẻ dễ bị nóng quá hoặc lạnh quá.

4. Thời kỳ răng sữa (1 đến 6 tuổi)

Có thể chia thời kỳ này làm hai giai đoạn:

  • Giai đoạn nhà trẻ: 1-3 tuổi.
  • Giai đoạn mẫu giáo: 3-6 tuổi.

4.1. Đặc điểm sinh lý

– Tốc độ sinh trưởng chậm hơn so với thời kì bú mẹ do quá trình đồng hoá giảm dần, quá trình dị hóa tăng dần. Trung bình cân nặng tăng khoảng 1,5-2 kg/năm, chiều cao tăng khoảng 5cm/ năm.

– Chức năng của các bộ phận, các cơ quan phát triển hoàn thiện dần.

+ Chức năng vận động: phát triển rất nhanh, hệ cơ phát triển, trẻ có khả năng phối hợp động tác khéo léo hơn, các động tác phức tạp và đặc thù của cơ thể ngày càng nhiều: 1 tuổi tập đi, 2 tuổi đi vững, 3 tuổi biết chạy, nhảy, cầm thìa xúc cơm, cài khuy, mặc quần áo, 5-6 tuổi biết cầm bút viết, vẽ.

+ Hệ tiêu hoá: 6 tháng bắt đầu mọc răng sữa, 2 tuổi trẻ đủ 20 răng sữa, 6 tuổi thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn. Số lượng men tiêu hóa và hoạt tính của các men tăng lên. Trẻ có thể ăn được nhiều loại thức ăn. Chế độ ăn chuyển từ cháo → cơm nát → cơm thường.

+ Hệ thần kinh: phát triển nhanh. Các phản xạ có điều kiện được hình thành nhiều và phong phú, với tốc độ nhanh và bền vững, trẻ tò mò thích khám phá, đặc biệt là các phản xạ với ngôn ngữ (một tuổi tập nói, ba tuổi trẻ nói sõi, có thể thuộc được một số bài hát bài thơ ngắn), vốn từ của trẻ tăng nhanh từ 3 đến 6 tuổi. Trẻ rất tò mò, thích khám phá tìm hiểu môi trường xung quanh, hay bắt chước. Do đó các hành vi của người lớn đều ảnh hưởng đến tính tình và nhân cách của trẻ khi lớn lên.

4.2. Đặc điểm bệnh lý

– Do tiếp xúc rộng rãi trẻ dễ mắc các bệnh lây như cúm, sởi, thủy đậu, đau mắt đỏ, ho gà, lao. Hiện nay công tác tiêm phòng tốt nên tỉ lệ mắc bệnh cũng giảm rõ rệt.

– Xuất hiện các bệnh có tính chất dị ứng: Hen phế quản, nổi mề đay, viêm cầu thận cấp.

– Trẻ vận động nhiều, sự phối hợp động tác chưa chuẩn nên dễ ngã.

– Trẻ tò mò nên dễ bị một số tai nạn: bỏng, điện giật.

– Dễ ngồi sai tư thế gây cong vẹo cột sống, cận thị.

5. Thời kỳ niên thiếu

Thời kỳ này cũng có thể chia làm hai giai đoạn:

  • Giai đoạn tiểu học: 7-11 tuổi.
  • Giai đoạn tiền dậy thì: 12-15 tuổi.

5.1. Đặc điểm sinh lý

– Về mặt hình thái và chức năng, các bộ phận đã phát triển hoàn toàn.

– Giai đoạn tiền dậy thì, tốc độ tăng trưởng nhanh, bé gái tăng sớm hơn bé trai 1-2 năm.

– Hệ cơ đã phát triển mạnh, răng vĩnh viễn đã thay thế cho răng sữa.

– Vỏ não đã hoàn toàn biệt hóa, chức năng vỏ não phát triển mạnh và phức tạp hơn, trí tuệ phát triển và hình thành rõ rệt tâm sinh lý giới tính.

5.2. Đặc điểm bệnh lý

Trẻ dễ mắc các bệnh như thấp tim, viêm cầu thận và các bệnh xuất hiện trong quá trình học tập như biến dạng cột sống cận hoặc viễn thị, bệnh răng miệng, rối nhiễu tâm lý.

6. Thời kỳ dậy thì

Thời kỳ dậy thì thực ra bắt đầu từ tuổi thiếu niên, khi bắt đầu có những biểu hiện sinh dục thứ yếu (thay đổi tuyến vú và tinh hoàn, mọc lông ở nách, mu). Thời kỳ dậy thì thay đổi theo giới tính, tình trạng dinh dưỡng, môi trường văn hóa xã hội…

6.1. Đặc điểm sinh lý

Sự thay đổi về hệ thần kinh-nội tiết, mà nổi bật là hoạt động của các tuyến sinh dục, gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng trưởng của cơ thể. Sau khi dậy thì hoàn toàn, tốc độ tăng trưởng giảm xuống rất nhanh và ngừng hẳn ở nữ vào tuổi 19-20 và nam ở tuổi 21-25.

6.2. Đặc điểm bệnh lý

– Có sự thay đổi về tâm lý (cảm xúc giới tính, tính khí, nhân cách).

– Dễ bị rối loạn chức năng tim mạch và nhiễu tâm; cũng như phát hiện thấy những dị hình ở bộ phận sinh dục.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :