Home / Gia Đình / 33 loại gia vị tốt cho sức khỏe phòng chữa bệnh vặt hiệu quả

33 loại gia vị tốt cho sức khỏe phòng chữa bệnh vặt hiệu quả

/

Gia vị mà người Việt Nam sử dụng vô cùng đa dạng và phong phú. Ngoài việc tôn lên hương vị của món ăn, một số gia vị còn là những vị thuốc hữu hiệu. Dưới đây là những loại gia vị tốt cho sức khỏe, có tác dụng phòng chống bệnh tật, bảo vệ sức đề kháng cơ thể hiệu quả.

loại gia vị tốt cho sức khỏe

Hành hoa

Hành hoa gia vị tốt cho sức khỏe được ưa thích của nhiều người nội trợ. Thành phần dinh dưỡng không phải là nguyên nhân chủ yếu khiến hành hoa được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực; mà điều đặc biệt hơn đó là khả năng chữa bệnh của hành.

Thành phần chủ yếu trong hành là nước, chiếm khoảng 86,8%. Ngoài ra trong hành chứa một lượng vừa phải các chất protein, chất béo, chất xơ cùng với một lượng đáng kể canxi, phốt pho và kali. Tuy vậy hành chứa rất ít calo (50 calo/100g hành). Thân hành chứa một lượng đáng kể carotene và chất sắt. Theo Đông y, hành làm thông khí, điều hòa kinh mạch và tạng phủ. Ứng dụng chữa bệnh:

hành hoa

Chữa cảm mạo phong hàn: Hành hoa 10g, lá tía tô 10g, hai vị đem thái nhỏ, lòng đỏ trứng hai cái. Nấu cháo hoa sau đó cho hành hoa và tía tô, trứng vào đánh đều lên, ăn khi cháo còn nóng. Bài thuốc này có tác dụng giải cảm, ra mồ hôi.

Chữa mụn nhọt: Hành củ nướng chín giã nát đắp vào mụn nhọt khi còn nóng. 

Chữa tiểu tiện không lợi: hành 20g, mã đề 20g, râu ngô 15g, rễ cỏ tranh 15g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa ngạt mũi, thở không thông: Hành 20g sắc uống.

Chữa viêm tuyến vú: Hành 20 – 30g, giã nát, hấp nóng. Đắp chườm vào chỗ đau.

Chữa chín mé: Củ hành nướng chín, đập dập đắp vào chỗ đau.

Chữa động thai ra máu: Hành củ 20g, giã nát. Ăn với cháo gạo nếp khi còn nóng.

Chữa giun chui ống mật: Hành 80g, giã vắt lấy nước, trộn với 40ml dầu thực vật. Hoặc uống nước hành sau đó uống dầu.

Chữa cảm cúm, nhức đầu: Hành ta từ sáu đến tám củ, gừng sống 10g, xắt mỏng, đổ vào một ly nước sôi, xông miệng mũi mỗi ngày từ hai tới ba lần. Đồng thời nên sắc nước gừng và hành để uống (một ly giữa bữa ăn và một ly trước khi đi ngủ).

Chữa cảm sốt nhức đầu: Hành củ 30g, gừng tươi 20g, chè búp khô 8g, tía tô 6g. Sắc thuốc xong, cho bệnh nhân uống làm hai lần trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.

Chữa bí tiểu, bụng dưới trướng đau: Củ hành, ruột ốc ruộng, lượng bằng nhau, cùng giã nát, đun chín, dán vào huyệt quan nguyên (cách dưới rốn khoảng 3 tấc ta).

Chữa đau thần kinh liên sườn: Củ hành tươi 100g, gừng sống hai củ, củ cải trắng hai miếng. Giã nát, sao nóng bọc vào túi vải hơ nóng đắp vào chỗ đau.

Chữa bệnh tiểu đường. Củ hành tươi 100g, rửa sạch cắt nhỏ chần qua nước sôi, thêm vào ít xì dầu, dầu vùng trộn đều ăn với cơm, ngày hai lần.

Chữa sâu bọ độc cắn bị thương. Hành củ to, mật ong vừa đủ, cùng giã nát dạng hồ đắp vào chỗ đau.

Chữa viêm khớp: Củ hành to 60g, gừng già 15g. Cùng giã nát, cho rượu trắng vừa đủ, đánh đều đắp vào chỗ đau.

Chữa tay chân tê dại: Củ hành to 62g, gừng 16g, ớt 3g, đun nước uống. Ngày uống hai lần.

Lưu ý: Khi sử dụng hành hoa hoặc bất kỳ gia vị nào cho mục đích điều trị, bạn nên tham khảo trước ý kiến thầy thuốc.

Ngò rí

Ngò rí (rau mùi hay ngò ta) có tên khoa học là Coriandrum sativum, thuộc họ Hoa tán. Cây thuộc dạng thảo nhỏ mọc hằng năm, cao 20 đến 60 cm hay hơn, nhẵn, thân mảnh, lá bóng màu lục tươi; các lá ở dưới chia thành phiến hình trái xoan, có răng; các lá ở trên chia thành tua rất nhiều. Cụm hoa tán kép. Hoa màu trắng, ít khi màu hồng. Trải hình cầu màu vàng sậm.

Ngò rí

Ở Việt Nam, ngò rí tươi được dùng để làm gia vị tốt cho sức khỏe nêm các món súp, điều chế các loại nước xốt, trang trí trên các món ăn cho đẹp vì màu xanh tươi và mùi thơm của lá. Tinh dầu của ngò dùng làm hương liệu trong ngành dược. Theo y học cổ truyền, ngò có vị cay, tính ấm, dược tính như sau:

Bổ tỳ vị: Lá ngò có tác dụng kích thích tiêu hóa và làm thuốc bổ, chống đầy hơi, làm mạnh dạ dày, làm gia tăng sự bài tiết nước tiểu và làm hạ sốt.

Tác dụng cường dương. Tinh dầu trong ngò (lá và hạt) có tác dụng gây hưng phấn tình dục, được dùng chữa trong các trường hợp suy yếu sinh lý.

Long đờm: Ngò giúp tống các chất đờm nhầy ứ đọng trong đường hô hấp gây khó thở và gây rối loạn đường hô hấp.

Chữa cảm cúm: Hạt ngò giúp hạ sốt và chữa cảm lạnh, nhức đầu, sổ mũi, ngạt mũi. Uống dịch ép từ ngò còn giúp bổ sung cho cơ thể một lượng lớn các vitamin A, C, B1, B2 và chất sắt.

Chữa rối loạn tiêu hóa: Một tới hai muỗng dịch nước ép từ ngò là thức uống vô cùng hiệu quả để chữa chứng rối loạn tiêu hóa như ăn không tiêu, nôn mửa, kiết lỵ, viêm gan và viêm ruột kết. Nó cũng rất hiệu quả để điều trị bệnh thương hàn.

Ngò khô còn chữa tiêu chảy và lỵ cấp tính. Bài thuốc gồm ngò khô phối hợp với ớt xanh, xác dừa, gừng và nho đen không hạt sẽ giúp chữa đau bụng do rối loạn tiêu hóa.

Ngừa bệnh đậu mùa: Một muỗng dịch lá tươi rau ngò, nghiền trộn chung với một hoặc hai hạt chuối, uống một lần trong ngày, dùng liên tục trong một tuần sẽ ngừa được bệnh đậu mùa. Dân gian còn nhỏ dịch ép lá rau ngò vào mắt trong giai đoạn bị bệnh để giúp ngừa các mụn thủy đậu lây lan gây tổn thương mắt.

Hạ cholesterol trong máu: Thường xuyên uống nước ngò sẽ giúp làm hạ cholesterol trong máu. Nấu một nhúm hạt ngò khô trong nước sôi, lọc, để nguội và uống nhiều lần trong ngày còn giúp lợi tiểu vì kích thích sự bài tiết của thận.

Chữa rong kinh: 6g hạt ngò khô đun với nửa lít nước, sắc cho cạn còn phân nửa, có thể cho thêm tí đường cho dễ uống, uống lúc còn nóng. Chỉ sau ba đến bốn ngày uống thuốc này người bệnh sẽ thấy dễ chịu ngay.

Chữa mụn bọc và mụn trứng cá: một muỗng nước ép ngò trộn chung một nhúm bột nghệ, rửa mặt thật sạch rồi bôi hỗn hợp này lên mặt mỗi tối trước khi đi ngủ. Bài thuốc này còn giúp tươi nhuận da nên dùng tốt cho những người có da khô.

Tinh dầu có nhiều trong lá và hạt ngò nên có tính gây kích ứng da. Vì vậy những người tiếp xúc thường xuyên với lá và hạt ngờ cần chú ý mang găng tay khi tiếp xúc. Hạn chế dùng ngò rí cho các bệnh nhân bị hen phế quản hoặc viêm phổi mãn tính.

Để chữa sởi ở con trẻ, bạn lấy một nắm ngò sắc cho trẻ uống lúc còn nóng, đắp mền cho ra mồ hôi. Dùng ngoài có thể lấy một nắm hạt ngò khô giã dập, đem chung nóng với một ít rượu trắng, gói vào vải thưa, xát toàn thân trẻ, từ đầu tới tay chân, sởi sẽ mọc đều.

Còn một cách khác, bạn tán nhỏ 80g hạt ngò, đun sôi với 100ml rượu trắng và 100ml nước sạch. Khi đun nhớ đậy cho kín, tránh để bay hơi mất hết tinh dầu. Lọc bỏ bã, phun khắp người (trừ mặt cho trẻ. Sởi sẽ ra, trẻ sẽ hết sốt, hết quấy.

Một cách đơn giản hơn, dùng 160g hạt ngò tươi, cho vào nước đun sôi một dạo, bắc ra để ấm, lấy vải mềm bọc lại và xát vào cơ thể trẻ.

Để chữa đau bụng, đầy bụng không tiêu, buồn nôn sau ăn, bạn lấy một nắm rau ngò với 8 – 10 vỏ quýt, sắc uống. Nếu kèm theo có đau dạ dày, bạn dùng 8g trái ngò, 4g đinh hương, 4g vỏ quýt, 4g hoàng liên, sắc uống.

Thiếu sữa cho con bú: Mỗi ngày bạn lấy 6g hạt ngò với 100ml nước sạch, đun sôi 15 phút, chia làm hai lần uống trong ngày.

Để chữa bệnh gan thận hư hàn, di tinh, tảo tinh (xuất tinh sớm), rối loạn kinh nguyệt, tiểu không thông: lấy hạt ngò đập dập, sao vàng, hãm thay trà uống hàng ngày. Người bệnh tiểu đường type 2, uống trà hạt ngò cũng rất tốt, đường huyết giảm nhẹ nhàng. Người bị nhức đầu, ho sốt, cảm hàn cũng nên sử dụng trà này sẽ thấy đỡ nhức đầu, bớt ho, giảm sốt.

Chữa bệnh giun kim: Bột hạt ngò (hạt ngò khô sao vàng, tán nhỏ) trộn với trứng gà luộc, cho thêm ít dầu mè (vừng), giã nhuyễn, nặn thành dạng thỏi. Nhét thỏi thuốc vào hậu môn trước khi đi ngủ, để suốt đêm. Đặt thuốc liền ba đêm, trị bệnh giun kim rất hiệu quả.

Giảm vết nám đen trên da mặt: Rửa mặt bằng nước sắc hạt ngò tươi thường xuyên sẽ giúp bạn xóa dần những vết nám.

Mùi tàu/ngò gai

Đối với người Việt, ăn phở, ăn canh chua mà thiếu ngò gai thì đúng là thiếu đi một hương vị hấp dẫn. Thế nhưng, ngò gai còn là món ăn – bài thuốc quen thuộc với cuộc sống của dân gian. Ngò gai, tên khoa học là Eryngium foetidum, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Còn gọi là ngò gai, ngò tàu hoặc mùi gai, thích nguyên tuy, dương nguyên tuy và sơn nguyên tuy. Sau đây là một số công dụng chữa bệnh của ngò gai:

mùi tàu

Trị hôi miệng: lấy một nắm rau ngò gai, rửa sạch, sắc đặc, cho thêm vài hạt muối, khuấy tan, dùng để ngậm và súc miệng nhiều lần trong ngày. Sau khoảng năm, sáu ngày, miệng sẽ bớt mùi hôi.

Trị đầy hơi, ăn không tiêu dùng 50g lá ngò gai, rửa sạch, thái dài khoảng 3 – 4cm. Gừng tươi: 10g đập dập. Tất cả sắc với 400ml nước, còn 200ml, chia làm hai lần uống trong ngày, mỗi lần dùng cách nhau ba tiếng.

Trị đầy hơi: lấy 10 – 16g ngò gai rửa sạch, vò nát, hãm như hãm chè tươi, chia uống nhiều lần trong ngày.

Trị cảm mạo: ngò gai phơi khô 10g, cam thảo đất 6g. Sắc với 300ml nước, đun sôi trong khoảng 15 phút, chia làm ba lần uống trong ngày.

Trị cảm cúm: hạt ngò gai giúp hạ sốt và chữa cảm lạnh, nhức đầu, sổ mũi, ngạt mũi. Uống dịch ép từ ngò gai còn giúp bổ sung cho cơ thể một lượng lớn các vitamin như A, C, B1, B2 và chất sắt.

Bài thuốc trị cảm cúm: dùng 40g ngò gai, gừng tươi 10g, ngải cứu và cúc tần, mỗi thứ 20g. Tất cả thái nhỏ, riêng gừng đập dập, sắc với 400ml nước còn 150ml thì đổ ra, uống nóng, mỗi ngày hai lần. Sau khi uống, đắp mền để cho ra mồ hôi, rồi lau khô người sẽ thấy dễ chịu hơn.

Trị cảm mạo, đau ngực, ho và trẻ em lên sởi: dùng 10 – 15g lá ngò gai, sắc trong nước ấm và uống.

Trị ban sởi mà sởi không mọc ra được: ngò gai 9g, bạc hà 3g, xác ve sầu (thuyền thoại) 3g. Sắc nước uống.

Trị sổ mũi, sốt nhẹ do nhiễm lạnh: lấy 20g ngò gai rửa sạch, thái khúc, 30g thịt bò băm nhỏ, vài lát gừng tươi. Đem nấu chín với 400ml nước. Món này ăn nóng. Khi ăn cho thêm ít hạt tiêu. Sau khi ăn xong, đắp mền kín cho ra mồ hôi sẽ khỏi.

Trị chướng khí, thở mệt: lấy ngò gai tươi rửa sạch, phơi khô nơi thoáng mát. Mỗi lần sắc 30 – 40g với hai chén nước còn 2/3 chén thì chia uống làm hai lần.

Long đờm: ngò gai giúp tống các chất đờm nhầy ứ đọng trong đường hô hấp gây khó thở và gây rối loạn đường hô hấp.

Trị ngực bụng đầy trướng, ngò gai 30g, sao khô, tán bột. Mỗi lần uống 4g với nước sắc trần bì.

Trị đau bụng, tiêu chảy: 20g lá ngò gai, củ sả, lá tía tô, gừng sống mỗi thứ 12g, sắc với nước, uống trong ngày.

Kích thích tiêu hóa: lá ngò gai có tác dụng kích thích tiêu hóa, chống đầy hơi, làm mạnh dạ dày.

Trị ăn uống kém, không muốn ăn, rối loạn tiêu hóa: ngò gai 6g, trần bì 8g, kê nội kim 4g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống.

Trị rối loạn tiêu hóa: một đến hai muỗng dịch nước ép từ ngò gai là thức uống vô cùng hiệu quả để chữa chứng rối loạn tiêu hóa như ăn không tiêu, nôn mửa, kiết lỵ, viêm gan và viêm ruột kết.

Trị ăn không tiêu, ăn mất ngon: uống 15g nước sắc lá ngò gai, hoặc ăn lá tươi trộn với dầu mè. Có thể dùng với cam thảo nam để giúp dễ tiêu.

Hạ cholesterol trong máu: thường xuyên uống nước ngò gai sẽ giúp làm hạ cholesterol trong máu. Đun một nhúm hạt ngò gai khô trong nước sôi, lọc, để nguội và uống nhiều lần trong ngày còn giúp lợi tiểu vì kích thích sự bài tiết của thận.

Trị sưng đau té ngã: 15g lá ngò gai, giã nát, ép lấy nước cốt, trộn với rượu trắng và uống. Đắp phần bã trên vết thương.

Trị đái dầm ở trẻ nhỏ: lấy ngò gai, rau ngổ, cỏ mần trầu, mỗi thứ 20g, cùng với 10g cỏ sữa lá nhỏ, thái nhỏ, phơi khô. Cho tất cả vào nồi đổ 500ml nước sắc còn 150ml, uống sau bữa ăn tối. Dùng khoảng năm đến mười ngày. Có thể nhắc lại liệu trình mới.

Trị trẻ nhỏ nổi mẩn đỏ ngứa ở vùng mặt: ngò gai tươi, liều dùng nhiều ít tùy vùng bệnh. Giã nát, ép lấy nước cốt bối.

Trị các chứng viêm bàng quang, sỏi thận và viêm đường tiểu: rễ ngò gai phơi khô, tán thành bột, mỗi lần dùng một muỗng cà phê (4g) bột rễ, hãm trong 30 – 40ml nước sôi, uống mỗi ngày hai đến ba lần.

Trị rong kinh: 6g hạt ngò gai khô đun với 1/2 lít nước, sắc cho cạn còn phân nửa, có thể cho thêm tí đường cho dễ uống, uống lúc còn nóng. Chỉ sau ba đến bốn ngày uống thuốc này người bệnh sẽ thấy dễ chịu ngay.

Trị trĩ, thoát giang: hạt ngò gai, nghiền nát, thêm giấm chua, đun cho nóng lên, để còn âm ấm, dùng để rửa và ngâm búi trĩ. Mỗi lần ngâm 10 – 20 phút.

Chống sưng viêm cấp tính và kinh niên: nghiên cứu trên chuột tại Khoa Dược Đại học Universidad de Sevilla (Tây Ban Nha) ghi nhận khả năng chống sưng của phần trích bằng hexane từ lá ngò gai (tai chuột bị gây sưng phù bằng 12-0-tetradecanoylphorbol acetate (TPA)). Tác dụng chống sưng mạnh hơn stigmasterol và tương đối hiệu nghiệm trên các chứng sưng đỏ tại chỗ.

Trị viêm kết mạc: ngò gai tươi, phơi trong mát cho khô, đem sắc lấy nước và rửa mắt trong trường hợp bị viêm kết mạc. Bài thuốc này giúp làm mất cảm giác rát nóng, làm giảm đau và giảm sưng mắt.

Trị mụn bọc và mụn trứng cá: một muỗng nước ép ngò gai trận chung một nhúm bột nghệ, rửa mặt thật sạch rồi bôi hỗn hợp này lên mặt mỗi tối trước khi đi ngủ. Bài thuốc này còn giúp tươi nhuận da nên dùng tốt cho những người có da khô.

Theo kinh nghiệm của người xưa để lại, phụ nữ đang mang thai tránh ăn ngò gai.

Người có bệnh bao tử thì nên xay hoặc nấu nước uống tốt hơn là ăn lá tươi, nhất là lá già.

Tía tô

Lá tía tô có vị cay, mùi thơm, tính ấm. Là loại cây dễ trồng, có rất nhiều ở vùng nông thôn. Lá dùng để ăn sống hoặc nấu chín làm gia vị tốt cho sức khỏe trong một số món ăn ngon, đồng thời cũng là một vị thuốc quý hiếm chữa trị được nhiều bệnh. Có hai loại tía tô: Tía tô mép lá phẳng: màu tía nhạt, ít thơm và tía tô mép lá quăn: màu tía sẫm, mùi thơm mạnh. Tía tô mép lá quản có giá trị sử dụng cao hơn.

tía tô

Với giá trị dinh dưỡng khá cao, giàu vitamin A, C, giàu hàm lượng Ca, Fe, và P, từ thân lá, cành đến hạt của tía tô đều có thể sử dụng làm thuốc. Lá tía tô dùng làm gia vị tốt cho sức khỏe rất phổ biến đồng thời là vị thuốc rất hay dùng để trừ cảm mạo. Hạt làm trà uống và thuốc hạ khí, cành làm thuốc an thai.

Khi dùng để chữa bệnh ta có thể dùng tươi hay khô (phơi khô trong chỗ mát).

Công dụng làm đẹp của tía tô: Người Nhật rất chuộng trà tía tô. Dùng nước trà tía tô để tắm rửa bảo vệ da, dưỡng da tươi nhuận, trừ vết nhăn, vết nám, khô ngứa da, vì tía tô làm ẩm da, dịu da, tăng cường trao đổi chất. Khi da bị mẩn ngứa ta có thể vò lá tía tô vào chậu nước tắm và dùng bã chà xát trực tiếp vào da. Tắm liên tiếp vài ngày ắt sẽ hết ngứa. Dùng để gội đầu làm tóc bóng mượt, tóc không rụng và không bị chẻ, sạch gầu. Súc miệng bằng trà tía tô sẽ tẩy sạch miệng, làm thơm miệng.

Công dụng chữa bệnh:

Chữa cảm, ho hen, cảm sốt bí mồ hôi, ho tức ngực: Lá tía tô tươi 15g, ba củ hành tươi cả rễ sắc nhỏ cho vào cháo nóng, ăn xong đắp mền cho ra mồ hôi. Lấy 20g lá tía tô tươi giã nát, cho nước sôi vào lọc lấy nước uống.

Cảm lạnh: Một nắm lá tía tô nấu với nước uống hoặc dùng lượng lớn lá tía tô nấu với nước để xông, khi xông để chân vào thau nước.

Cảm sốt, nhức đầu, nghẹt mũi: Hạt tía tô 12g, vỏ quýt 8g, ba củ gấu tẩm gừng sao khô, cam thảo nam 10g, gừng tươi ba lát sắc với nước uống nóng, uống một lần/ngày. Uống xong đắp mền cho ra mồ hôi.

Giải cảm: Xông, kết hợp ăn cháo tía tô

Xông: Lấy lá tía tô cùng các lá thơm như kinh giới, hương nhu, lá sả, lá tre,… rửa sạch. Đun nước sôi thì cho lá vào nồi – đậy kín và khi xông mở vung. Ta lấy ra một chén để uống trước hay sau khi xông. Dùng nước vừa để xông và rửa. Xông xong lau khô mồ hôi cả người, đắp mền nằm nghỉ. Cần chú ý kẻo phỏng và chỉ xông cho người lớn ngồi trong mền. Thận trọng với người già yếu và trẻ em.

Cháo: Lấy một nắm lá tía tô tươi, hai củ hành và ba lát gừng, thái nhỏ cho vào chén, đập một cái trứng gà rồi múc cháo hoa, trộn đều ăn nóng. Món này có thể giúp trừ được bệnh cảm.

Xông xong nghỉ một lúc, dậy ăn chén cháo giải cảm này là phương pháp giải cảm lạnh dân gian rất có hiệu nghiệm.

Thương hàn, ho hen: Một nắm lá tía tô sắc nước uống dần là dứt cơn hen suyễn.

Người lớn hay có cơn hen: Hạt tía tô một lạng, sao qua tán bột, đổ hai chén nước vào quấy đều, lọc bỏ bã. Nấu cháo ăn lúc đói.

Trẻ em ho nhiều thở gấp, mặt tím tái: Hạt tía tô 20g tán thành bột, hòa với nước đun sôi để còn âm ấm, lọc bỏ bã cho uống. Cẩn thận hơn thì cho bột vào túi vải hãm vào nước sôi, Hoặc lấy bột này hòa vào cháo, hãm vào nước sôi hoặc hòa vào nước cơm cho trẻ uống.

Ho do phế hư hoặc đàm trắng đục dính, nặng ngực: Hạt tía tô 90g sao thơm, tán bột, ngâm với một lít rượu gạo ngon trong 10 ngày, chắt lấy nước trong bỏ bã. Uống mỗi lần 15-30ml. Ngày uống ba lần sáng, trưa, tối (nếu đờm vàng, cổ khô, miệng khát, môi đỏ thì không dùng). Hoặc hạt tía tô, hạt củ cải, hạt cải bẹ số lượng bằng nhau nấu với nước, thêm vài lát gừng, uống lúc nguội

Có thai sắp sinh bị phù: Cành, lá tía tô 80g, vỏ gừng tươi 30g, cho ba chén nước đun sôi kỹ (đậy vung kín) lấy nước uống và công. Công thức này cũng có tác dụng an thai.

Có thai cảm sốt: Lá tía tô, kinh giới mỗi thứ một nắm sắc lấy nước uống, tiếp đó ăn cháo trứng gà nóng. Trứng gà đen tốt nhất.

Vú sưng: Lá tía tô một nắm nấu nước nóng, đồng thời lấy một nắm lá tía tô giã nhuyễn đắp lên vú sung.

Nôn mửa dữ dội khi có thai, động thai: Cành tía tô 12g, sắn dây 12g. Sắc chung lấy nước uống.

Thiếu máu: Uống nước lá tía tô (30 lá xay nhuyễn). Để cho dễ uống, xay kèm vài trái táo, ít đường phèn. Nước này cũng có tác dụng an thai tuy có kém hơn cành tía tô.

Mụn cóc: Những hạt mụn cóc mọc khắp người bạn, kể cả chân, tay, mặt mũi. Để loại trừ nó thật đơn giản:

Dùng lá tía tô rửa sạch cộng vài hạt muối, nghiền nhuyễn xoa trực tiếp vào mụn. Làm liên tục trong vòng một tuần bạn sẽ thấy tác dụng ngay, làm liên tục cho đến khi khỏi hết mụn.

Bị lở loét: dùng lá tía tô già ngâm nước, giã nát đắp lên chỗ lở.

Trúng độc hay dị ứng thuỷ sản: Lá tía tô tươi sắc nước uống nóng hoặc dùng lá tươi, giã nát vắt lấy nước uống, bã đắp chỗ bị dị ứng.

Để tránh rối loạn tiêu hóa, nên ăn kèm tía tô tươi trong bữa ăn có các loại thủy hải sản tanh lạnh. Đặc biệt bạn nên lưu ý không ăn lá tía tô với cá chép vì có thể sinh nhọt.

Bụng trướng: Lá tía tô rửa sạch giã nhuyễn vắt lấy nước cốt hoà với chút muối rồi uống một lần.

Chảy máu ngoài da: Dùng lá tía tô non, nhai nhuyễn đắp kín vết thương sau đó dùng lá tía tô khô hay tươi sao vàng, tán nhuyễn rắc lên vết thương.

Chữa táo bón ở người già suy nhược: Hạt tía tô, hạt me lượng bằng nhau, giã nhuyễn cho nước lắng, lấy nước nấu chín để uống. Hoặc hạt tía tô, hạt vừng đều 10g, giã nhuyễn, cho nước để gạn lấy nước nấu cháo, dùng cả khi táo bón do ung thư ruột.

Kinh giới

Kinh giới là rau gia vị tốt cho sức khỏe rất quen thuộc đối với mọi người. Tuy nhiên, nó cũng là cây thuốc quý, có thể lấy cả cây làm thuốc, trừ rễ. Khi cây kinh giới bắt đầu nở hoa, nhổ cả cây, cắt bỏ rễ, đem phơi hoặc sấy khô.

Rau kinh giới

Toàn kinh giới: Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.

Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sảy, mẩn ngứa, mụn nhọt.

Một số bài thuốc khác:

Chữa cảm cúm, sốt, đau nhức: lấy toàn kinh giới 5g phối hợp với lá tía tô 3g, cam thảo đất 3g, sài hồ nam hoặc cúc tần 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng ba lát. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày; kết hợp lấy lá kinh giới tươi 50g, giã nát với gừng sống 10g, gói vào vải sạch, đánh dọc sống lưng. Hoặc toàn kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, tía tô, cát căn, mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền, mỗi vị 5g; phơi khô, tán bột, rây mịn. Ngày uống hai đến ba lần, mỗi lần 4 – 6g.

Chữa cảm hàn ở trẻ em: toàn kinh giới, tía tô, hoặc hương, ngải cứu, mã đề, gừng, mỗi thứ 3 – 4g, sắc nước uống trong ngày.

Chữa ban chẩn: toàn kinh giới, lá dâu, mỗi vị 6g; lá bạc hà, kim ngân, sài đất, mỗi vị 4g; sắc uống ngày một thang.

Chữa chóng mặt, hoa mắt, nghẹt mũi, mắt đỏ: toàn kinh giới, cúc hoa, xuyên khung, cam thảo, bạch chỉ, phòng phong, khương hoạt, hướng phụ, tế tân, bạch cương tàm. Các vị lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây thành bột mịn. Ngày uống hai đến ba lần, mỗi lần 4 – 6g với nước ấm, sau bữa ăn.

Chữa sưng vú, mụn nhọt: toàn kinh giới, thương nhĩ tử, vòi voi, liên kiều, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, cỏ mần trầu, hạ khô thảo, mỗi thứ 10g; bồ công anh 8g. Tất cả sắc uống làm hai lần trong ngày.

Chữa ho, mất tiếng: toàn kinh giới, tang diệp, tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi thứ 12g; tử tô, bán hạ chế, mỗi thứ 8g; trần bì 4g. Sắc uống ngày một thang.

Kinh giới tuệ: Kinh giới tuệ là tên thuốc trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, là những cụm hoa kinh giới (hoa đã nở, bông còn xanh) kèm theo một đến hai lá ngọn.

Dược liệu có dạng bông lệch (các hoa đều mọc hướng về một bên) dài 6 – 10cm, đường kính 0,5-0,6cm, tràng hoa phần lớn đã rụng, chỉ còn đài hoa màu lục hoặc tím nhạt, trong chứa hạt màu nâu đen. Chất nhẹ, giòn, dễ gãy, vị hơi chát, cay và mát, mùi thơm. Thứ màu tím nhạt, cuống nhỏ, bông to nhiều hoa là loại tốt.

Tùy theo cách chế biến mà tính vị, tác dụng của kinh giới tuệ thể hiện cụ thể như sau:

Kinh giới tuệ để sống: Có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, giải độc, tiêu viêm.

Chữa cảm lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi: kinh giới tuệ sống và rễ bạch chỉ với lượng bằng nhau phơi khô, tán bột; ngày uống hai lần, mỗi lần 4 – 8g với nước chè nóng cho ra mồ hôi.

Chữa cảm, sốt, cúm: kinh giới tuệ sống, tía tô, hương nhu, ngải cứu, hoắc hương, lượng mỗi vị 20g, sắc với nước nhiều lần, rồi cô thành cao đặc, luyện với bột nếp làm viên bằng hạt bắp. Ngày uống hai lần, người lớn mỗi lần từ bảy đến tám viên với nước sắc lá tre; trẻ em tùy tuổi, hai đến bốn viên. Thuốc còn chữa kiết lỵ (chiều thuốc với nước sắc lá mơ lông).

Chữa mụn nhọt: kinh giới tuệ sống 12g; mã đề, bồ công anh, kim ngân, thổ phục linh, ké đầu ngựa, cam thảo nam, mỗi thứ 10g; thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

Chữa viêm họng, khản tiếng: Kinh giới tuệ sống 12g, nhân hạt gai dầu 12g, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật làm viên, ngâm làm nhiều lần trong ngày.

Chữa trĩ: kinh giới tu sống, hoàng bá, ngũ bội tử, mỗi vị 12g; phèn phi 4g; sắc lấy 300 – 400ml nước, dùng ngâm hậu môn hằng ngày.

Phòng chống bệnh sởi: kinh giới tuệ sống, vỏ quả bưởi, thanh hoa, mỗi vị 20g, đặt lên than đang đỏ hồng, dùng khói xông khắp người trong 15 phút.

Kinh giới tuệ sao vàng: Dùng riêng, tán bột mịn, uống ngày hai lần, mỗi lần 6 – 8g chữa cảm, cúm, sốt, nhức đầu, viêm họng. Hoặc phối hợp với tía tô, lượng mỗi thứ 20g, sắc nước uống, rồi nằm nghỉ, đắp kín cho ra mồ hôi.

Kinh giới tuệ sao đen (dược liệu sống đem rang nhỏ lửa đến khi có màu đen xém, không để cháy thành than): Có tác dụng cầm máu. Dùng riêng, mỗi ngày 12g, dưới dạng nước sắc hoặc thuốc bột. Dùng phối hợp, chữa băng huyết, rong huyết: kinh giới tuệ sao đen, gương sen (sao cháy), ngải cứu (sao đen), cỏ nhọ nồi (sao qua), bách thảo sương, mỗi thứ 12g; rau má 20g, sắc uống ngày một thang.

Chữa tiêu chảy ra máu: kinh giới tuệ sao đen và lá trắc bá sao sém, với lượng mỗi thứ 15 – 20g, sắc uống trong ngày. Dùng từ ba đến năm ngày.

Chữa kinh nguyệt ra nhiều không dứt: kinh giới tuệ sao đen 12g, bồ hóng 8g, sao cho hết khói; trộn đều, uống với nước chè làm một lần trong ngày.

Rau húng quế

Cây rau húng là một loại thảo dược dùng được trong cả ẩm thực Ý và châu Á. Nó cũng là một thành viên của gia đình bạc hà. Rau húng có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới và có mấy giống khác nhau là húng chanh, húng quế… Ngoài hương vị hấp dẫn, húng quế còn có tính chất tăng cường sức khỏe đáng kể.

Rau húng quế

Húng quế thường “khỏe” hơn và có thể được trồng như cây lâu năm ở vùng khí hậu ấm hơn. Ngoài hương vị hấp dẫn, húng quế còn có tính chất tăng cường sức khỏe đáng kể. Có thể kể đến một số công dụng của rau húng quế như sau:

Chống ung thư: Theo một nghiên cứu được công bố trong năm 2010 trên Tạp chí Sản khoa và Phụ Khoa của Đài Loan thì húng quế có thể giúp giảm cholesterol, chống ung thư và tăng cường hệ thống miễn dịch. Một thành phần hóa học của húng quế, được gọi là axit caffeic, đã được thử nghiệm trong nghiên cứu này, tại Trường Đại học Y Chung Shan, Đài Trung, Đài Loan, và được kết luận là có hiệu quả chống lại ung thư cổ tử cung.

Tốt cho gan: Một số hợp chất trong húng quế ngọt có thể có thể có tác dụng bảo vệ gan, theo một nghiên cứu tiến hành tại Đại học Mansoura, Ai Cập. Trong một nghiên cứu khác, các nhà khoa học lấy sáu hợp chất trong rau húng quế được trích xuất và thử nghiệm khả năng bảo vệ chống lại căng thẳng oxy hóa gan. Kết quả là, tất cả các hợp chất này đều có tác dụng bảo vệ gan.

Ổn định lượng đường trong máu: Một nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học Nông nghiệp và Công nghệ, Kanpur, Ấn Độ cho thấy các chất được chiết xuất từ lá húng quế ngọt sẽ làm giảm lượng đường trong máu. Trong nghiên cứu, được công bố trong năm 1996 trên một tạp chí Y dược, người ta thấy những người tham gia tiêu thụ lá húng quế sẽ giảm 17% tình trạng giảm đường huyết lúc đói và giảm 7% lượng đường trong máu ngay lập tức sau bữa ăn. Tương tự, nồng độ đường trong nước tiểu cũng được cải thiện đáng kể. Các tác giả kết luận rằng húng quế có thể có một vị trí quan trọng trong điều trị bệnh tiểu đường từ nhẹ đến vừa.

Kháng khuẩn: Đặc tính chống vi khuẩn của rau húng nói chung là hữu ích trong việc ngăn ngừa các bệnh truyền qua thực phẩm theo một nghiên cứu tiến hành tại Trung tâm Năng lượng nguyên tử, Ramna, Dhaka, Bangladesh. Trong một nghiên cứu về sinh dược phẩm, được công bố trong năm 2010, hơn 50 hợp chất được phân lập từ lá và thân cây húng quế ngọt được thử nghiệm trên nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, bao gồm Staphylococcus aureus, Escherichia coli, S. dysenteriae và Salmonella typhi. Sau quá trình quan sát, các nhà nghiên cứu kết luận rằng húng quế có thể chống lại các vi khuẩn gây bệnh nói trên, do đó, nó có thể được sử dụng như một tác nhân chống vi khuẩn trong các ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.

Các công dụng khác: Ngoài các công dụng trên, các loại rau húng nói chung còn có tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ tế bào cơ tim, chống lại các thiệt hại do oxy hóa. Tinh dầu trong rau húng đã được thử nghiệm có thể hòa tan trong nước và có lợi cho các hoạt động sinh học bên trong cơ thể.

Thì là

Ở Việt Nam, nhất là ở các vùng phía Bắc, thì là được xem là gia vị tốt cho sức khỏe không thể thiếu khi nấu các món canh cá, nhất là các loài cá da trơn và có mùi tanh đậm. Ngoài ra, nó còn là một cây thuốc quý.

rau thì là

Một số lợi ích của thì là có thể kể như sau: Thì là giúp kích thích sản xuất tăng tiết sữa cho những phụ nữ đang cho con bú và làm giảm trọng lượng cơ thể. Tuy nhiên việc tiêu thụ thì là với số lượng quá nhiều lại có thể dẫn đến co giật cơ bắp, thậm chí ảo giác.

Loại thảo dược này có chứa nhiều khoáng chất Fennel và các vitamin: vitamin C, chất xơ, mangan, kali, magie, canxi, sắt, vitamin B3… giúp kháng khuẩn và rất hữu ích cho hệ thống miễn dịch. Hơn nữa do có chứa nhiều chất xơ nên thì là giúp giảm mức độ cholesterol trong cơ thể. Ngoài ra, các chất xơ có trong thì là còn ngăn ngừa ung thư đường ruột do nó có tác dụng loại bỏ độc tố và chất gây ung thư từ ruột.

Kali có trong thì là còn là một khoáng chất cần thiết giúp làm giảm huyết áp cao cho những người bị bệnh tim.

Thì là có thể ăn được cả hạt, lá và rễ nhưng chất béo chiết xuất từ hạt cây thì là đã được chứng minh nó khá độc hại ngay cả khi sử dụng với số lượng nhỏ – dẫn đến phát ban da, khó thở và buồn nôn.

Do thì là có tác dụng tiếp thêm sinh lực và thanh lọc cơ thể nên nó cũng được sử dụng trong điều trị vết bầm tím, béo phì, giữ nước, nhiệt miệng…

Thì là giúp loại trừ cảm lạnh thông thường và làm giảm cơn ho do chất đờm lấp trong cổ họng. Ngoài ra, xông hơi bằng nước lá thì là giúp làm giảm bớt bệnh suyễn và viêm phế quản.

Hỗn hợp từ hạt và lá thì là khô có thể loại bỏ cơm đau bụng và kích thích tiêu hóa. Trong những công dụng khác, lá và hạt thì là còn được biết đến là một phương thuốc tốt chống lại bệnh giun đường ruột và vi khuẩn.

Hỗn hợp của thì là còn được sử dụng để cải thiện thị lực và làm giảm bớt kích thích mắt. Hạt và rễ của thì là cũng giúp giải độc tố cho gan, lá lách, bàng quang và loại bỏ chuột rút.

Siro làm từ nước thì là làm giảm bớt những con họ. Dầu thì là dễ bay hơi có tính sát trùng nên là một loại thuốc an thần rất tốt.

Cảnh báo: Phụ nữ mang thai không nên sử dụng thì là, vì nó có chứa số lượng lớn các chất kích thích tử cung. Tuy nhiên thì là không gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào nếu nó được sử dụng trong bữa ăn. Với cách sử dụng xông hơi thì là sẽ để cho tinh dầu bay hơi. Do đó, bạn nên tránh tiếp xúc trực tiếp với da vì nó có thể gây viêm da đối với làn da nhạy cảm.

Trái me

Người Việt Nam sử dụng me khá nhiều, sống và chín, dùng để tạo vị chua cho thức ăn, nhất là món canh chua truyền thống Nam Bộ. Me được dùng trong nhiều món ăn khác nhau như canh chua, ô mai, me muối. Me không chỉ là một thứ gia vị trong đồ ăn như nói trên mà còn là một loại thức uống hấp dẫn trên vùng khí hậu nắng nóng.

Quả me

Me chua cũng như me ngọt làm mứt đều là món khoái khẩu. Tuy vậy me chua được ưu ái hơn bởi nó được lấy làm gia vị trong các món canh chua, cua rang, còng rang, làm nước chấm để chấm cá chiên, kho cá linh, cá mè, làm kẹo me, nước đá me và làm mứt me.

Lá me bánh tẻ góp mặt ở đĩa rau sống vị chua trong bữa nhậu, trong món bánh xèo. Lá cũng như trái sống nấu canh chua thì tuyệt hảo. Lá thì cứ việc cho thẳng vào nồi canh chua còn trái sống khi nấu chín vớt ra lọc lấy nước chua. Cái vị chua thanh của me từ lâu còn hiện diện các tổ canh chua chay và nhiều món chay khác. Không chỉ vậy, me còn có nhiều tác dụng tuyệt vời cho sức khỏe như giảm mỡ, ngừa thiếu máu, cao huyết áp.

Dưới đây là những tác dụng của me đối với sức khỏe:

Giúp hệ thần kinh hoạt động tốt (hàm lượng thiamin 29%): Bạn thường xuyên cảm thấy bị tê ở chân? Bạn có biết rằng nguyên nhân chính gây ra các chứng tê ở bắp chân, chuột rút, đau mỏi và kim châm ở lòng bàn chân chính là do thiếu thiamin gây nên. Thiamin là một loại vitamin B có vai trò quan trọng trong các hoạt động của dây thần kinh và cơ bắp. Nếu không có chất dinh dưỡng này, các màng bọc myelin của các dây thần kinh có thể bị tổn thương, gây ra những cảm giác đau đớn, cảm giác gai, châm chích ở lòng bàn chân.

Trái me là một nguồn cung cấp thiamin tuyệt vời, nó có lợi cho hệ thần kinh hoạt động tốt.

Giữ xương chắc khỏe (hàm lượng magie 23%): Bạn có thể bổ sung magie tự nhiên cho cơ thể bằng cách ăn me và những món ăn từ me tươi. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng những người có chế độ ăn giàu kali và magie sẽ có mật độ xương cao hơn, xương chắc khỏe hơn so với những người không được bổ sung đầy đủ hai chất này.

Giúp ngăn ngừa táo bón (hàm lượng chất xơ 20%): Trái me là một trong những nguồn chất xơ cao nhất trong các loại trái cây. Chất xơ trong me có tác dụng điều hòa nhu động ruột và được coi như một loại thuốc nhuận tràng tự nhiên, vừa hiệu quả vừa không gây tác dụng phụ. Vì vậy, ăn me có thể giúp cơ thể bạn ngăn ngừa táo bón.

Giúp kiểm soát huyết áp (hàm lượng kali 18%): Trái me có thành phần kali cao gấp hai lần lượng kali trong chuối. Do đó, nó có tác dụng kiểm soát huyết áp tốt không kém gì chuối. Me giúp ổn định huyết áp bằng cách kiểm soát các tác động của natri trong cơ thể, tránh để tình trạng lượng natri tăng cao làm cho huyết áp tăng.

Ngăn chặn bệnh thiếu máu (hàm lượng sắt 16%): Với hàm lượng sắt phong phú, me sẽ giúp bạn tránh được tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Vì vậy, đây cũng là loại trái cây rất tốt cho phụ nữ mang thai.

Giúp kiểm soát mức cholesterol (hàm lượng niacin 10%): Me chứa khá nhiều chất niacin, một loại vitamin B rất quan trọng với sức khỏe. Chất này có thể giúp giảm cholesterol xấu và tăng lượng cholesterol tốt trong cơ thể.

Cung cấp năng lượng mà không gây béo (hàm lượng riboflavin 9%): Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi, uể oải, hãy thử dùng một ít trái me có vị ngọt. Chất riboflavin trong trái me sẽ giúp chuyển hóa carbohydrate trong cơ thể thành năng lượng. Bởi vậy, khi ăn me, bạn không cần nạp thêm tinh bột mà vẫn có năng lượng cho các hoạt động của mình.

Hỗ trợ cơ chế đông máu hoạt động bình thường (hàm lượng canxi 7%): Me là một trong những loại trái cây giàu canxi. Canxi (với sự giúp đỡ của vitamin K lại đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình đông máu. Vì vậy, me được coi là loại trái có thể giúp cơ chế đông máu ở con người hoạt động bình thường.

Giúp răng và lợi khỏe mạnh (hàm lượng vitamin C 6%): Răng lung lay và nướu răng chảy máu có thể là một dấu hiệu của tình trạng thiếu vitamin C trong cơ thể. Ăn me có thể bổ sung lượng vitamin C mà bạn cần mỗi ngày.

Tăng cường hệ thống miễn dịch (hàm lượng protein 6%): Trong số các loại trái cây, me chứa nhiều protein. Protein trong trái me là một chất dinh dưỡng giúp sản xuất kháng thể để chống lại virus, vi khuẩn gây bệnh khi chúng xâm nhập vào cơ thể.

Trái sấu

Theo nghiên cứu hiện đại, trong trái sấu có tới 80% là nước, 1% axit hữu cơ, 1,3% proteine, 8,2% gluxit… và chứa nhiều vitamin C. Trái tươi để nấu canh hay lấy củi thịt làm tương giám hay mứt sấu, ô mai sấu, sấu dầm… Đông y cho rằng trái sấu lúc xanh có vị chua hơi chát, khi chín có vị chua, ngọt, tính mát, có công năng kiện vị sinh tân, tiêu thực chỉ khát, chữa ho, tiêu đờm, sử dụng trị nhiều bệnh chứng như nhiệt miệng khô khát, ngứa cổ, đau họng, nôn do thai nghén, say rượu, nổi mẩn, sưng, lở ngứa.

Quả sấu

Mùa hè trái sấu thường được sử dụng nấu canh chua với thịt nạc băm hoặc thái miếng nhỏ mỏng. Hoặc khi luộc rau muống ta thường cho sấu trái xanh vào làm canh chua ăn vừa ngon miệng lại có tác dụng thanh nhiệt giải khát và kích thích làm tăng tiêu hóa. Trái sấu chín ăn làm thuốc giải khát. Trái sấu, giấm, gừng, đường, ớt dầm với nhau ăn tạo thành món ăn có tác dụng tiêu thực.

Trái sấu cũng được sử dụng làm thuốc trị nhiệt miệng, giải khát, giải say rượu. Trị phong độc nổi khắp mình mẩy, mụn có sưng lở, ngứa hoặc đau… Lá dùng nấu nước rửa chữa mụn loét hoại tử. Vỏ thân cây sấu sử dụng làm thuốc trị bỏng và tử cung xuất huyết… Ở Vân Nam, Trung Quốc người ta còn sử dụng trái sấu giã ra trị ngứa lở, ăn uống không tiêu, còn vỏ rễ cây được làm thuốc trị sưng vú ở phụ nữ.

Để tham khảo, xin giới thiệu một vài phương thuốc tiêu biểu được sử dụng từ cây sấu:

Trị các chứng nhiệt miệng khô khát, ngứa cổ, đau họng: 4-6g cùi trái sấu khô đem sắc với hai chén nước còn nửa chén, uống sau bữa ăn sáng. Hoặc 8g cùi trái sấu hãm với nước sôi uống trong ngày. Dùng trong một tuần liền. Hoặc có thể lấy cùi trái sấu chín đem dầm với muối hay đường ăn trong ngày.

Chữa nôn do thai nghén: Trái sấu xanh nấu với cá diếc hoặc thịt vịt. Cách chế biến: Cá diếc hai con, mọi ruột, rửa sạch để ráo nước, ướp gia vị, đem nấu với hai chén nước, khi nước sôi cho khoảng một tới ba trái sấu đã gọt vỏ, đun từ bảy đến mười phút bắc ra rồi dầm sấu, nêm gia vị cho vừa ăn. Ăn lúc nóng hoặc có thể thay canh ăn với cơm. Mỗi tuần nên ăn khoảng ba đến năm lần.

Chữa ho: Cùi trái sấu tươi 15g, ngâm với ít muối, ngày ngậm ba đến năm lần, tốt nhất nên ngậm vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ. Hoặc cùi sấu 25g sắc với 250ml nước còn 100ml, chia làm hai lần uống, khi uống cho thêm đường. Uống trong ba ngày.

Giải rượu: 10g cùi sấu đem hãm với nước sôi để uống, cách 30 phút lại uống một lần.

Tăng cường tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng: 200g trái sấu tươi đã cạo vỏ đem hấp với đường, khi dùng pha với nước uống trong ngày. Ngày uống hai đến ba lần. Hoặc có thể dùng trái sấu để nấu canh chua với thịt nạc băm hoặc thái cắt miếng nhỏ mỏng, món này vừa dễ làm, bổ dưỡng lại có tác dụng thanh nhiệt và kích thích tăng cường tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng.

Củ tỏi

Từ xa xưa tác dụng chữa bệnh của tôi đã được biết đến. Tỏi tươi có chứa những dưỡng chất tự nhiên có tác dụng như kháng sinh, chống virus, chống nấm, khử trùng và chống khuẩn. Tôi còn là chất chống oxy hóa tuyệt vời, vì thế việc dùng tỏi hàng ngày giúp khắc phục được tác dụng có hại của các gốc tự do.

Củ tỏi

Tỏi còn có các đặc tính lợi tiểu, nó giúp loại bỏ chứng phù nề và loại các độc tố ra khỏi cơ thể, được coi là phương thuốc chống viêm rất tốt. Từ lâu tỏi còn được sử dụng một cách hiệu quả trong công nghệ làm đẹp. Dùng tỏi tươi hàng ngày giúp ngăn ngừa nhiều bệnh về da và thậm chí còn làm chậm quá trình lão hoá.

Mỗi ngày bạn hãy thử dùng một tép tỏi nghiền nhuyền pha vào nước chấm, vào sữa chua hoặc dùng tỏi với pho mát. Tuy nhiên, dùng tỏi tươi sẽ tốt hơn, bởi vì tôi đã nấu hoặc phi dầu mỡ trong quá trình chế biến đã bị mất đi một phần những tính năng có ích. Một số cách chữa bệnh bằng tỏi

Chữa trứng cá: Trộn nước ép của hai tép tỏi với nước giấm trắng lượng tương đương. Dùng bông gạc tẩm ướt dụng dịch này xoa vào những vùng da bị trứng cá vài lần trong ngày. Hiệu quả của bài thuốc tỏi- giấm chữa những nốt trứng cá chính là dựa trên cơ sở những đặc tính kháng sinh, chống nấm, khử trùng và diệt khuẩn của tỏi. Còn những chất chống oxy hóa có trong tỏi giúp khôi phục da và bảo vệ da tránh khỏi ảnh hưởng của các gốc tự do. Giấm có khả năng khôi phục sự cân bằng độ pH.

Chữa mụn rộp: Nếu bên trong môi của bạn xuất hiện mụn rộp thì hãy cắt lát tép tỏi và nước tỏi ép vào chỗ loét. Nước tỏi rất cay cho nên sẽ bị rát những vết thương sẽ chóng khô và nhanh lành, ngoài ra điều này ngăn ngừa việc nhiễm trùng ở vết loét.

Chữa bệnh vảy nến: Hãy thử dùng viên nang dầu tỏi để xử lý những vùng da bị viêm đỏ giống bệnh vẩy nến. Dùng kim để chọc thủng viên nang và bôi dầu tỏi vào chỗ bị đau.

Chữa rụng tóc: Từ nhiều thế kỷ nay tôi vẫn được dùng như một loại thuốc thiên nhiên để chữa chứng rụng tóc. Hãy dùng dầu tỏi bôi vào chỗ tóc rụng và dùng túi hoặc mũ ngủ bịt kín lại. Lặp lại liệu pháp này liền trong vài tuần, sáng dậy nhớ gội sạch dầu tỏi.

Chữa bệnh nấm ở bàn chân: Nấm bàn chân là một bệnh lý và làm mất thẩm mỹ. Có thể dùng tỏi tươi để chữa nấm chân. Nghiền vài tép tỏi, xát một lượng tỏi đặc này vào chỗ bị nấm và bằng chặt lại khi đi ngủ. Sáng ra hãy rửa chân, bôi dầu tỏi vào chỗ nấm chân và đi tất. Lặp lại cách chữa này cho đến khi nào hết ngứa và vết đỏ biến mất hoàn toàn.

Có thể dùng tỏi tươi hoặc ngâm đều được, cụ thể như sau:

Tỏi tươi: Là dạng dễ dàng nhất, có thể ăn sống hoặc dầm vào nước chấm. Nhấm sống tỏi rất có lợi vì các vi khuẩn trong khoang miệng sẽ bị tiêu diệt. Nói chung mỗi ngày nên ăn hai tép tỏi là đủ, nhiều hơn hoặc ít hơn một chút đều được. Ăn nhiều quá cũng không có lợi vì dạ dày sẽ dễ bị kích thích trực tiếp và chất axilin có trong tỏi có thể gây chứng tan máu. Theo các nhà dinh dưỡng, mỗi ngày ăn khoảng 10g tỏi là hoàn toàn vô hại. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng kiếm được tỏi tươi và ăn tỏi tươi hay có mùi hôi nên người ta thường chế biến thành các dạng dùng khác.

Tỏi ngâm: Có thể ngâm giấm hoặc ngâm đường. Trong môi trường axit, tác dụng của tỏi tăng gấp bốn lần nên dùng tỏi ngâm giấm là rất tốt. Cách chế biến: Lấy 50g tỏi tươi bóc vỏ rồi ngâm với 100ml giấm gạo, sau chừng mươi ngày là dùng được, nếu để đủ 30 ngày thì càng tốt. Tỏi ngâm đường: Lấy 50g tỏi đem ngâm nước trong bảy ngày, mỗi ngày thay nước một lần, sau đó bóc bỏ vỏ rồi ngâm với muối một lúc cho chảy hết nước. Hòa 800g đường trắng trong một cái liền miệng nhỏ với lượng nước chín vừa đủ, đổ tỏi vào ngâm trong một tháng là có thể ăn được. Tỏi ngâm đường có vị mặn ngọt, mùi thơm rất thú vị.

Rượu tỏi: Lấy 25g tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem ngâm với 100ml rượu trắng, bịt kín miệng bình, để chỗ thoáng mát, sau bảy ngày là có thể dùng được, mỗi ngày uống một đến hai lần, mỗi lần 20 – 25ml.

Hoặc có thể chế theo cách khác: Dùng một cái bình miệng hẹp hoặc một vò rượu, đổ tỏi đã bóc vỏ vào đầy chừng 7/10 bình, xen kẽ với tỏi, rải từng lớp đường phèn đã đập vụn, rót rượu trắng vào cho ngập tỏi. Bịt kín miệng bình, để chỗ râm mát, sau 30 ngày là có thể dùng được, để càng lâu càng tốt, mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 25ml.

Trà tỏi: Công thức 1:Tỏi15g, sơn tra 30g, thảo quyết minh 10g. Tỏi bóc vỏ, rửa sạch, thái mỏng rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với sơn tra và thảo quyết minh, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hạ mỡ máu, chống béo phì, tiêu thực tích.

Công thức 2: Tỏi vỏ tím 10g, kim ngân hoa 6g, trà xanh 3g, cam thảo 2g. Tỏi bóc vỏ, giã nát rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín cùng với kim ngân hoa, trà xanh và cam thảo, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, thanh nhiệt trừ thấp.

Tỏi tây (boa rô)

Boa rô (Allium porum) hay tỏi tây có củ gần giống với tỏi, củ hành và hành lá, từng được người Ai Cập ưa chuộng. Lịch sử ghi lại rằng các Pharaon thưởng công trạng của các chiến binh bằng những bó boa rô thật to. Nổi tiếng nhất là hoàng đế Neron, thường xuyên dùng loa rô để giọng nói được thanh.

Tỏi tây

Là loại rau thuộc họ hành, boa rô trở thành biểu tượng bảo vệ của xứ Wales khi người dân xứ này gắn một cọng boa rô trên nón sau một trận đại thắng. Ngày nay, loại rau quen thuộc này được trồng tại tất cả các vùng khí hậu ôn hòa trên khắp thế giới. Do có mùi hăng giống như tỏi nên tỏi tây (boa rô) được sử dụng để làm thơm các món ăn chay, hoặc tạo mùi đặc trưng cho món súp hầm và món gỏi mùa hè.

Thành phần dinh dưỡng và tính năng của tỏi tây: Trong 100g boa rô người ta thấy có 30 calori, 86g nước, 3g xơ, 2g protein, 300mg kali và 63mg canxi. Boa rô nằm trong danh sách các loại rau tốt cho việc giảm cân, với điều kiện không trộn chung với dầu giấm hay nước xốt có chất béo. Phần cọng trắng – thơm ngon nhất – có vết của các gluxit đặc biệt là fructosan tạo nên vị ngọt dịu, vitamin nhóm B, C, E và nhiều khoáng chất. Riêng phần lá xanh lại có hàm lượng cô đặc caroten gấp trăm lần và hai lần vitamin A, Chơm phần cọng trắng nhưng khó ăn hơn.

Nhiều nghiên cứu cho thấy ăn thường xuyên boa rô hoặc rau củ cùng họ có thể bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh ung thư dạ dày và ruột, có tác dụng lợi tiểu và giúp thải độc thân. Do không chứa axit oxalic và cơ thể có thể hấp thụ dễ dàng các khoáng chất nên boa rô rất tốt cho các chứng bệnh do thiếu máu. Giàu pectin nên có khả năng hạ cholesterol và ngăn ngừa, trong chừng mực, bệnh xơ vữa động mạch.

Boa rô ngon là cọng và lá thẳng trơn, căng và màu sắc rõ ràng. Có thể bảo quản tươi khoảng năm ngày trong hộc rau tủ lạnh. Khi chế biến chín thì boa rô chỉ có thể giữ tối đa hai ngày trong hộp kín. Để làm đông, boa rô cần phải được chần qua nước sôi vài phút, rửa lại với nước lạnh, để ráo và cho vào bao. Nước hầm boa rô có tính lợi tiểu, sát trùng và nhuận trường được chỉ định trong các trường hợp viêm đường tiết niệu, gút, viêm khớp, suy thận, thấp khớp dạng thấp.

Lưu ý: Đối với những người tiêu hóa kém, nên kết hợp boa rô với những rau củ khác như khoai tây hay cà rốt.

Củ hành tây

Một số thành phần của hành tây (Allium cepa) có đặc tính kháng khuẩn và chống oxy hóa, vì vậy các bà nội trợ có thể sử dụng loại hành này để bảo quản thực phẩm. Thông tin này được các nhà nghiên cứu từ Đại học Bách khoa Catalunya (UPC) và Đại học Barcelona (UB) công bố trong một nghiên cứu vừa được đăng trên Tạp chí Quốc tế về Khoa học và Công nghệ thực phẩm.

Củ hành tây

Nghiên cứu này cho thấy rằng các chất flavonoid của hành tây, ngoài lợi ích mang lại cho sức khỏe, giúp tăng tuổi thọ của các loại thực phẩm, thì còn là một loại phụ gia tự nhiên thay thế phụ gia nhân tạo được sử dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm. Flavonoids là những hợp chất phenolic (với nhóm phenol) được tổng hợp từ thực vật.

Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng chất flavonoid có lợi cho sức khỏe do chất chống oxy hóa của nó, tính kháng viêm, bảo vệ tim, giãn mạch và chống ung thư, làm cho nó được chú ý trong công tác phòng chống các bệnh mãn tính, bệnh tim mạch và một số loại ung thư.

Các chất flavonoid của hành tây ổn định hơn so với một số thành phần khác có trong nó, chẳng hạn như các hợp chất lưu huỳnh. Các nghiên cứu chỉ ra rằng các hợp chất sulfur này tốt cho sức khỏe, chúng có nhiệm vụ tạo ra hương vị đặc trưng, tạo mùi và làm chảy nước mắt. Những chất này rất dễ bay hơi và không ổn định, được giải phóng ra khi hành tây bị hư hỏng hoặc bị gọt cắt.

Hành tây là một trong những loại rau được trồng và tiêu thụ nhiều trên thế giới (khoảng 66.000.000 tấn năm 2008, trong đó có 1.100.000 tấn được sản xuất tại Tây Ban Nha, đặc biệt là ở Castilla-La Mancha, và một trong những thành phần chính trong các món ăn của các cư dân sống trong vùng Địa Trung Hải.

Mỗi ngày 1/4 củ hành tây giúp hạ huyết áp. Đó là lời khuyên dành cho những người cao huyết áp, mắc bệnh mạch vành và xơ cứng động mạch.

Giá trị dinh dưỡng của hành tây: Hành tây vừa được xem là một loại gia vị tốt cho sức khỏe, vừa như một loại rau rất giàu kali, selen và vitamin C. Thành phần selen có nhiều trong hành tây rất tốt cho da, móng và tóc. Ngoài ra, chất quexetin trong loại rau củ này có tác dụng chống oxy hóa rất mạnh. Hai thành phần này kết hợp giúp khử các gốc tự do, nguyên nhân gây nên nếp nhăn và sự chai cứng da.

Trong thành phần dinh dưỡng của hành tây không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng huyết áp, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối trong cơ thể.

Chính vì vậy, hành tây có tác dụng giảm huyết áp hiệu quả và an toàn hơn các loại thuốc hạ huyết áp. Ngoài ra, vỏ hành tây còn chứa nhiều rutin, rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não.

Hành tây – một vị thuốc chữa bệnh: Từ vai trò là nguyên liệu để chế biến món ăn ngon hàng ngày, hành tây dần được sử dụng như một vị thuốc chữa một số chứng bệnh nhẹ hay gặp phải. Vì chứa chất phytonxit – một loại kháng sinh mạnh, hành tây được dùng chữa nhiều bệnh như ho, trừ đờm, kích thích tiết mồ hôi, lợi tiểu, chống phù thũng, trị bệnh cổ trướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, làm tiêu nhanh các chất bột, trừ giun đũa, trừ ho, chống béo phì, xơ cứng động mạch.

Khi dùng ngoài, hành tây có thể trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, chân nứt nẻ, mụn cóc, đau nửa đầu, đau dây thần kinh ngoại biên. Hành tây cũng được khẳng định là một loại viagra tự nhiên có hiệu quả.

Từ lâu trong dân gian đã sử dụng hành tây để trị bệnh:

Trị phong thấp: ba củ hành tây xắt lát, đổ một lít nước, đun khoảng 10-15 phút. Ngày uống hai ly vào sáng và tối lúc đói bụng.

Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây một năm. Đun nước uống trong ngày.

Hành tây cắt nhỏ cho vào nấu chín uống lúc còn nóng hoặc cho vào cháo ăn nóng sẽ có tác dụng giải cảm, ra mồ hôi và giải nhiệt rất nhanh.

Đặt một vài lát hành thái nhỏ bên cạnh có thể đuổi muỗi và chữa bệnh khó ngủ.

Hành tây thái lát, phơi khô đem nấu với nước uống rất tốt cho tiêu hoá và làm ấm bụng.

Dùng một ít dầu ăn nóng rưới lên hành tây đã xắt mỏng rồi ăn sống, nếu thích có thể thêm vào một ít đậu phụ, có thể ngăn ngừa bệnh cảm cúm trong mùa đông.

Một số mẹo vặt trong bếp với hành tây:

Khử mùi: Dùng cọng hành tây cho vào nồi cơm bị khê khi còn nóng, đậy nắp lại, mùi khó chịu này sẽ biến mất. Hành tây cũng giúp khử mùi sơn mới trong nhà.

Cho hai cọng hành tây vào xì dầu hoặc giấm có thể giúp chúng không bị mốc.

Làm sạch đồ dùng nhà bếp: bằng cách lấy rễ hành tây chà bề mặt đồ dùng bám dầu mỡ.

Lau cửa kính: Cắt đôi củ hành tây, lấy mặt cắt chà lên cửa kính. Sau đó, dùng vải khô lau thật nhanh trước khi nước hành khô, mặt kính sẽ bóng loáng như mới.

Ngăn ruồi đậu lên thức ăn: Rửa sạch thực phẩm, để ráo nước, đặt vài cọng hành tây đã rửa sạch lên trên, ruồi sẽ tránh xa.

Xử lý dao bị gỉ sét: Cắt đôi củ hành tây, chà mặt cắt lên phần dao gi, vết gỉ sét sẽ biến mất.

Chú ý khi dùng hành tây: Hành tây và các anh em họ hàng của nó như tỏi, tỏi tây và hẹ tây luôn rất giàu hợp chất phytonutrient, có tác dụng bảo vệ tim nhưng lại gây hại cho dạ dày. Vì vậy với những người mắc bệnh dạ dày cần nấu chín để khử hoạt tính của hợp chất này hoặc trộn giữa hành sống và chín để giảm tác dụng phụ không mong muốn của hoạt chất. Nên chọn những củ hành tây còn tươi, nếu hành tây đã mọc mầm thì không nên dùng vì có thể gây hại cho sức khỏe.

Củ nén

Củ nén (hay còn gọi là hành tăm) là một loại gia vị tốt cho sức khỏe được nhiều bà nội trợ ưa dùng. Loại củ này chỉ được trồng đại trà và có chất lượng tốt ở vùng đất từ Quảng Nam ra Quảng Trị, nhiều nhất là ở Nghệ An. Bạn có thể dùng củ nén để ướp thức ăn hay cho vào kho cá. Tuy nhiên, dù dùng để làm gì, cũng không nên băm củ nén quá nhuyễn, chỉ đập giập là được, để lúc ăn, người ta còn có thể nhận nha thưởng thức loại gia vị này một cách trọn vẹn.

Củ nén

Củ nén dùng làm gia vị ướp thịt bò nướng thì không gì bằng. Thịt bò phi lê thái mỏng, ướp với sả băm, ớt bột, dầu mè và các gia vị cho vừa ăn. Cho thật nhiều củ nén đập giập vào, khoảng bằng một phần ba lượng thịt bò, như vậy khi nướng mùi củ nén mới dậy mùi. Bọc thịt bò bằng lá chuối và đem nướng, thịt chín sẽ thơm và ngọt vô cùng. Với món cá, nếu ướp nén rồi đem kho thì vị sẽ đậm đà và ngon hơn rất nhiều.

Theo Đông y, củ nén vị cay, mùi hăng nồng, tính ấm; có tác dụng ôn ấm tỳ vị, tiêu đờm, giảm ho, làm ra mồ hôi, lợi tiểu, sát khuẩn, giải độc, trị cảm hàn, bí tiểu tiện, côn trùng cắn, ngộ độc chì. Lá và củ nén chứa hợp chất lưu huỳnh (tinh dầu) như hành tỏi những đặc biệt hơn là có metylpentydisulfid, pentyhyđrodisulfid, nhiều silicium, lá củ nén có nhiều tiền chất vitamin A, B, C.

Củ nén được dùng làm thuốc chữa bệnh trong các trường hợp: Chữa cảm do bị mưa, lạnh, hoặc cảm nắng (cảm thử) không ra mồ hôi, nhức đầu, sổ mũi, nóng rét, ho, đau bụng do ngộ độc thức ăn.

Có thể dùng: Củ nén nấu với đường đen (đường mía), không dùng đường trắng. Nấu cháo củ nén có thể kèm theo tía tô, thêm ít giấm. Củ nén ngâm rượu hoặc nhai dằm củ sống với một chén rượu trắng. Củ hay lá củ nén giã đắp lên trán, đánh gió dọc hai thằn lung. Củ nén giã lấy nước nhỏ mũi. Cháo tam tân: gạo trắng 70g, củ nén 15g, củ tỏi 15g, củ hành 15g, tiêu bột 4g, gừng tươi 4g. Cháo nấu nhừ rồi mới cho các thứ sau đã được giã nhuyễn. Ăn nóng rồi trùm mền cho ra mồ hôi, ăn một lần.

Ho gà: Củ hay lá đâm nhuyễn với đường phèn hấp com hoặc chưng cách thuỷ, chắt nước uống.

Bí tiểu, tiểu buốt, bụng đầy trướng: vài củ nén đập dập, xào nóng đắp lên vùng bàng quang (dưới rốn). Trẻ nhỏ bí tiểu dùng củ nén 4g giã giập chung cách thủy với một chén con sữa mẹ, cho uống nóng (bỏ bã).

Chấn thương máu tụ: Dùng củ nén nấu nước rửa vết thương rồi giã củ đắp.

Lòi dom (thoát giang): 10 củ nén giã nhuyễn xào nóng để xông (sau khi đã rửa sạch hậu môn).

Phòng trị rắn độc, trùng thú cắn: Theo kinh nghiệm của bà con ở Vĩnh Linh, để rắn không đến nơi ở thì trồng củ nén. Khi bị trùng thú cắn thì nhai ngay một nắm củ nén nuốt một nửa, nửa còn lại đắp lên chỗ bị cắn (kết hợp chữa theo Tây y).

Ngộ độc ăn uống, ngộ độc chì: 6g củ nén giã nhuyễn hoà rượu uống.

Lưu ý: Không được dùng chung với mật ong (gây chóng mặt buồn nôn), kỵ các vị thuốc như thường sơn, sinh địa, thục địa. Vào tháng giêng không nên ăn nhiều củ nén để tránh bị chứng phong chạy trên mặt.

Củ kiệu

Là loại cây gia vị tốt cho sức khỏe được sử dụng rất sớm trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, củ kiệu có tên gọi tiếng Việt từ lâu đời và có thể truy nguyên về tận thời Hùng Vương. Tục truyền, khi vua Hùng đi săn đã dừng chân ở núi Lạn (dãy núi phía Nam núi Nghĩa Lĩnh, nay thuộc xã Hy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ). Vua truyền nướng thịt thú rừng săn được để làm đồ ăn, các Mỵ Nương đi tìm rau và một nàng kiếm được loại cỏ thơm, liền cho vào ống nứa với thịt chim, đem nướng khiến thức ăn dậy hương thơm đặc biệt. Do nàng Mỵ Nương có tên Kiệu đã tìm ra nên củ của loại cỏ này được gọi là củ kiệu, và tên gọi “kiệu” trở thành tên gọi cho loại gia vị này từ bấy giờ.

Củ kiệu

Củ kiệu và cả lá kiệu đều có thể làm các món ăn. Củ kiệu thường được muối dưa chua tương tự như cách muối dưa hành, dùng ăn kèm với thịt mỡ hoặc tước nhỏ trộn với bắp cải, thịt gà.

Củ kiệu còn được sử dụng làm thuốc. Kiệu có vị cay đắng tính ấm, làm ấm bụng, tán khí kết, khỏi đầy hơi, bổ thận khí, mạnh dương, còn có tác dụng lợi tiểu, chữa chứng bệnh tiểu dắt, nếu ăn đều thì chịu được rét lạnh, bổ khí, điều hòa nội tạng cho béo khỏe.

Lá kiệu có thể quấn, ướp thịt để làm món thịt nướng. Ngoài ra cũng thường thấy lá kiệu được ăn sống hoặc gia vào nồi lẩu như một loại rau thơm.

Củ kiệu còn có tên gọi khác tiểu toán (tỏi nhỏ), tiểu căn toán, dã toán, đại đầu thái tử, hóa thông. Ngoài làm thức ăn củ kiệu còn dùng làm thuốc phòng chữa nhiều bệnh.

Dưới đây là những công dụng ít ai biết tới của củ kiệu với sức khỏe con người:

Chữa viêm mũi mạn tính: Củ kiệu 9g, tân di hoa 6g, mộc qua 9g, ba vị rửa sạch đem nấu nước uống trong ngày. Mỗi liệu trình uống trong bảy ngày. Nếu mùa đông, uống liên tục trong 10 ngày, nghỉ một tuần lại tiếp tục uống.

Chữa tức ngực khó thở. Củ kiệu 15g giã nát, thêm gia vị và nước trộn với một chén cháo gạo kê, thêm ít dầu vừng để ăn, dùng vào buổi sáng và tối liên tục trong bảy ngày.

Trị chứng nôn khan: Củ kiệu một nắm, nước 500ml đem sắc còn 250ml, uống ngày ba lần sáng, trưa, tối liên tục trong ba ngày. Uống lúc thuốc còn ấm trước bữa ăn, nếu nguội cần hâm lại.

Sản phụ bị kiết lỵ: Củ kiệu tươi đem xào với bầu dục heo, ăn trong năm ngày.

Chữa sưng đau cơ khớp: Củ kiệu 20g giã nát hòa với giấm, đảo đều hâm nóng đắp lên chỗ khớp sưng đau. Ngày đắp hai lần.

Bổ khí, điều hòa nội tạng tăng cường sức đề kháng khi thời tiết giá lạnh: Hàng ngày ăn 15-20g kiệu muối với cơm.

Chữa bỏng nhẹ (chưa bị bong da): Củ kiệu bỏ vỏ ngoài, giã nát, trộn mật đắp vào chỗ bị bỏng. Ngày đắp ba lần, mỗi lần đắp cần vệ sinh sạch sẽ nơi bị bỏng.

Sang lở, chứng gặp nước thì sưng đỏ ngứa tay chân: Kiệu giã nát, xào nóng đắp vào.

Bị hôn mê hoặc ngủ trúng gió bất tỉnh: Kiệu giã vắt nước cốt nhỏ vào mũi (cần kết hợp các biện pháp khác cho kịp thời).

Củ nghệ vàng

Theo Đông y, củ nghệ vàng còn có tên gọi là Khương Hoàng, vị cay, đắng, tính bình có tác dụng hành khí, hoạt huyết, làm tan máu, tan ứ và giảm đau, chủ trị bệnh trường đầy, bế kinh, bệnh sau sinh, chấn thương, ung thũng, sưng, thông kinh nguyệt.

Củ nghệ vàng

Theo nghiên cứu, nghệ vàng có chứa chất curcumin chống oxy hóa, chữa được nhiều loại bệnh như viêm khớp, rối loạn tiêu hóa, chống lại các vi khuẩn sống ký sinh trong ruột, giảm hàm lượng cholesterol trong máu, lưu thông lọc máu, giải độc gan, mau lành vết thương, liền sẹo, giảm nguy cơ nhiễm trùng, hen suyễn, các bệnh ngoài da, hiệu nghiệm nhất là đau bao tử, viêm loét dạ dày chỉ cần mỗi ngày một chén nước nghệ tươi, cho thêm mật ong chưng cách thủy hoặc hấp cơm cho nóng, chia hai lần uống sáng và tối, sau năm ngày sẽ không còn thấy đau, nếu còn đau uống tiếp mấy ngày nữa sẽ khỏi, ít thấy trường hợp bệnh tái lại. Nếu thấy khó uống, bạn nên pha 200ml sữa và hai muỗng bột nghệ, thêm một muỗng đường, quấy đều sẽ dễ uống hơn. Mỗi ngày uống một ly như thế, trong một thời gian dài giúp cơ thể kháng lại rất nhiều chứng bệnh thông thường đến nan y.

Phụ nữ sau sinh nếu không dùng nghệ là một điều đáng tiếc vì nghệ có công dụng phòng ngừa ung thư vú, giúp co bóp tử cung, làm sạch khí huyết ứ và đau bụng sau sinh, kháng viêm, kháng khuẩn, kháng nấm. Bột nghệ trộn với mật ong, vo thành từng viên nhỏ, phơi khô cất dành và uống thường xuyên mỗi ngày hai lần, mỗi lần vài viên, hoặc nghệ tươi gọt sạch vỏ giã nhuyễn chế thêm một ít nước, một ít muối, gạn lấy nước uống hằng ngày sẽ có một làn da mềm mại trắng hồng như da em bé.

Trong mỹ phẩm làm đẹp da, củ nghệ cũng đóng vai trò quan trọng, rất an toàn, không sợ hỏng da hay phản ứng phụ. Củ nghệ còn giúp chị em phụ nữ làm đẹp một cách kỳ diệu, bởi trong nghệ có chất chống oxy hóa, chống lão hóa, giảm các nếp nhăn, chậm hình thành các nếp nhăn mới, ngăn ngừa mụn làm cho da dẻ hồng hào trắng mịn. Dùng hỗn hợp bột nghệ, mật ong, sữa không đường hoặc sữa chua, vài giọt nước chanh hòa trong cái chén nhỏ cho sền sệt đắp mặt nạ và thư giãn khoảng 30 phút cho hỗn hợp thấm vào da rồi rửa sạch bằng nước ấm. Đặc biệt, theo nghiên cứu gần đây, trong củ nghệ vàng có chất curcumin làm giảm mô mỡ, dùng nghệ thường xuyên sẽ ngăn ngừa béo phì ở độ tuổi trung niên. Khi vết thương bắt đầu se mặt, dùng củ nghệ tươi bôi vào sẽ làm liền da và vết thương mờ dần vết thẹo.

Ngoài những tác dụng có lợi cho sức khỏe, nghệ còn có tác dụng chống oxy hóa và kháng viêm trên da, nghệ có tác dụng tuyệt vời để chăm sóc da khi ta ăn thường xuyên. Nói chung các công thức làm đẹp từ củ nghệ mang lại hiệu quả rất tốt.

Trong ẩm thực, củ nghệ là một gia vị tốt cho sức khỏe không thể thiếu khi chế biến các món ăn như bò kho, nấu cà ri, gà xào sả ớt, ếch om nghệ, thịt heo kho nghệ, bún nghệ. Kho cá sống, cá đồng nếu không có nghệ thêm vài cọng lá nghệ thì không thể có mùi hương đặc trưng của món ngon vùng miền địa phương, bột nghệ cũng thay thế những phẩm màu công nghiệp, tạo màu đẹp mắt khi đổ bánh xèo, bánh khoái. Các món nướng ướp màu nghệ vàng ươm cũng tăng cảm giác thèm ăn.

Củ gừng

V học hiện đại phát hiện thêm nhiều tác dụng quý của gừng trong việc ngăn ngừa một số bệnh. Trong củ gừng vàng có trên 400 chất khác nhau, bao gồm tinh dầu, chất béo, các vitamin B1, B2, B6, C và nhiều chất khoáng như kali, canxi, sắt, kẽm. Gừng vàng có những tác dụng sau:

Củ gừng

Chống nôn: Nhai dập rồi ngậm từ một đến hai lát gừng tươi sẽ có tác dụng chống nôn do thai nghén, say tàu xe, hoặc nôn do tác dụng phụ của các loại thuốc hóa trị liệu chống ung thư, thuốc gây mê trong phẫu thuật.

Phòng ngừa cảm mạo: Trong những ngày lạnh giá, hãy ngậm một lát gừng tươi, thỉnh thoảng nhấm cho ra nước cay sẽ giúp bạn không bị nhiễm lạnh, cảm lạnh trước khi ra đường hoặc trước khi tắm, khi làm việc ở môi trường lạnh. Đối với những người bị cảm, trà gừng có tác dụng giúp cơ thể toát mồ hôi, nhờ đó thải được các độc tố.

Chữa ho: Ho là triệu chứng của nhiều bệnh, nhất là ho lâu ngày, lại kèm sốt về chiều, có thể là lao, cần phải đi khám. Tuy nhiên theo kinh nghiệm dân gian có thể dùng gừng trong các chứng sau đây:

Ho vì nhiễm lạnh: có thể dùng nước sắc gừng với hai vị thuốc vỏ cam quýt và ít vỏ quế để uống.

Ho lâu không khỏi có thể dùng nước sắc gừng pha với mật ong; pha với nước mía hoặc có thể pha với nước sâm, nước đinh lăng.

Họ khúc khắc, thỉnh thoảng ra máu có thể dùng bài thuốc: gừng một phần, tinh tre hai phần, ngải cứu hai phần sắc uống lâu dài cùng với bồi dưỡng cơ thể.

Rối loạn tiêu hóa: Gừng giúp hệ thống tiêu hóa làm việc tốt hơn nhờ khả năng kích thích tiết nước bọt, dịch mật, kích thích sự vận chuyển trong đường tiêu hóa. Kích thích sự sinh trưởng các loại vi khuẩn có ích trong hệ tiêu hóa, có tác dụng chống rối loạn tiêu hóa do kháng sinh. Gừng cũng làm giảm bài tiết dịch vị, ức chế sự co bóp dạ dày, ức chế sự phát triển của các loại vi trùng gây bệnh dạ dày.

Giảm đau, kháng viêm: Mỗi tối đắp bã gừng, ngâm tay chân trong nước gừng loãng từ 15-20 phút có thể chữa được các chứng viêm khớp. Liệu pháp này có tác dụng giảm triệu chứng đau, sưng rất rõ rệt. Với những người khó ngủ hoặc mất ngủ, ngâm chân trong nước gừng giúp cho giấc ngủ ngon và sâu giấc hơn. Cách pha nước gừng như sau: giã nát gừng hòa vào nước ấm, cho thêm chút muối.

Ngăn chặn sự tạo thành cục máu đông: Gừng có thể ngăn ngừa chứng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim (tác dụng này tương tự aspirin nhưng không gây viêm loét và xuất huyết dạ dày). Người bị bệnh tim mạch nên dùng gừng tươi hằng ngày vào sáng, trưa, tối, mỗi lần một lát mỏng (khoảng 2g).

Gừng cũng ngăn cản sự tăng cholesterol trong máu, có tác dụng với các bệnh tăng mỡ máu, nhiễm mỡ gan, huyết áp cao.

Chữa bất lực sinh lý: Ở một số nước phương Tây và Bắc Mỹ hiện nay, người ta có xu hướng dùng gừng thay cho Viagra trong việc chữa bất lực sinh lý ở cả nam và nữ. Có thể nhấm dập một lát gừng tươi rồi ngậm trước khi đi ngủ.

Ngoài ra, gừng còn có tác dụng phòng sỏi mật, phòng chống các bệnh ung thư, chống lão hóa, giảm sốt, điều hòa thân nhiệt, giúp ra mồ hôi, chống nhiễm độc gan do thuốc và hóa chất.

Sau đây là một số điều cần lưu ý khi dùng gừng:

– Tránh dùng gừng với aspirin và coumarin (phải cách xa bốn giờ).

– Không dùng gừng cho người chuẩn bị mổ và sau mổ, người đang chảy máu như băng huyết, ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, tiểu ra máu, trĩ ra máu, chảy máu cam, chảy máu răng.

– Không dùng gừng cho người bị cảm nắng, vã mồ hôi, sốt cao không rét.

– Không dùng gừng liều cao, nhiều ngày cho người tiểu đường, bệnh tim, phụ nữ có thai.

Củ riềng

Trong y học cổ truyền, củ riềng có vị cay thơm, tính ấm 1 vào hai kinh tỳ và vị, có tác dụng ôn trung, giảm đau, tiêu thức ăn, chữa đau bụng do lạnh, phong thấp, sốt rét, hắc lào, lang ben.

Củ riềng

Củ riềng có tên là phong khương, cao lương thường, tiểu lương khương, có khá (Thái), kìm sung (Dao). Ở nước ta, cây riềng mọc hoang và được trồng ở khắp nơi, không chỉ được dùng làm gia vị mà còn được sử dụng làm thuốc. Bộ phận làm thuốc: rễ (củ) phơi khô. Cách chế biến: đào rễ, rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con rồi cắt thành từng đoạn 2 – 3cm, phơi khô. Riềng được dùng cả trong y học hiện đại và y học cổ truyền. Theo nghiên cứu hiện đại, thành phần hóa học của riêng có khoảng 1% tinh dầu, có mùi thơm long não, chủ yếu có xineola và metylxinnamat. Ngoài ra, còn có chất dầu vị cay gọi là galangola được dùng để làm thuốc kích thích tiêu hóa, chứa đầy hơi.

Bài thuốc chữa bệnh có sử dụng riềng:

Chữa đau bụng do lạnh: củ riềng 20g, nụ sim 8g, búp ổi 60g, tất cả sấy khô, tán bột. Ngày uống ba lần sau ăn, mỗi lần 5g với nước sôi để nguội. Hoặc củ riêng 200g, quế 120g, hậu phác 80g, sấy khô. Sắc uống mỗi lần 12g với 200ml nước, còn 50ml uống trong ngày. Dùng trong hai đến bốn ngày.

Chữa phong thấp: Củ riềng, vỏ quýt, hạt tía tô mỗi vị 60g, sấy khô, tán nhỏ, mỗi lần dùng 4g, có thể pha với một chén nước sôi để nguội hoặc rượu, uống ngày hai lần. Dùng trong năm đến bảy ngày.

Chữa sốt rét: bột riềng 300g, bột quế khô, bột thảo quả mỗi thứ 100g, tất cả đem trộn với mật làm viên to bằng hạt ngô. Mỗi ngày dùng 15 viên trước khi lên cơm. Hoặc riềng tẩm dầu vừng sao 40g, gừng khô nướng 35g tán nhỏ, hòa mật heo làm hoàn thành viên bằng hạt ngô, uống ngày 15 – 20 viên

Trị chứng đầy bụng, khó tiêu: riềng thái lát mỏng, đem muối chua, khi dùng có thể ngâm với vài hạt muối hoặc nhai nuốt dần. Ngày dùng hai đến ba lần.

Chữa đau dạ dày do hư hàn (đau có thời gian nhất định, gặp lạnh hay đói đau nhiều, đầy bụng, nôn nước trong, đại tiện lỏng, ăn uống không ngon, sợ lạnh, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm): củ riềng, hướng phụ mỗi vị 8g, bách hợp, đan sâm mỗi vị 30g, ô dược 10g, đinh hương 7g, sa nhân 4g. Sắc với ba chén nước còn một chén, chia hai lần uống trong ngày. Dùng trong năm ngày.

Chữa hắc lào: củ riềng già 100g, giã nhỏ, ngâm với 200ml rượu hoặc cồn 70 độ. Chiết ra dùng dần, khi dùng, bôi dung dịch cồn nói trên vào chỗ tổn thương, ngày bôi hai đến ba lần.

Chữa lang ben: củ riềng 100g, lá và củ chút chít 100g, chanh một trái, hai thứ giã nát rồi vắt nước chanh, đun nóng. Khi dùng lấy bông y tế thấm dịch y thuốc bôi đều lên vùng tổn thương, ngày bởi hai lần. Dùng trong năm đến bảy ngày.

Chữa ho, viêm họng, tiêu hóa kém: riềng củ thái lát mỏng, đem muối chua, khi dùng có thể ngâm với vài hạt muối hoặc nhai nuốt dần.

Chữa ăn không tiêu, buồn nôn hoặc đau bụng thổ tả: hạt riềng tán nhỏ, uống 6 – 10g.

Chữa tỳ vị hư hàn, đau bụng sôi bụng, đại tiện phân lỏng, riềng 12g, bạch truật 12g, lá lốt 16g, lá ổi 16g, sinh khương 6g. Cho các vị vào ấm đổ ba chén nước sắc lấy 1,5 chén. Chia uống làm hai đến ba lần trong ngày.

Chữa tiêu chảy nhiều lần, phân có lẫn bọt, quấy khóc ở trẻ em: hoài sơn 10g, liên nhục 10g, củ riềng 6g, bạch truật 10g, biển đậu 10g, hậu phác 4g, trần bì 6g, sinh khương 4g. Cho các vị vào ấm đổ nước hai chén, sắc còn một chén, chia làm hai đến ba lần uống trong ngày.

Chữa ngộ độc thức ăn, đau bụng, nôn mửa, có những trường hợp đau bụng dữ dội kèm theo đại tiện lỏng, cơ thể có biểu hiện mất nước, rối loại điện giải, mạch nhanh, huyết áp dưới mức bình thường: củ riềng 16g, hoàng liên 10g, biển đậu 12g, bạch truật 12g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, sinh khương (nướng) 10g, thảo quả 10g, quế 6g, chích thảo 10g, bán hạ chế 8g. Cho các vị vào ấm, đổ nước ba chén, sắc còn 1,5 chén, chia làm ba lần uống (cách hai giờ uống một lần).

Chữa chứng “Ngũ canh tả” cứ khoảng 5 giờ sáng là cần đi ngoài, khi muốn đi thì phải đi ngay, không ngừng lại được, phân lỏng, cơ thể yếu mệt, bụng lạnh, chân tay lạnh. Nguyên nhân do tỳ thận dương hư.

Dùng bài thuốc: củ riềng phơi khô 16g, cẩu tích 12g, ngũ gia bì 12g, sơn thù 12g, hoài sơn 16g, cố chỉ 10g, đỗ trọng (sao muối) 12g, khởi tử 10g, bạch truật (sao hoàng thổ) 16g, hậu phác 12g, bán hạ chế 10g, trần bì 10g, sinh khương 6g, quế 10g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày một thang, 10 – 12 ngày là một liệu trình.

Bài thuốc xoa bóp: Củ riềng phơi khô 20g, thiên niên kiện 16g, quế 24g, thạch xương bồ 20g, trần bì (sao) 16g, nhân hạt gấc (sao vàng) 20g. Các vị thái nhỏ, bỏ vào chai thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm. Sau 10 ngày là có thể dùng được. Lấy bông tẩm vào thuốc, xoa vào chỗ đau, kết hợp day, bấm nhẹ. Dùng trong những trường hợp đau xương đau mình trật ngã, sang chấn, sưng đau các khớp, thần kinh tọa, đau nhức cục bộ…

Củ sả

Sả là một trong những gia vị tốt cho sức khỏe phổ biến nhất ở Việt Nam, Malaysia, Thái Lan. Cũng giống như gừng, nghệ, tỏi, sả không những được dùng để tăng thêm sự đậm đà và ngon miệng cho món ăn, nó còn được dùng như vị thuốc

Củ sả

Ngăn ung thư: Một nghiên cứu của các nhà khoa học mới đây cho thấy, cứ 100g sả thì có chứa tới 24.205 microgam beta-carotene, thành phần chống oxy hóa mạnh có thể ngăn ngừa ung thư. Vào năm 2006, một nhóm nghiên cứu ở Trường Đại học Ben Gurion, Israel phát hiện thấy hợp chất citral có trong sả giúp tiêu diệt các tế bào ung thư mà không làm tổn hại đến các tế bào mạnh. Họ khuyên bạn nên cho sả vào thức ăn hoặc giã sả vắt làm nước uống thay trà.

Hỗ trợ tiêu hóa: Sả là gia vị tốt cho sức khỏe có khả năng hỗ trợ tiêu hóa, hạn chế đau dạ dày, ợ khí chua, đầy bụng và tiêu chảy, nó cũng giúp làm giảm các vấn đề về đầy hơi vì nó có khả năng làm dịu các cơ dạ dày.

Giải độc hiệu quả: Từ lâu sả cũng được sử dụng như thuốc giải độc trong cơ thể. Lý do là sả giúp tăng cường số lượng và tần suất việc đi tiểu. Điều này giúp gan, đường tiêu hóa, thận, tuyến tụy và bàng quang luôn sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể loại bỏ những những độc tố không mong muốn và axit uric.

Tăng cường sức khỏe hệ thần kinh: Tinh dầu trong cây sả có thể tăng cường và cải thiện hoạt động của hệ thần kinh, ăn sả có thể hỗ trợ nhiều bệnh rối loạn về thần kinh như Alzheimer (bệnh mất trí nhớ), bệnh parkinson, co giật thần kinh, lo lắng, chóng mặt.

Giảm huyết áp: Sả có tác dụng làm giảm huyết áp. Nó giúp tăng cường máu lưu thông và làm dịu các vấn đề về huyết áp. Các chuyên gia khuyên rằng, khi tăng huyết áp, bạn uống một cốc nước sả sẽ giúp huyết áp tụt xuống đáng kể.

Giúp giảm đau: Ăn sả hay uống trà sả có thể giúp bạn giảm được chứng sưng tấy liên quan đến các cơn đau nhức, như đau răng, đau cơ, đau khớp. Ngoài ra, sả cũng có tác dụng chống viêm rất tốt ở dạ dày, gan và thành ruột.

Tốt cho da: Sả là một trong những thành phần trụ cột của ngành công nghiệp thẩm mỹ vì nó có chứa nhiều thành phần tốt cho làn da của bạn. Các nhà khoa học ở Đại học Wisconsin-Eau Claire cho biết, thành phần chống viêm ở sả giúp làm giảm vết thâm tím trên da, đồng thời làm cho làn da sáng đẹp. Nó hoạt động bằng cách làm giảm sự thâm tím và thúc đẩy quá trình làm lành da giống nghệ. Ngoài ra, sả có thể cải thiện được làn da nhờ làm giảm các mụn nhọt và trứng cá.

Tốt cho sức khỏe phụ nữ: Các nhà khoa học cho biết, sả cải thiện sức khỏe cho phụ nữ vì nó giúp điều trị những rắc rối về kinh nguyệt cũng như sự buồn nôn. Bằng cách ăn sả với ớt, nó có thể giúp loại bỏ nhiều phiền toái liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt ở phái đẹp.

Chống sốt: Ở khu vực Caribbean, người dân thường sử dụng sả (còn gọi là cái ngọt hay có chống sốt) để điều trị các cơn sốt rét, cúm và cảm lạnh. Cách làm là họ ăn sống sả hoặc giã sả lấy nước để uống. Đây là phương pháp đơn giản giúp họ không cần phải đến gặp bác sĩ hay mua thuốc.

Giúp giảm cân: Đối với người Thái Lan, sả không chỉ là gia vị tăng sự ngon miệng và mùi hương quyến rũ cho món ăn mà nó còn có thể giúp giảm cân. Họ cho rằng, cũng như ớt, vị cay trong sả giúp đốt cháy các chất béo, và không cho chúng tích lũy trong cơ thể.

Giúp diệt nấm: Tinh dầu được chiết xuất từ sả có thể tiêu diệt được nấm và ngăn chặn sự phát triển của chúng. Điều này rất có ích trong việc chống lại các bệnh nhiễm nấm ở tai, mũi và họng.

Chống khuẩn: Các thành phần như methyl eugenol và một số chất khác có trong sả có khả năng tiêu diệt vi khuẩn và ngăn chặn sự phát triển của chúng. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc ngăn chặn sự nhiễm trùng Ở vết thương, ruột kết, niệu đạo, bàng quang, dạ dày, thành ruột, tuyến tiền liệt và thận.

Hạt tiêu

Hạt tiêu là gia vị vô cùng quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày, nhưng liệu bạn đã thực sự hiểu rõ cách dùng hạt tiêu chưa? Có 2 loại hạt tiêu: Đó là hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng. Mùi vị của hai loại hạt tiêu này có một chút khác biệt, hạt tiêu trắng hương vị hơi nhạt, nhưng có vị cay đậm, có thể kết hợp với nấu thịt và xào rau. Hạt tiêu đen lại có hương vị đậm đà, có tác dụng điều vị, kích thích chúng ta ăn ngon miệng, chủ yếu dùng hạt tiêu đen để nấu hoặc kho các món thịt, đặc biệt là thịt bò.

Hạt tiêu

Khi dùng hạt tiêu cần lưu ý hai điều:

Thứ nhất, bất luận hạt tiêu đen hay trắng đều không được chiên, xào trong dầu mỡ ở nhiệt độ cao, khi món ăn sắp cho ra đĩa thì mới cho hạt tiêu vào.

Thứ hai, hạt tiêu đen chứa nhiều dầu hơn hạt tiêu trắng, khi nấu cùng với thịt không nên nấu quá lâu để tránh bay mất vị thơm. Khi cất giữ, hạt tiêu tươi có thể để ở ngăn lạnh, hạt tiêu bột nên để trong hộp đóng kín, tránh ánh nắng mặt trời chiếu vào và tránh nơi ẩm ướt, thời gian cũng không nên để quá lâu.

Tác dụng dược liệu

Tẩy trừ hàn khí: dùng cho các bệnh như đau dạ dày, nôn do lạnh dạ dày và cả đau bụng đi ngoài do lạnh bụng. Người bị dạ dày lạnh khi ăn những món ăn lạnh tốt nhất nên rắc thêm một ít hạt tiêu trắng để trừ lạnh, chống hàn.

Tăng cảm giác ngon miệng: Dùng bột hạt tiêu để điều vị cho món ăn sẽ làm tăng thêm cảm giác thèm ăn, có tác dụng trị liệu chứng chán ăn, ăn không ngon và tiêu hóa không tốt.

Theo Đông y, tiêu vị cay, tính nóng, làm ấm bụng, hạ khí, tiêu đờm, chống cảm lạnh, chữa đau bụng do lạnh, nôn mửa, tiêu chảy, hen suyễn khó thở, đờm tắc. Tiêu dùng ít thì tăng tiêu hoá, dùng nhiều thì kích thích niêm mạc dạ dày, dẫn tới xung huyết, gây viêm, đại tiểu tiện ra máu. Người bị nhiệt hoặc phát viêm cần hạn chế sử dụng hoặc tạm thời không nên dùng. Không nên dùng tiêu quá nhiều, quá liều lượng vì sẽ gây ngộ độc.

Một số bài thuốc dùng hạt tiêu chữa bệnh:

Ăn vào thổ ra: Hạt tiêu ngâm giấm, phơi tẩm bảy lần. Tán thành bột luyện hồ và rượu, vo viên bằng hạt bắp. Mỗi lần dùng 8 – 10 viên với nước, ngày hai lần. Hoặc: Hồ tiêu 20g, Ổn khương 30g, sắc đặc, uống nóng, hai lần trong ngày.

Đau bụng do lạnh, mùa hè hoắc loạn: Tiêu 4g, sao vàng, tán mịn, uống với nước, ngày hai lần. Hoặc hạt tiêu tán bột, nhào với cơm nhão, vo viên bằng hạt bắp, mỗi lần uống 8 – 10 viên với nước cơm, ngày hai lần.

Thổ tả vì hàn lạnh: đại tiện, nôn ói dữ dội, chân tay giá lạnh, ngực tức, rêu lưỡi trắng nhờn. Hạt tiêu giã nhỏ 40g, chè hương cũ 40g, riềng tươi giã nhỏ 40g. Ngâm vào một lít rượu tốt từ năm tới mười ngày. Người lớn mỗi lần uống một muỗng cà phê, trẻ em giảm liều lượng. Cách một giờ uống một lần.

Phong độc phát ra ở bàn tay, bàn chân lở ngứa: Hạt tiêu, muối ăn lượng bằng nhau, tán mịn, trộn giấm, bôi vào chỗ lở ngứa sau khi đã rửa sạch.

Đau tim, người mệt, hồi hộp: Tiêu sọ 2g, đậu xanh 20g. Tán mịn, trộn đều, ngày dùng 4 – 6g, chia hai lần.

Chứng bướu cổ: Lá hồ tiêu giã nát với ít muối, đắp vào. Kết hợp uống nước lá kim ngân nấu thay chè.

Răng đau nhức: Tiêu sọ, gừng khô, lượng bằng nhau, sao khô, tán mịn, xỉa vào răng.

Tiêu chảy, ăn vào nôn ra: Hạt tiêu, bán hạ chế, hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Dùng nước gừng chiêu thuốc, viên bằng hạt đậu. Ngày uống 15 – 20 viên.

Quả ớt

Theo y học cổ truyền, ớt vị cay, nóng, có tác dụng tán hàn, kiện tỳ, tiêu thực, chỉ thống, thường được dùng chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, chữa đau khớp. Nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy, trong ớt có chứa một số hoạt chất như capsaicin, chất này bốc hơi ở nhiệt độ cao, gây hắt hơi mạnh.

Quả ớt

Chất capsaicin trong ớt là hoạt chất gây đỏ và nóng, chỉ có khi trái ớt chín. Chất này có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất endorphin – có tác dụng giảm đau, đặc biệt có ích cho những bệnh nhân bị viêm khớp mãn tính và bệnh đau đầu do thần kinh.

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học cho biết, khi chúng ta cắn một miếng ớt cay, vị cay kích thích mạnh, khiến não bộ bài tiết ra chất hóa học làm giảm bớt đau đớn và sinh ra một chút khoái cảm. Trong ớt còn chứa một số chất giúp máu lưu thông tốt, tránh được tình trạng đóng vón tiểu cầu, dẫn đến bệnh nhồi máu cơ tim. Ớt còn có tác dụng ngăn ngừa huyết áp cao và giảm béo.

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã chứng minh, thành phần chất cay của ớt có tác dụng lan tỏa và đốt cháy các chất béo. Khi cơ thể hấp thu chất cay từ ớt, não sẽ tăng cường hoạt động, thúc đẩy sự chuyển tải của hệ thần kinh, làm cho thận tiết ra các dịch thể. Khi thận tiết ra các dịch thể sẽ đốt cháy chất béo, vì vậy có tác dụng giảm béo.

Ớt cũng chứa một số vitamin và chất khoáng. Trong 100g ớt có chứa 198mg vitamin C, và các vitamin B1, B2, beta-carotene (tiền vitamin A), canxi, sắt, axit citric, axit malic. Lượng vitamin C phong phú trong ớt có thể khống chế xơ cứng động mạch và làm giảm cholesterol. Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy, ớt có tác dụng sát trùng, chống ôi thiu, chống lạnh và chứa một số dưỡng chất nên giúp con người đề phòng và chữa một số bệnh.

Ngoài ra, theo một bài báo được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu ung thư, chất capsaicin trong ớt có thể chống ung thư tiền liệt tuyến. Nghiên cứu mới khẳng định, capsaicin có thể là nền tảng cho điều trị chống ung thư, được thí nghiệm trên chuột và người có tế bào ung thư tuyến tiền liệt. Họ ăn một lượng ớt khoảng từ ba đến tám trái. Và điều đáng chú ý là capsaicin làm tăng một số loại protein có thể làm tiêu hủy tế bào, cũng như làm giảm tế bào ung thư.

Khi ăn vào, capsaicin khiến chúng ta có cảm giác nóng trong miệng và cổ họng. Khi bị kích động bởi ớt cay, những cơ quan đó truyền tín hiệu về não khiến người ăn có cảm giác cay. Não phản ứng lại cảm giác nóng bằng cách làm tăng nhịp tim, tăng mồ hôi và sẽ giải phóng endorphin. Capsaicin cũng là một thành phần làm tiết chế da cục bộ để chống đau. Capsaicin được làm dưới dạng kem, thuốc mỡ, thỏi, giấy thấm, gel, lỏng hoặc lotion, được sản xuất bởi nhiều hãng.

Điều cần lưu ý, ớt tuy có nhiều tác dụng nhưng chỉ nên ăn ớt với một lượng vừa đủ, nếu ăn nhiều sẽ có hại cho sức khỏe. Các chất cay trong ớt sẽ kích thích niêm mạc dạ dày, gây đau bụng, đi ngoài và chảy máu nếu bị trĩ. Người bị viêm họng mãn tính, viêm loét dạ dày, người mắc bệnh trĩ không nên ăn ớt, hoặc ăn hạn chế.

Đại hồi

Cây đại hồi, hay đại hồi hương hoặc bát giác hồi hương hoặc đơn giản chỉ là cây hồi, danh pháp khoa học Illicium verum, là một loài cây gia vị có mùi thơm tương tự như cây tiểu hồi, thu được từ vỏ trái hình sao của Illicium verum, một loại cây xanh quanh năm có nguồn gốc ở Trung Quốc và đông bắc Việt Nam.

Cây đại hồi

Các trái hình sao được thu hoạch ngay trước khi chín. Nó được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực Trung Hoa và ở mức độ ít hơn ở vùng Đông Nam Á và Indonesia. Đại hội là một thành phần của ngũ vị hương truyền thống trong cách nấu ăn của người Trung Quốc. Nó cũng là một thành phần được sử dụng trong nấu nước dùng cho món phở của người Việt Nam.

Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là trái, đôi khi cũng dùng lá. Các bộ phận đều chứa tinh dầu, nhưng trong trái có hàm lượng cao hơn. Trái hồi tươi chứa 3-3,5% tinh dầu, trái khổ 10-13%, trong khi lá tươi chỉ có 0,5%.

Có thể để nguyên trái hồi để bảo quản và sử dụng, hoặc chiết lấy tinh dầu bằng phương pháp cắt kéo hơi nước. Tinh dầu hồi không màu hoặc màu vàng nhạt, chứa 85-95% anethol (hoạt chất tác dụng chính). Giá trị của tinh dầu phụ thuộc vào tỷ lệ của hoạt chất này.

Trong thực phẩm, trái hồi là một thành phần trong bột húng lìu với cách làm như sau: Trái hồi 20g, quế chi 16g, đinh hương 8g, thảo quả 2g. Tất cả đem sấy khô hoặc rang giòn (không để cháy khét), nghiền nhỏ (khi còn nóng), rây lấy bột mịn, cho bột vào lọ đậy nút kín. Thức ăn có gia vị húng lìu càng tăng thêm hương vị, làm ăn ngon, dễ tiêu.

Y học hiện đại dùng trái hồi làm thuốc lợi trung tiện, giúp tiêu hóa, tăng tiết sữa, giảm đau trong bệnh dạ dày, đau ruột, thấp khớp, chữa nôn mửa, bụng đầy trướng, suy nhược thần kinh, tắc sữa. Dạng dùng chủ yếu là tinh dầu pha trong rượu.

Y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian coi trái hồi là vị thuốc cay, ngọt, nóng, thơm, có tác dụng kiện tỳ, khai vị, giải độc, giảm đau, tiêu thực, chống nôn, diệt khuẩn. Dùng riêng, hằng ngày nhai vài cánh hồi, nuốt nước dần dần để làm thơm hơi thở và làm chắc chân răng.

Để chữa đau lưng, lấy trái hồi bỏ hạt, tẩm nước muối, sao, tán nhỏ, mỗi lần uống 6-10g với rượu, đồng thời chườm nóng bằng lá ngải cứu.

Dùng phối hợp để chữa tiêu chảy thể hàn: Trái hồi 10g, quế 10g, đại hoàng 20g, gừng tươi 25g, bạc hà bằng hay long não bột 25g ngâm trong rượu tốt để được một lít. Ngày uống hai lần, mỗi lần 25-30 giọt hòa với nước sôi để nguội. Hoặc trái hồi 40g sao vàng, cam thảo 20g nướng, mộc hương 12g, sa nhân 12g, tán bột, trộn với hồ làm viên bằng hạt bắp. Mỗi lần uống từ năm tới bảy viên.

Chữa đau tức, suyễn, toát mồ hôi: Trái hồi, ô dược, thanh bì, suyễn mỗi vị 4g, đem sao chế hồi và ô dược, tán nhỏ, uống với rượu hâm nóng và đồng tiền.

Chữa đại tiểu tiện không thông: Trái hồi 40g, hạt bìm bìm biếc 160g, sao vàng. Tất cả tán nhỏ, mỗi lần uống 4g với nước gừng.

Trong thiên nhiên còn có cây hồi núi (Illierum griffithii Hook. f. et Thoms) có chất độc không được khai thác và sử dụng làm thuốc. Ai dùng nhầm phải trái hồi núi sẽ bị ngộ độc với triệu chứng nôn mửa, đau bụng, rát họng, chân tay lạnh, chảy nước dãi. Đặc điểm khác nhau giữa trái hồi thật và trái hồi núi là:

Hồi thật: Trái thường có 8 đại (gọi là cánh) cũng có khi gặp trái có 9-12 đại, nhưng hiếm. Đại dày và đều, đầu mỗi đại có mũi nhọn ngắn và thẳng. Tinh dầu nhiều, mùi hôi rõ rệt, chứa menthol là hoạt chất tác dụng.

Hồi núi: Trái có 10-13 đại, kích thước hơi nhỏ hơn. Đại mỏng và không đều, đầu mỗi đại thuận thành mỏ hẹp, cong vào phía trong. Tinh dầu ít, mùi hôi pha long não và hồ tiêu, chứa chất độc.

Đinh hương

Loại thảo mộc này là một vị thuốc có hình dáng giống như chiếc định và có mùi thơm, vì thế nên nó được dân gian đặt tên là đinh hương. Trong y học Trung Quốc, định hướng được sử dụng để chữa lành chứng khó tiêu, nôn mửa, sát khuẩn, chống nấm và một số các bệnh khác.

Cây đinh hương

Tinh dầu đinh hương (clove) được sử dụng trong điều trị bằng xoa bóp dầu thơm. Dầu định hương được sử dụng rộng rãi trong điều trị đau răng. Ngoài ra, đinh hương còn được sử dụng để chế biến mỹ phẩm, làm gia vị. Khi nấu ăn, đinh hương có thể dùng ở dạng nguyên hay ở dạng nghiền thành bột, nhưng do nó tạo mùi rất mạnh cho nên chỉ cần lượng rất ít. Gia vị tốt cho sức khỏe làm từ đinh hương được dùng khắp cả châu Âu và châu Á cũng như được thêm vào trong một số loại thuốc lá (gọi là kretek) ở Indonesia, thỉnh thoảng ở các quán cà phê tại phương Tây. Đôi khi, đinh hương còn được trộn lẫn với cần sa.

Dưới đây là các tác dụng của loại thảo mộc quý này:

Xóa tan căng thẳng: Tinh dầu đinh hương có tác dụng kì diệu trong việc phá tan sự căng thẳng, mệt mỏi. Mùi thơm từ loại thảo dược này giúp cơ thể thư thái, hưng phấn, lấy lại sự cân bằng của cuộc sống. Sử dụng một lượng tinh dầu đinh hương vừa đủ sẽ giúp bạn ngủ ngon, có lợi cho những người có mắc bệnh mất ngủ, trầm cảm.

Thúc đẩy tiêu hóa: Đinh hương thúc đẩy các enzyme trong cơ thể, giúp tăng cường chức năng tiêu hóa. Chúng được sử dụng để chữa bệnh đau dạ dày và rối loạn tiêu hóa. Uống hỗn hợp bột định hướng trộn mật ong có hiệu quả trong việc giảm nôn mửa, đồng thời xoa dịu cơn đau dạ dày.

Đặc biệt, đinh hương hoàn toàn lành tính đối với phụ nữ có thai, chỉ cần xoa một chút dầu đinh hương pha loãng, bạn có thể đánh bay con đầy bụng khó chịu.

Chữa lành chứng đau răng: Nhắc đến đinh hương, chúng ta không thể không nhắc đến công dụng chữa đau răng hiệu quả. Chỉ cần chấm một chút tinh dầu đinh hương vào chỗ răng bị viêm nhiễm, đau nhức, sau một vài phút bạn sẽ có cảm giác tê, giảm đau, sát khuẩn hiệu quả. Chính vì thế, định hương là một thành phần để chế biến ra kem đánh răng, nước súc miệng, thuốc chữa đau răng, thuốc làm trắng răng.

Ngoài ra, mùi hương của tinh dầu này còn có tác dụng hữu hiệu trong việc loại bỏ mùi hôi răng miệng. Hòa vài giọt tinh dầu đinh hương vào nước và súc miệng hàng ngày sẽ cải thiện dần mùi hôi khó chịu ấy.

Sát khuẩn: Đinh hương có tính sát trùng rất cao. Dầu định hương được sử dụng để điều trị các vết thương ngoài da như nhiễm trùng, bầm tím, vết cắt, nấm, ghẻ, vết côn trùng đốt. Hơn nữa, loại thảo dược này còn được sử dụng để trị mụn trứng cá, dưỡng da. Dầu đinh hương khá mạnh, khi sử dụng trên da hãy nhớ pha loãng tinh dầu này.

Giảm ho: Khí hậu thay đổi khiến cơ quan hô hấp của bạn chưa thích nghi kịp thời, điều đó cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng ho kéo dài. Hãy ngậm hỗn hợp bột đinh hương trộn với vài hạt muối tinh để dập tắt các cơn ho ấy. Đinh hương có tác dụng loại bỏ đờm và vi khuẩn gây bệnh trong cổ họng vì tính kháng khuẩn rất cao.

Giảm đau xương khớp: Ngâm đinh hương, quế, gừng vào rượu trắng khoảng bảy ngày, bạn sẽ có một chai dầu xoa bóp chữa trị bệnh đau khớp hữu hiệu. Ngoài ra, bạn cũng có thể giã nhỏ hỗn hợp này rồi sao nóng và chườm lên chỗ đau mỏi, hiệu quả sẽ rõ rệt.

Bài thuốc chữa bệnh từ đinh hương:

Trị chàm lở: Dùng đinh hương giã nhỏ cho vào 100ml cồn 75% ngâm 48 giờ, bỏ xác, mỗi ngày bôi vào vùng chàm lở ba lần.

Trị lở đầu vú: Đinh hương 10 – 20 cái (nụ) tán bột mịn. Nếu lỡ khô trộn dầu (mè hoặc dầu mù u) bôi vào, nếu lỡ ướt rắc bột vào hai đến ba lần mỗi ngày.

Trị nôn, nấc cụt, trẻ em ợ sữa:

+ Đinh hương thị đế thang: Đinh hương 3g, thị đế (Tai hồng) 10g, đảng sâm 10g, sinh khương 10g, sắc nước uống.

+ Đinh hương tán: Đinh hương 3g, sa nhân 5g, bạch truật 10g, tán bột mịn mỗi lần uống 2 – 4g, ngày từ hai đến ba lần với nước ấm. Trị chứng nôn, tiêu chảy do tỳ vị hư hàn.

Trị đau do loét dạ dày tá tràng thể hư hàn:

+ Đinh hương chỉ thống tán: Liên hồ sách 10g, ngũ linh chi 6g, đương qui 10g, quất hồng 6g, đinh hương 4g, tán bột mịn trộn đều. Mỗi lần uống 3 – 6g, ngày hai đến ba lần với nước sôi ấm. Trường hợp chảy máu không dùng.

+ Đinh hương 30g, bột long cốt 300g, mẫu lệ 300g, bột mì 120g, tất cả tán bột mịn trộn đều gói thành bao 6g mỗi bao. Mỗi lần uống một bao, ngày uống hai đến ba lần với nước sôi ấm. Trường hợp loét bao tử chua nhiều uống tốt.

Kiêng kỵ: Không hư hàn không nên dùng. Không dùng với uất kim.

Thảo quả

Тhảo quả (Amomum tsaoko Crevost et Lem/Cardamom) mọc hoang và được trồng ở các tỉnh miền núi như Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Tây Bắc. Cách thu hái, sơ chế: Lựa trái chưa chín, hái về phơi hoặc sấy nhẹ lửa cho khô (thường ba, bốn ngày). Trái khô sẽ ngả màu xám nâu nhạt, nhiều nếp nhăn dọc và thường phủ một lớp phấn trắng. Khi nào dùng mới bóc vỏ ngoài lấy hạt, nếu bóc ngay sẽ mất mùi thơm.

Thảo quả

Bào chế: Dùng cám hòa với nước sôi cho dẻo, bọc thảo quả rồi nướng, bỏ xác và xơ trắng ở bên trong đi, để dành dùng. Dùng bột mì trộn với nước sôi cho dẻo, bọc thảo quả, nướng chín, bỏ vỏ lấy nhân dùng.

Thành phần hóa học: Trong thảo quả có tinh dầu chừng 1-3%. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay, dễ chịu

Tác dụng dược lý: Nước sắc 0,250,75% của thảo quả có tác dụng hưng phấn ruột cô lập của súc vật thí nghiệm.

Một số cách dùng thảo quả:

Trị sốt rét: Thảo quả nhân 4g, thục phụ tử 10g, sinh khương 3 lát, đại táo 3 quả, sắc uống.

Trị bụng đau, bụng đầy do hàn thấp tích trệ: thảo quả (nướng) 6g, hậu phác, hoắc hương đều 10g, thanh bì, bán hạ, thần khúc đều 6g, cao lương khương 6g, đinh hương, cam thảo đều 4g, sinh khương, đại táo 10g, sắc uống.

Trị tiêu hóa rối loạn do ăn uống, không tiêu, tích thực, gây vùng thượng vị đầy đau: Thảo quả (nướng) 6g, thương truật, hậu phác, trần bì, sinh khương đều 10g, cam thảo 4g, đại táo ba quả, sắc uống.

Trị miệng hôi: Thảo quả giã dập, ngậm nuốt dần.

Trị sốt rét, tiêu chảy: Thảo quả 10g, kha tử 10g, gừng, sống bảy lát, táo đen bảy trái, nước 300ml. Sắc còn 200ml, chia ba lần uống trong ngày.

Thảo quả dùng với Tri mẫu trị chứng hàn nhiệt ngược. Hai vị thuốc một âm một dương nên không có hại do thiên thắng. Thảo quả trị hàn ở thái âm, Tri mẫu trị hỏa ở dương minh.

Thảo quả và Đậu khấu, nhiều sách đều ghi là khí vị tương đồng, có tác dụng chỉ khát, ôn vị, khứ hàn. Thuốc có khí vị phù tán, do đó, bị chứng chướng ngược, dùng thuốc đều có hiệu quả.

Thảo quả vị cay, tính ôn táo, thiên về trừ hàn thấp mà ôn táo trung cung cho nên Thảo quả là vị thuốc chủ yếu để trừ hàn thấp ở tỳ vị. Ở vùng rừng núi, khí độc sương mù đều là loại âm thấp tà, dễ làm tổn thương chính khí, muốn trừ khí độc phải dùng loại ôn táo, phương hướng để thắng ấm, thấp trọc.

Thảo quả và thảo đậu khấu có điểm khác nhau: Ngày nay, tỉnh Phúc Kiến trồng đậu khấu to như quả nhăn, nhưng hơi dài, vỏ vàng nhạt, mỏng mà những cạnh nhô lên, nhân ở trong giống như hạt sa nhân, có mùi cay, thơm, gọi là thảo đậu khấu. Tỉnh Vân Nam trồng thảo quả, to như trái kha tử, vỏ đen dày, các đường gân liền nhau, nhân bên trong thô và cây hắc bốc lên giống mùi con Ban miêu.

Thảo quả chủ yếu trị về hàn thấp khí uất, sốt rét do chướng khí, dịch khí. Thảo đậu khấu chủ yếu trị về vị suy, nôn mửa, ngực đầy, bụng đau, bụng đầy.

Quế

Quế (cinnamon) được biết đến như một gia vị tốt cho sức khỏe không thể thiếu trong một số món ăn. Nhưng quế còn đem lại những lợi ích không ngờ cho sức khỏe.

Quế

Quế có hương vị ngọt, cay và mùi thơm rất đặc trưng, đồng thời là nguồn cung cấp tuyệt vời các khoáng chất như kali, canxi, sắt, mangan, kẽm và magie. Nó cũng chứa một lượng cao vitamin A, niacin, axit pantothenic và pyridoxine. Quế còn chứa chất xơ và chất chống oxy hóa tuyệt vời cho cơ thể.

Lợi ích từ quế: Giúp giảm cholesterol: Các nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ cần thêm nửa muỗng bột quế có thể giúp hạ thấp cholesterol xấu, hỗ trợ sức khỏe tim mạch của bạn.

Điều trị nhiễm trùng. Quế được biết với đặc tính chống khuẩn và vi khuẩn giúp ngăn chặn nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm khuẩn nấm. Trong thực tế, thêm quế vào thức ăn để ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây hư hỏng thực phẩm, nó như một chất bảo quản thực phẩm tự nhiên mà không gây hại cho sức khỏe con người.

Kiểm soát bệnh tiểu đường. Một số nghiên cứu cho thấy quế có thể ảnh hưởng đến lượng đường trong máu, đặc biệt rất có lợi cho những người bị tiểu đường type 2.

Quế có tác dụng chống đông máu cực tốt.

Giảm viêm nhiễm: với một muỗng bột quế mỗi ngày có thể giúp giảm viêm khớp đau và sưng tấy.

Hỗ trợ tiêu hóa: Quế giúp làm giảm chứng khó tiêu, đầy hơi và buồn nôn. Lượng chất xơ cao trong quế có thể trợ giúp cho những người bị hội chứng ruột kích thích.

Làm ấm cơ thể: Vào mùa đông, khi thêm quế vào chế độ ăn uống giúp bạn tăng nhiệt độ cơ thể để chống lại cái giá lạnh của thời tiết.

Tăng trí nhớ, Quế giúp tăng trí nhớ và khả năng nhận thức của não bộ.

Đặc tính chống ung thư. Trong quế có cả canxi và chất xơ, giúp loại bỏ dịch mật (một loại chất lỏng màu vàng xanh của gan) và có thể ngăn chặn nguy cơ ung thư ruột kết.

Lưu ý: Mặc dù quế đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ nhưng bạn cũng không nên lạm dụng, sử dụng quá nhiều quế có thể gây ra viêm các vị giác, sưng nướu răng và loét miệng do đặc tính có vị cay nóng của quế. Ngoài ra, cần lưu ý với một số người có thể dị ứng với quế.

Nhục đậu khấu

Nhục đậu khấu là gia vị tốt cho sức khỏe, xuất hiện nhiều trong văn hóa ẩm thực của người châu Á. Nhờ vào lượng chất chống oxy hóa dồi dào, nhục đậu khấu còn được dùng để chế tạo các loại thuốc làm dịu thần kinh.

Nhục đậu khấu

Theo các tài liệu cổ của y học Trung Quốc, nhục đậu khấu được dùng rất phổ biến làm hương liệu, gia vị và đặc biệt là dược liệu tăng cường khả năng sinh lý và sự hưng phấn của phụ nữ. Họ gọi nhục đậu khấu là “Gia vị tình yêu” hay “Viagra cho nữ giới”.

Cây nhục đậu khấu cho ta các vị thuốc sau:

– Nhục đậu khấu (Semen Myristicae) là nhân phơi hay sấy khô của cây nhục đậu khấu.

– Ngọc trái hoa còn gọi là nhục đậu khấu y (Arillus Myristicae hay Macis) là áo của hạt nhục đậu khấu phơi hay sấy khô.

Tác dụng dược lý của nhục đậu khấu:

Nhục đậu khấu và ngọc trái hoa đều là những vị thuốc thơm, có tác dụng kích thích. Được dùng trong cả Đông và Tây y, nhưng dùng với liều cao thì có thể gây độc. Dùng nguyên cả một hạt đã có hiện tượng độc. Sau một thời gian kích thích ngắn, có hiện tượng mệt mỏi, trì độn và ngủ gật.

Dùng ít có tác dụng xúc tiến sự bài tiết dịch vị, giúp tiêu hóa tốt, kích thích nhu động ruột, tạo cảm giác ngon, nhưng uống nhiều quá sẽ làm say tê, có khi tiểu tiện ra huyết rồi chết,

Theo Đông y, nhục đậu khấu có vị cay, tính ôn, hơi độc, vào ba kinh tỳ vị và đại trường, có năng lực ôn tỳ, sáp tràng, chỉ nôn, chỉ tả lỵ, tiêu thực, chữa lạnh bụng, đau bụng, đầy chướng. Phàm nhiệt tả, nhiệt ly và bệnh mới phát không được dùng.

Công dụng và liều dùng: Nhục đậu khấu là một vị thuốc dùng để kích thích tiêu hóa, làm thuốc kích thích chung trong các trường hợp kém ăn, sốt rét.

Dùng dưới dạng bột hay thuốc viên. Ngày uống 0,25-0,50g. Có khi dùng 2-4g. Nhưng dùng liều quá cao có thể gây độc.

Một số bài thuốc có dùng nhục đậu khấu:

Chữa kém ăn, ăn uống không tiêu: Nhục đậu khấu 0,5g, nhục quế 0,5g, đinh hương 0,2g. Tất cả tán thành bột, trộn với đường sữa 1g. Chia làm ba gói, ngày uống ba lần, mỗi lần một gói.

Thuốc giúp sự tiêu hóa, kém ăn, nôn mửa, đau bụng: Bột quế 100g, bột nhục đậu khấu 80g, bột định hương 40g, bột sa nhân 30g, bột canxi cacbonat 250g, đường 500g tán nhỏ. Tất cả trộn đều. Ngày dùng 0,5g đến 4g bột này.

Hương thảo

Hương thảo, có tên khoa học là Rosmarinus officinalis, thuộc họ Labiatae. Cây hương thảo là thảo mộc được biết đến và sử dụng từ thời cổ đại vì các đặc tính chữa bệnh của nó. Thành phần trong cây chứa các loại dầu thiết yếu như pinen, conference, limonene, flavonoid, acid phenolic, tannin, nhựa, long não, và cũng chứa axit rosmarinic có đặc tính chống oxy hóa. Thuộc tính của nó là một chất kích thích, thuốc bổ, thuốc dễ tiêu, chống co thắt, chống oxy hóa, chống viêm và chất khử trùng.

Hương thảo

Tinh dầu hương thảo có thể chống vi khuẩn và chống nấm tốt. Hương thảo được sử dụng như một loại thuốc bổ tiêu hóa cho gan. Trong cây có chất làm se do đó rất có ích cho việc điều trị tiêu chảy và làm giảm lưu lượng máu kinh nguyệt quá nhiều. Hiệu quả trong các trường hợp sình bụng và rối loạn đường ruột nói chung, cũng như trong trường hợp co thắt bụng, chóng mặt, ăn không ngon, kiệt sức.

Tinh dầu hương thảo cũng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nước hoa hoặc trong thành phần của nhiều loại kem, liniments, xà phòng và nước súc miệng, sử dụng trong hương liệu để cải thiện trí nhớ, chứng trầm cảm và trong việc làm giảm chứng đau nửa đầu.

Hương thảo sử dụng cả lá và hoa, được thu hoạch nở rộ trong mùa hè. Lá hương thảo và hoa mới thu hoạch được sấy khô sau đó để được lưu trữ trong lọ thủy tinh đậy kín để không làm mất đi hương vị đặc trưng. Hoa tươi của nó được dùng trong sản xuất các loại dầu thiết yếu.

Cách sử dụng:

Hương thảo có thể được sử dụng trực tiếp trong thực phẩm tươi sống.

Lá hương thảo xắt nhỏ pha trong nước nóng dùng làm thuốc đắp rất tốt trong trường hợp bị các vết bầm tím và bong gân. Nó còn được sử dụng để rửa tóc, kích thích nang lông phát triển trở lại, và ngăn ngừa chứng hói đầu sớm. Do có tính sát trùng, nó được chỉ định như là một chất khử trùng cho các vết thương.

Hương thảo là một loại thảo mộc không thể thay thế trong nhà bếp, được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là dùng vào trong các món ăn ở vùng Địa Trung Hải như cá, thịt và nước xốt gia vị.

Lưu ý: Không được sử dụng hương thảo với liều lượng cao, vì có thể kích thích dạ dày và ruột. Nhìn chung, hương thảo rất tốt cho sức khỏe, nhưng khi được sử dụng cho các mục đích điều trị, cần phải có sự giám sát của bác sĩ.

Lá Oregano

Cây Oregano, có tên khoa học là Origanum vulgare L, thuộc họ Labiatae, là một loại cây mọc hoang ở nơi khô ráo, nắng, độ cao lên đến 2000 m trên mực nước biển. Lá Oregano không những là một loại gia vị tốt cho sức khỏe rất độc đáo, có công dụng chữa bệnh hiệu quả.

Lá Oregano

Oregano, đặc biệt ở các nước vùng Địa Trung Hải, được biết đến và được sử dụng như là một loại gia vị tốt cho sức khỏe, tăng thêm hương vị cho các món ăn. Loại lá thơm oregano được đánh giá là loại giàu chất chống oxy hóa nhất trong số các loại thảo mộc khô. Nó cũng đi vào bữa ăn hàng ngày như một loại gia vị làm cho món ăn thêm hấp dẫn. Chỉ cần một muỗng bột lá oregano thôi cũng đã đủ cung cấp lượng chất oxy hóa tương đương với ba chén súp lơ xanh thái nhỏ.

Tính năng: Oregano được xác định có tính chất dược liệu, các thành phần thiết yếu rất giống với lá húng tây. Chất lượng của nó có thể thay đổi tùy thuộc vào thời gian, điều kiện canh tác, cách thu hoạch và bảo quản như thế nào.

Lá có thể dùng làm thuốc giảm đau, sát trùng, chống co thắt, ho có đờm, thuốc dễ tiêu và thuốc bổ, hỗ trợ tiêu hóa, làm giảm đầy hơi và chuột rút. Nó cũng là một thuốc an thần tuyệt vời.

Người ta sử dụng lá oregano và ngọn hoa vào mùa hè nở rộ. Cả lá, ngọn hoa của oregano có thể được sấy khô trong một nơi không có ánh sáng và thoáng mát, nhưng nó được khuyến khích thu hoạch nhanh chóng, vì các loại tinh dầu rất dễ bay hơi.

Lá oregano, khác với các loại thảo mộc khác, như rau mùi tây, tỏi, húng tây, húng quế, là sấy khô vẫn giữ được hương vị, thậm chí còn thơm nồng hơn.

Cách sử dụng: Dùng hỗ trợ các triệu chứng như kích thích hệ tiêu hóa, đầy hơi, tiêu hóa kém, giảm nhức đầu và cảm lạnh. Dùng lá oregano súc miệng trong các trường hợp bị viêm họng. Trong mỹ phẩm, lá oregano được sử dụng để làm sữa tắm, chất khử trùng.Tinh dầu của nó được sử dụng rộng rãi trong công nghệ sản xuất nước hoa.

Xô thơm

C cây xô thơm có tên khoa học là Salvia officinalis L., thuộc họ Húng (Lamiaceae). Xô thơm được phiên âm từ chữ Sauce “tham”, vì cây này có mùi thơm đặc trưng. Xô thơm có nguồn gốc từ các vùng Địa Trung Hải và sau được trồng khắp châu Âu và cả châu Mỹ. Ở Việt Nam đã trồng thử cây xô thơm tại Đà Lạt.

Lá xô thơm

Cây xô thơm không chỉ được dùng làm gia vị cho các món ăn chế biến từ thịt gia súc, làm nước chấm, nước sốt, pho mát mà còn có tác dụng chữa bệnh.

Từ xưa, cây xô thơm được xem là một loại thảo mộc thiêng liêng, đặc biệt người La Mã tin rằng cây xô thơm có thể chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, kéo dài cuộc sống con người. Người Trung Quốc cũng đánh giá cao giá trị của cây xô thơm, họ cho rằng xô thơm là một dược liệu có tác dụng chữa vô sinh. Trong thời Trung cổ, xô thơm cũng được gọi là “Oculus Christi” có nghĩa là Mắt của Chúa Kito. Trong suốt thời gian này, người ta cho rằng xô thơm đã được Thiên chúa ban tặng do hiệu quả đáng kinh ngạc của xô thơm khi trị bệnh cho người dân.

Hoa xô thơm có màu lông sói, xanh, kem hồng hoặc màu tím. Lá xô thơm có lông và đôi khi có thể nhìn thấy lớp dầu giữa các sợi lông trên lá của cây.

Xô thơm thường mọc ở tầm cao nên khi trồng, những người nông dân thường trồng chúng ở một độ cao nhất định để giữ được chất lượng tinh dầu chưng cất sau khi gặt hái được hiệu quả nhất.

Tinh dầu xô thơm chủ yếu được chiết xuất từ hoa và lá của cây và được chưng cất bằng hệ thống hơi nước.

Tại thời Trung Cổ, tác dụng của tinh dầu xô thơm đã được sử dụng trị liệu một số bệnh như: rối loạn tiêu hóa, các vấn đề về tử cung và kinh nguyệt ở phụ nữ. Vào thế kỷ thứ XVII, nó được ghi nhận là loại cây cỏ thuốc Nicholas Culpeper, thuộc giống cỏ thảo dược, hay còn gọi là cỏ thuốc. Sử dụng trong trường hợp chống nhiễm trùng, nó thường được kết hợp với mật ong và đun sôi với lá giấm.

Các thuộc tính chung của tinh dầu xô thơm: Cân bằng hóc môn, chống nấm, giúp tái tạo da, giúp khử mùi, sát trùng, an thần, kích thích hệ thống tiêu hóa, kích thích hưng phấn cảm xúc.

Ngoài ra, tinh dầu xô thơm còn được sử dụng trong việc trị liệu một số vấn đề sức khỏe của phụ nữ như: lão hóa da, trầm cảm sau khi sinh, thần kinh mệt mỏi, giãn tĩnh mạch, lo âu, viêm, mệt mỏi và đau cơ bắp do lao động quá sức, mãn kinh, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, viêm âm đạo.

Một số ứng dụng khác của tinh dầu xô thơm:

Ngoài ra, tinh dầu nguyên chất xô thơm còn nổi tiếng trong ngành công nghiệp sản xuất nước hoa. Nhất là ở Anh, Pháp và Maroc, loại tinh dầu này rất được ưa chuộng trong thành phần nước hoa.

Tinh dầu xô thơm cũng được sử dụng phổ biến trong công nghệ chế biến xà phòng, mỹ phẩm và các sản phẩm tẩy rửa. Nó cũng được sử dụng nhiều trong các ngành công nghiệp thực phẩm và nước giải khát.

Tinh dầu xô thơm có hiệu quả cao khi kết hợp với một số loại tinh dầu sau: Bergamot, hoa nhài, oải hương, đàn hương, cúc la mã, phong lữ, gỗ hồng mộc, ngọc lan tây, cam và tinh dầu họ cam chanh quýt khác.

An toàn khi dùng tinh dầu xô thơm: Tinh dầu xô thơm không gây kích ứng da, tuy nhiên phụ nữ trong thời kỳ mang thai không sử dụng tinh dầu này cũng như không kết hợp chung với các chất cồn như rượu, bia khi sử dụng.

Khi dùng tinh dầu xô thơm với lượng lớn, nó có thể gây cảm giác buồn ngủ. Vì thế, nên dùng số lượng vừa phải thích hợp với mục đích sử dụng.

Mù tạt

Hiếm có loại gia vị tốt cho sức khỏe nào được “ưu ái” như mù tạt, có cả một ngày riêng để kỷ niệm. Viện Bảo tàng mù tạt Quốc gia (National Mustard Museum) tại bang Alabama, Hoa Kỳ đã dành ngày thứ bảy đầu tiên của tháng Tám để vinh danh vị cay nồng của “vua các gia vị tốt cho sức khỏe” – như người Mỹ vẫn gọi.

Mù tạt

Mù tạt là tên gọi một loại thực vật ở bắc bán cầu, những hạt giống đã được tìm thấy trong các khu định cư từ thời đồ đá. Người Ai Cập đã dùng những hạt giống này trong món ăn của họ. Người Sumer tán nhuyễn và trộn mù tạt với Verjus, một loại nước ép nho. Đầu bếp Hy Lạp và La Mã sử dụng hạt giống ở dạng bột, hoặc pha với nước biển giữ vị cá thịt thơm ngon. Được trồng phổ biến hàng ngàn năm, mù tạt là gia vị tốt cho sức khỏe chính ở Châu Âu trước khi có sự trao đổi gia vị với Châu Á: phương Tây đã dùng mù tạt từ rất lâu trước khi có hạt tiêu.

Từ “mustard” (mù tạt) nguồn gốc là từ “mustarde” trong tiếng Anh có nghĩa là “gia vị”. Từ này lại có xuất xứlà “moutarde” trong tiếng Pháp. Trong đó, từ “mosto” xuất phát từ tiếng La Tinh là “mustum”, nghĩa là nước nho ép hay rượu vang chưa lên men, đó là các loại chất lỏng trộn lẫn với hạt giống mù tạt để các nhà sư người Pháp làm gia vị tốt cho sức khỏe. Những nhà sư gọi mù tạt là “ardens mustum”, có nghĩa là “đốt rượu vang”.

Có khoảng 40 loại cây mù tạt, nhưng có ba loại chính để làm gia vị là mù tạt đen, nâu và trắng. Mù tạt trắng, có nguồn gốc ở lưu vực Địa Trung Hải, được biết đến rộng rãi với màu vàng sáng, dùng trong món Hot dog. Mù tạt nâu, có nguồn gốc ở dãy Himalaya, loại mù tạt cơ bản được dùng trong các nhà hàng Trung Hoa, cả ở Mỹ và châu Âu; và mù tạt đen phổ biến ở Trung Đông và Tiểu Á, là loại có vị cay nhất, vì cần phải được thu hoạch bằng tay nên không được dùng nhiều ở phương Tây.

Tất cả các bộ phận của cây mù tạt đều ăn được, lá cây dùng chung rất ngon trong món salad khi còn non và mềm. Lá già với thân cây có thể được ăn sống như rau. Mù tạt thường được nấu với giăm bông, thịt heo muối, và được sử dụng trong món súp và hầm. Hạt mù tạt cũng được sử dụng để làm dầu thơm, và những bông hoa có thể được dùng để trang trí món ăn.

Mọi loại mù tạt đều được thực hiện với cùng một cách cơ bản. Hạt giống được làm sạch, nghiền nát, phần thân và cám được lọc ra. Tiếp tục nghiền cho đến khi đạt yêu cầu, tùy thuộc vào tiêu chuẩn riêng của từng loại. Một loại chất lỏng lạnh như bia, verjus, giấm, nước, rượu vang… được thêm vào, cùng với muối và gia vị tốt cho sức khỏe (bột nghệ, định hướng và các hương liệu khác). Tùy thuộc vào mùi vị mong muốn sẽ có mù tạt vị việt quất, mù tạt mật ong hoặc rau ngải giấm mù tạt. Trong một số trường hợp mù tạt được ninh nhỏ lửa để loại bỏ các vết nứt, sau đó làm lạnh. Có nhiều loại mù tạt được trữ trong thùng chứa lớn.

Có rất nhiều loại mù tạt trên thị trường, phổ biến nhất là loại mù tạt xanh, xuất xứ từ Nhật Bản và được dùng cho món sushi lừng danh. Ngoài ra còn có mù tạt vàng làm với nghệ và mật ong – rất thích hợp với món xúc xích nướng, mù tạt Dijon kiểu Pháp chế biến với rượu trắng cho món rau trộn, salad, hay mù tạt Meaux trộn từ giấm có vị giòn cay hoàn hảo cho món nướng và hải sản…

Không chỉ là loại gia vị tốt cho sức khỏe có lịch sử lâu đời, mù tạt còn được biết đến như một vị thuốc quý trị nhiều chứng bệnh. Người Hy Lạp cổ đại xem mù tạt là món quà mà thần sức khỏe Asclepius tặng cho con người. Họ dùng nó như một loại cao nóng thoa ngoài da, trị các vết phồng rộp. Mặc dù dễ bay hơi nhưng dầu mù tạt lại rất công hiệu trong việc chữa trị nhanh các vết rộp da khi được pha loãng hoặc đắp trực tiếp lên vùng da bị kích ứng. Chứa nhiều vitamin, và là nguồn dồi dào axit béo Omega 3, chất xơ, sắt, mangan, magie, niacin, protein, selen, kẽm và phốt pho, mù tạt còn giúp chữa bệnh hen suyễn và bệnh cao huyết áp. Các nhà khoa học đang nghiên cứu hiệu quả của mù tạt trong điều trị chứng đau nửa đầu và ngăn ngừa ung thư. Trong khi đó, công dụng kích thích tiêu hóa, giám các bệnh dạ dày cũng như triệu chứng viêm khớp, từ lâu đã được con người công nhận. Ngoài ra, mù tạt còn giúp làm lành các vết cắn của bọ cạp, rắn rết… hoặc chữa đau nhức. 

Cách dùng mù tạt: Thông thương, người đầu bếp không trọn mù tạt với nước nóng mà trộn với chanh hoặc gián, vị sẽ ngon hơn rất nhiều. Đó là do trong mù tạt CÓ Các enzyme tạo mùi, dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao.

Mù tạt có thể dùng làm mặt nạ dưỡng da. Một lớp mỏng mù tạt vàng sẽ làm dịu và mềm mại hơn làn da mát. Nhưng hãy thử nó trên một vùng nhỏ trước, để chắc ráng da bạn không bị dị ứng hay kích thích,

Mù tạt còn là chất khử mùi rất tốt. Chỉ cần thoa một lớp mù tạt vào đồ dùng đã rửa sạch, như chai lọ hay chén đĩa lâu ngày, sau đó ngâm nước ấm. Sau khi phơi khô, mùi hôi sẽ không còn.

Cũng như các loại gia vị tốt cho sức khỏe khác, mù tạt có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng, nhưng cần tránh xa nơi nóng và ánh sáng. Cách tốt nhất là để tủ lạnh, vì dầu mù tạt cùng các hương liệu và gia vị trong nó sẽ tiêu tan nhanh hơn khi không làm lạnh.

Vanilla

Vanilla hay vani được cho là một trong những loại gia vị tốt cho sức khỏe, hương liệu lâu đời và đắt đỏ nhất trên thế giới. Có mặt trong hầu hết các gian bếp, thế nhưng ít ai biết rằng ngoài công dụng góp hương cho món ăn, vanilla còn là một loại thảo dược quý hiếm.

Vanilla

Vanilla là một giống lan nhiệt đới, thân leo, xanh đậm, dày và gần như không có cuống, hoa màu vàng hoặc vàng cam, mọc thành chùm trông rất duyên dáng. Tuy nhiên, hương thơm của vanilla không được chiết từ hoa mà từ các lớp tinh thể phủ trên hạt của nó.

Trái vanilla thương phẩm ở mỗi nơi đều có đặc trưng riêng bởi hàm lượng tinh dầu, thành phần tổ hợp các chất tạo mùi và tập quán chế biến. Vanilla thường được tinh chế từ 85% vanilla – thành phần chính của vanilla thiên nhiên, 9% hydroxybenzaldehyde, phần còn lại chia cho khoảng 200 chất tạo mùi khác, tuy ít, nhưng chúng tạo ra dấu ấn riêng cho các thương hiệu vanilla.

Vanilla hiện có ba dạng chính là trái nguyên, dạng bột và tinh dầu. Hương thơm của trái vanilla sẽ mạnh mẽ và quyến rũ hơn nhờ phương pháp chế biến vanilla nguyên chất. Bạn hoàn toàn có thể tự làm vanilla nguyên chất tại gia bằng cách tách trái vanilla, lấy hạt ngâm vào rượu vodka trong vòng sáu tháng, thỉnh thoảng lắc chai cho vanilla mau lên mùi.

Vanilla có mặt trong hầu hết các gian bếp, từ các món ăn trong gia đình đến các “bếp công nghiệp” như: bánh, kẹo, thuốc lá, thậm chí là rượu và nước ngọt… đều có chút ít hương vị đặc trưng của vanilla. Ở châu Âu, vanilla được sử dụng như là một hương liệu yêu thích cho các món kem, bánh ngọt… Trong kỹ nghệ đồ uống, vanilla được dùng chung với chất có cồn hay không cồn để tạo ra các loại sản phẩm đặc biệt như rượu Vanilla Vodka, Rhum vanilla, Pepsi vanilla, Vanilla Cookies.

Vanilla không chỉ là một loại hương liệu, gia vị tốt cho sức khỏe với hương thơm quyến rũ, mà còn đặc biệt tốt cho sức khỏe của bạn. Từ thời xa xưa vanilla đã được sử dụng để điều trị một loạt các loại bệnh như loét dạ dày, khó ngủ, giảm đau, trầm cảm. Với khả năng làm thơm, vanilla thường được dùng trong điều chế dược phẩm để tạo vị thơm ngọt, giúp xoa dịu bệnh nhân, đặc biệt là trẻ nhỏ. Vanilla còn giúp cải thiện tình trạng hô hấp của trẻ sinh non bằng phương pháp xông hương vanilla cho trẻ trong lồng ấp.

Vanilla còn hứa hẹn sẽ được sử dụng trong việc phát triển các phương pháp điều trị ung thư mới. Vanilla không chỉ ngăn chặn những đột biến trong ADN của tế bào dẫn đến ung thư, mà còn dùng sự tăng trưởng của các tế bào ung thư, Vanilla còn chứa chất chống oxy hóa, đặc biệt tốt cho bệnh nhân Alzheimer, và là chất xúc tác hiệu quả giúp con người đối phó với các chứng suy nhược thần kinh.

Vanilla nhân tạo: Bằng công nghệ tái sinh hàng đầu thế giới, chất thải của bò sẽ cho ra sản phẩm vanilla ngọt ngào và thơm phức giống hệt vanilla thường, chỉ sau một giờ đồng hồ tăng nhiệt và ép chân không. Hiện dự án này đang được tiến hành. Tuy nhiên người ta sẽ chỉ sử dụng vanilla chiết xuất từ phân bò trong các sản phẩm công nghiệp như dầu gội đầu hoặc sáp thơm, chứ tuyệt đối không dùng trong ngành thực phẩm do xuất xứ không mấy “danh giá” của nó.

Đường mía

Đường là loại gia vị tốt cho sức khỏe vô cùng quen thuộc trong nhà bếp. Tuy nhiên, bạn có biết đường còn rất nhiều công dụng khác?

Đường mía

Giảm độ mặn món ăn: Ngoài tác dụng làm ngọt, đường còn có tác dụng giảm độ mặn cho món ăn. Nếu đã lỡ tay nêm canh, súp rau hơi mặn, bạn có thể thêm chút đường để món ăn bớt mặn.

Khử cay, ngứa: Sau khi băm ớt hay gọt khoai môn, tay bạn thường bị nóng rát hoặc ngứa. Hãy làm ướt tay rồi xoa nhẹ một muỗng canh đường lên tay trong khoảng một đến ba phút. Rửa lại bằng nước ấm, tay bạn sẽ hết rát và ngứa.

Để món ăn có màu sắc đẹp hơn: Với những món thịt, cá, tôm rim, bạn nên thắng đường cho vàng rồi ướp đồ ăn với đường thắng trước khi nấu. Đảm bảo món ăn của bạn sẽ có màu sắc đẹp hon.

Đắp mặt nạ: Khi đắp mặt nạ bằng dưa leo, bạn nên trộn thêm vào một chút đường, đường sẽ làm cho da của bạn mềm mại hơn.

Tẩy tế bào da chết: Đường là một chất tẩy tế bào chết tuyệt vời. Nó nhẹ nhàng lấy đi các tế bào da chết và làm mịn các vùng da thô để da siêu mềm, sáng hồng. Trộn một muỗng đường trắng hoặc đường nâu với một muỗng dầu olive (bạn có thể thêm một ít gel lô hội làm mềm da và chống viêm), cùng với một vài giọt tinh dầu thơm. Lấy một chút hỗn hợp vào lòng bàn tay. Massage nhẹ nhàng lên da theo chuyển động tròn. Để khoảng năm phút trước khi rửa. Bạn có thể sử dụng đường để tẩy da chết cho cơ thể, khuôn mặt, đôi chân.

Mật ong

Mật ong là món ăn ngon, bổ dưỡng. Bạn có thể dùng mật ong làm gia vị tốt cho sức khỏe và chế biến nhiều món ăn ngon miệng, như đùi gà nướng mật ong, cánh gà chiên mật ong, rượu mật ong, kem mật ong, trà chanh dây mật ong, thăn lợn cuộn nướng mật ong, sườn heo nướng tiêu mật ong.

Mật ong

Ngoài ra, mật ong có rất nhiều công dụng khỏe. Mật ong làm tăng sức dẻo dai của cơ thể và giúp cơ thể nhanh chóng phục hồi. Vì vậy trong thi đấu thể thao, các vận động viên thường sử dụng mật ong để tránh mệt mỏi.

Mật ong còn có khả năng sát khuẩn, làm liền sẹo nhanh chóng, có tác dụng hỗ trợ miễn dịch, giúp cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn.

Mật ong cũng tác động tốt cho các bệnh về đường tiêu hóa, đường hô hấp, ho, viêm thanh quản.

Nó cũng có giá trị cao trong thẩm mỹ, giúp lành sẹo, tốt da, đẹp tóc. Trong quá trình bào chế, vận chuyển và bảo quản, mật ong rất dễ bị ô nhiễm bởi một loại trực khuẩn nguy hiểm Clostridium botulinum. Đối với những trẻ nhỏ dưới một tuổi, do hệ thống miễn dịch trong cơ thể vẫn chưa được hoàn chỉnh, sức đề kháng kém thì nha bào này sẽ lập tức phát triển ở trong cơ ở thể trẻ, dẫn tới tình trạng trẻ bị trúng độc.

Một vài tác dụng của mật ong đối với sức khỏe:

An thần, giúp cho giấc ngủ ngon: Cách dùng: trộn từ hai đến ba muỗng mật ong với nước chanh hoặc cam vắt cùng với ít nước nguội uống vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Chữa viêm họng, viêm thanh quản, nói khàn, ho: Cách dùng: lấy từ năm đến mười nhánh tỏi bỏ vỏ cho vào lọ mật ong (70-100 ml) ngâm từ hai đến ba ngày là có thể dùng được. Uống từ ba đến bốn lần/ ngày, mỗi lần một muỗng. Khi cho trẻ em uống cần pha loãng với một ít nước, uống ba đến bốn lần 1 ngày, mỗi lần một muỗng cà phê.

Cách 2: lấy một trái chanh tươi, khía kiểu múi khế ở lớp vỏ ngoài, sau đó cho một vài muỗng mật ong sao cho ngâm đủ toàn bộ trái chanh trong một cái chén. Để khoảng từ một đến hai giờ, sau đó cắt ra ngậm sẽ đỡ họ.

Mật ong trị các vết bỏng nhẹ: Trường hợp bỏng nặng thì cần đưa đến bệnh viện để xử lý, còn những vết bỏng nhẹ, bạn có thể tự chữa khỏi một cách nhanh chóng bằng mật ong. Mật ong là chất khử trùng tự nhiên. Khi bạn bị bỏng bất ngờ, mật ong có thể giúp giảm sưng viêm và nhiễm trùng, giữ ẩm cho vết thương và giúp vết thương nhanh khỏi. Tốt nhất là nên dùng loại mật ong chưa qua chế biến. Cách dùng: Lấy một ít mật ong, bôi trực tiếp lên vết bỏng như một loại kem chống nhiễm trùng. Dùng vải sạch hoặc bằng gạc để băng lại. Thay bằng và bối mật ong hai lần/ngày cho đến khi vết thương khỏi hẳn.

Chữa viêm loét dạ dày tá tràng: Do tính chất diệt khuẩn, mật ong đặc biệt tốt để điều trị vi khuẩn H.Pylori, là một loại xoắn khuẩn gây viêm loét ở dạ dày. Do đó, mật ong được dùng để chữa lành vết loét. Cách dùng: mỗi ngày uống 10ml mật ong pha với một ly nước ấm, nhấp dần từng ngụm cho tới hết, sau một thời gian vết loét sẽ liền sẹo. Có thể trộn mật ong với bột nghệ hoặc chế thành viên nghệ mật ong để dùng.

Khả năng miễn dịch: Trong mật ong có rất nhiều chất xúc tác và khoáng chất, có thể nâng cao khả năng miễn dịch cơ thể. Cách dùng: Pha hai muỗng mật ong và 1/4 muỗng nước chanh tươi vào cốc nước, mỗi ngày uống từ ba đến bốn cốc.

Khi da bị trầy xước: Làm sạch vết thương rồi bôi mật ong lên, vết xước sẽ mau lành và không bị nhiễm trùng hay sưng tấy. Cách dùng: Khi xử lý vết thương, bôi mật ong vào chỗ đau, có thể giảm đau, chống nhiễm trùng, giúp vết thương mau lành.

Mát phổi, chống ho: Mật ong làm mát phổi và có tác dụng nhất định trong việc ngăn ngừa bị ho, nên thường được dùng hỗ trợ chữa trị lao phổi và viêm phế quản.

Bảo vệ tim mạch và máu: Mật ong có tác dụng giãn nở động mạch vành và nuôi cơ tim, cải thiện chức năng cơ tim, điều hòa huyết áp. Cách dùng: đối với bệnh nhân bị bệnh tim, mỗi ngày uống từ 50 đến 140g mật ong trong một đến hai tháng, bệnh tình sẽ thuyên giảm.

Người bị cao huyết áp: Mỗi ngày uống nước pha mật ong hai lần vào buổi sáng và tối hoặc pha theo công thức: một muỗng mật ong + nước ép gừng.

Người bị xơ cứng động mạch: Nên thường xuyên dùng mật ong.

Thúc đẩy hấp thu canxi: Các chuyên gia của trung tâm dinh dưỡng nhân loại Bộ Nông Nghiệp Mỹ đã phát hiện ra mật ong có thể phòng chống bệnh loãng xương do mất canxi ở phụ nữ trung niên và cao tuổi, đó là vì chất Bo (B) của mật ong tăng khả năng hoạt tính hoóc môn nữ. Cách dùng: một muỗng mật ong uống cùng với lượng thích hợp thuốc bổ sung canxi để tăng tỉ lệ hấp thu canxi.

Chữa mất ngủ: Mật ong có tác dụng giải tỏa căng thẳng thần kinh, và có dụng nhất định trong giảm đau. Các loại đường glucose, vitamin, khoáng chất canxi, phốt pho đều có chức năng điều tiết thần kinh, giúp ngủ ngon. Cách dùng: Người bị suy nhược thần kinh trước khi đi ngủ uống một muỗng mật ong.

Bảo vệ gan: Mật ong có thể cung cấp năng lượng chuẩn bị cho quá trình thay thế đào thải của gan, kích thích tổ chức gan tái sinh, hồi phục các tổn thương. Cách dùng: Người bị viêm gan mãn tính hoặc yếu gan thường xuyên uống mật ong sẽ có hiệu quả.

Giảm mệt mỏi: Các chất đường trong mật ong được cơ thể hấp thu rất nhanh, cải thiện tình trạng dinh dưỡng trong máu. Cách dùng: uống một ly mật ong, sau 15 phút sự mệt mỏi sẽ bị tiêu trừ. 

Người làm việc trí óc hoặc thức đêm, uống mật ong để tinh thần được hồi phục. Vận động viên trước khi thi đấu 15 phút uống mật ong có thể giúp nâng cao thể lực.

Chữa viêm loét dạ dày: Mật ong trộn với bột nghệ đen (thể hàn), nghệ vàng (thể nhiệt). Ăn liền trong một đến hai tháng sẽ cho kết quả tốt.

Giấm gạo

Giấm là loại gia vị tốt cho sức khỏe không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, nó được sử dụng rất rộng rãi trong việc chế biến thực phẩm và làm đẹp. Giấm được hình thành bởi chất keo thấm, axit hữu cơ, đường hoàn nguyên và các loại aldehyde, ketone, trong đó axit axetic chiếm từ 3 – 5% có tác dụng sát khuẩn, có thể làm sạch những vết bẩn bề mặt, ngoài ra nó còn chứa axit hữu cơ, mỡ, canxi, phốt pho, sắt và vitamin B tốt cho da, do đó cũng có công dụng làm đẹp.

Giấm gạo

Căn cứ vào nguồn gốc, chúng ta có thể chia giấm làm nhiều loại:

Giấm làm từ rượu vang: Đó là một dung dịch có màu vàng hoặc màu đỏ tùy theo chất lượng rượu vang được sử dụng, có một hương vị đặc biệt nhờ chủ yếu các chất este có chứa trong rượu vang.

Giấm làm từ bia hoặc từ mạch nha.

Giấm làm từ táo, vang lê hoặc từ các loại nước hoa trái khác đã lên men. Các loại giấm này thường có màu vàng nhạt,

Giấm làm từ cồn, không có màu ở trạng thái tự nhiên.

Giấm làm từ các loại hạt, mứt, khoai tây đã thủy phân, lactoserum.

Tác dụng của giấm:

Thực tế cho thấy, người kiên trì rửa mặt bằng nước có pha một chút giấm không chỉ làm sạch mà còn có tác dụng dưỡng da hữu hiệu.

Giấm còn có công hiệu đối với mắt. Giấc ngủ và vẻ đẹp có liên quan mật thiết với nhau, nếu mất ngủ hoặc ngủ không đủ trong thời gian dài, không chỉ xuất hiện quầng thâm xung quanh mắt mà còn sớm xuất hiện những nếp nhăn ở đuôi mắt, khiến da nhanh chóng bị lão hóa, mất đi độ sáng bóng. Đối với người mất ngủ, mỗi tối nên cho khoảng 5g giấm vào nước sạch rửa mặt, rất hiệu quả.

Giấm còn có tác dụng giảm béo, vì trong giấm giàu axit amin, không chỉ thúc đẩy phân giải mỡ trong cơ thể mà còn tăng tốc độ thay thế các loại đường để đạt mục đích giảm béo.

Dùng giấm để bảo quản thịt: Bạn dùng một cái khăn sạch, nhúng vào giấm, gói thật chặt miếng thịt. Sau đó, bạn đem gói thịt này để vào một cái tủ lưới thoáng và mát. Với phương pháp này, thịt của bạn sẽ tươi ngon trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Dùng giấm giữ gìn xoong nhôm không bị đen: Những chiếc xoong nhôm của bạn bị đen vì nước phèn hay nhựa rau cải. Bạn đã bỏ ra rất nhiều thì giờ để kỳ cọ nhưng vẫn không hết. Có một phương pháp rất đơn giản: Bạn hãy lấy nước có pha giấm cho vào xoong nồi đun sôi lên, vết đen sẽ mất dần.

Dùng giấm tẩy các vết đen trên đồng. Những vật dụng bằng đồng của bạn thường bị đen. Muốn hết, bạn hãy dùng cát thật mịn trộn với giấm đánh lên nhiều lần. Sau đó, bạn rửa sạch đi và lau khô. Bạn hãy nhớ là cát thật mịn, vì cát lộn hột sẽ làm cho đồng bị trầy.

Dùng giấm tẩy sạch nền gạch bông trắng, kính và đồ tráng men: Những đồ vật tráng men, những tấm kính hoặc nền gạch bông của bạn bị dơ bẩn, bạn có thể dùng giấm để tẩy. Đối với nền gạch bông, bạn có thể dùng giấm pha nước để lau. Còn đối với kính và đồ vật tráng men, bạn hãy dùng vải mềm nhúng với giấm và lau thật mạnh.

Dùng giấm làm tươi sáng quần áo cũ: Quần áo của bạn sau một thời gian có vẻ cũ tuy rằng vẫn còn chắc và bền. Muốn chúng tươi sáng lại, bạn hãy giặt chúng với nước có pha giấm, chắc chắn quần áo sẽ mới hơn.

Dùng giấm giữ cho quần áo không phai màu: Mới mua đồ về, bạn nên đem ngâm chúng vào nước có pha giấm trong một lúc lâu.

Dùng giấm tẩy vết rỉ sét trên quần áo: Muốn tẩy vết rỉ sét trên quần áo, bạn cũng dùng nước lã có pha giấm mà tẩy, chắc chắn rỉ sét sẽ bay mất.

Dùng giấm tẩy những vết bùn trên len: Vào mùa mưa, áo quần bạn thường bị những vết bùn do xe chạy bắn vào. Nếu là hàng vải thường, bạn chỉ có việc giặt với xà bông và nước là sạch. Nhưng nếu bùn lại bám vào áo len, bạn phải làm sao? Rất đơn giản, bạn chỉ việc lấy vải mềm hay bông gòn nhúng vào nước có pha giấm lau nhẹ lên là sạch, không cần giặt giũ.

Dùng giấm giữ hàng lụa không bị vàng: Muốn cho hàng lụa của bạn không bị vàng, khi giặt, lúc xả nước cuối cùng, bạn hãy pha vào nước một ít giấm.

Giảm ngứa: Một số loại khoai sọ, khoai môn có thể làm người gọt khoai bị ngứa tay, khiến ta rất khó chịu. Muốn hết ngứa, hãy hơ tay lên bếp lửa, hoặc rửa tay trong dung dịch nước ấm pha chút giấm chua.

Cách lựa chọn giấm: Giấm chất lượng tốt thường có độ trong, không vẩn đục, giấm có chất lượng kém thường có màu sẫm, sau thời gian sử dụng thường có cặn lắng ở đáy.

Giấm có chất lượng tốt ngoài việc ngửi thấy mùi chua của giấm còn có mùi thơm đặc trưng, giấm kém chất lượng mùi nhạt, không có vị thơm đặc trưng.

Dùng đũa chấm vào giấm và nếm thử, nếu có độ chua thích hợp, hơi có vị ngọt, nuốt vào họng không có cảm giác bị kích thích, vị thơm được giữ lại lâu trong miệng đó là giấm tốt.

Một số món dùng giấm tốt cho sức khỏe:

Giấm ngâm đậu tương: Đem đậu tương sống rửa sạch, phơi nắng, sau đó dùng bình ngâm đậu tương vào giấm để lâu năm với tỷ lệ một đậu hai giấm, đậy kín nắp bình để nơi râm mát, khoảng 15 ngày sau là dùng được. Mỗi buổi sáng dùng khoảng 10 hạt đậu, một muỗng giấm đậu, một muỗng mật ong, 400ml nước nguội uống vào lúc bụng đói. Tác dụng: Giảm huyết áp, điều tiết mỡ máu, giảm béo.

Giấm ngâm trứng gà: Lấy 180ml giấm lâu ngày đổ vào lọ miệng rộng, sau đó lấy một trái trứng gà sống rửa sạch ngâm vào trong bình. Sau một tuần, vỏ trứng bị mềm ra, chỉ còn một lớp mỏng, bóc bỏ lớp vỏ đó đi, lấy lòng đỏ lòng trắng đánh đều với giấm thành giấm trứng. Lấy 26-34ml, thêm một chút mật ong và 100ml nước ấm hòa đều rồi uống. Uống vào lúc sáng sớm, bụng đói, mỗi ngày một lần, một lần làm uống trong bảy ngày, một liệu trình từ 30-45 ngày.

Tác dụng: Trứng giấm có thể phòng trị xơ cứng động mạch, nghẽn mạch máu não, cao huyết áp, tăng cường gân cốt, tiểu đường, bệnh phong thấp, mất ngủ.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :