Home / Gia Đình / 24 bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi & cách phòng ngừa

24 bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi & cách phòng ngừa

/

Khi thời tiết giao mùa hoặc mùa dịch bệnh, sức đề kháng của trẻ nhỏ dưới 5 tuổi bị suy yếu dẫn tới những căn bệnh thường gặp, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày.

bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi

1. Đau bụng

Đau bụng có thể xuất hiện ở trẻ trong vòng từ 1-3 tuần sau khi sinh và có thể kéo dài tới 4 tháng. Để đối phó với vấn đề này, trước hết bạn hãy xoa nhẹ nhàng quanh bụng bé, sau đó bế bé lên và áp nhẹ vào bụng bạn. Hơi ấm bé cảm nhận được từ bạn sẽ giúp bé cảm thấy dễ chịu hơn.

2. Mụn sữa

Nếu như những trẻ ở độ tuổi dậy thì thường bị mụn trứng cá thì trẻ nhỏ lại thường bị mụn sữa. Nếu bé yêu của bạn bị mụn sữa, bạn nên vệ sinh sạch sẽ cho bé bằng nước ấm. Bạn không cần dùng thuốc và cũng không phải quá lo lắng vì mụn sữa sẽ tự hết sau vài tuần.

3. Khô da

Trẻ đã quen với môi trường nước trong nhiều tháng trong bụng mẹ vì vậy trẻ có thể bị tróc da sau khi sinh. Tình trạng khô da có thể xảy ra ở toàn cơ thể trẻ. Song bạn không nên bóc những vảy đó vì chúng sẽ tự bong. Bạn nên dùng khăn và nhẹ nhàng lau lên da bé hàng ngày và sử dụng kem dưỡng ẩm tự nhiên không mùi.

3. Cứt trâu

Chúng trông giống như những mảng gàu dày bám vào da đầu bé. Để đối phó tình trạng này bạn có thể xoa nhẹ lên đầu bé một chút dầu ôliu trước khi tắm cho bé. Nó sẽ có tác dụng làm mềm lớp gàu. Sau đó bạn gội đầu cho bé bằng xà phòng riêng và dùng lược mềm dành cho trẻ em chải nhẹ lên đầu bé. Bạn hãy kiên trì thực hiện hàng ngày vì có thể phải mất thời gian để điều trị dứt điểm hiện tượng cứt trâu.

4. Chàm

Nếu bé nhà bạn bị chàm, bạn nên cho bé khám bác sĩ. Cần lưu ý rằng chàm có thể là do xà phòng bạn dùng để giặt quần áo cho bé hoặc do nước hoa. Vì vậy bạn không nên dùng xà phòng có hương thơm để giặt quần áo cho bé.

5. Tưa lưỡi

Nếu bé bị tưa nhẹ bạn nên dùng gạc đánh tưa và nước muối sinh lý vệ sinh cho bé ngày 2 lần. Nếu bé bị nặng hơn bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ. Tuyệt đối bạn không được dùng mật ong và chanh để đánh tưa lưỡi cho bé vì trong mật ong có nhiều vi khuẩn không tốt cho bé.

Mẹ bé không nên tìm mọi cách để cạo sạch đi những đốm trắng này cho bé, vì bé còn quá nhỏ nên có thể khiến bé bị chảy máu lưỡi. Ngoài ra, nếu bạn dùng gạc hoặc khăn xô chà xát mạnh, có thể gây tổn thương niêm mạc lưỡi bé.

6. Hăm

Bạn nên để thoáng (không nên quấn tã) và làm sạch vùng da bị hăm nhiều lần (3-5 lần mỗi ngày) bằng nước ấm, sạch và dùng loại khăn lau chất liệu cotton mềm mịn, dễ thấm. Lau sạch và khô vùng bẹn và mông sau khi bé đi tiểu hoặc đại tiện. Bôi thuốc Bepanthen theo hình quần đùi ngày 2-3 lần/ngày sau mỗi lần vệ sinh.

Không dùng phấn rôm thoa lên vùng hăm của trẻ vì sẽ làm lỗ chân lông bít lại, gây kích ứng nặng hơn. Mặc loại quần rộng, chất liệu mỏng, dễ thấm nước.

7. Nôn trớ

Khi trẻ bị nôn trớ mà không kèm theo ho, sốt, co giật, tiêu chảy… nôn trớ xong trẻ lại ăn được bình thường thì các bạn cần chia nhỏ bữa ăn trong ngày, ăn ít một nhưng ăn nhiều bữa. Khi trẻ nôn đột ngột, ngoài nôn còn kèm theo các dấu hiệu khác như sốt, ho, tiêu chảy, các bà mẹ phải nhanh chóng đưa trẻ đến gặp bác sĩ. Xử trí nhanh khi trẻ bị sặc do nôn trớ:

  • Đặt trẻ nằm nghiêng, bế trẻ đầu cuối thấp, mông cao.
  • Vỗ nhẹ vào lưng trẻ.
  • Vệ sinh mũi miệng trẻ.

8. Viêm rốn

  • Bạn phải thay băng rốn hàng ngày với gạc vô trùng và sát khuẩn bằng cồn 70 độ.
  • Giữ vệ sinh tốt cho bé, không để nước tiểu và phân rơi vào rốn.
  • Cần đi khám khi trẻ có biểu hiện sốt, rốn có nhiều mủ, chảy máu.

Cách thay băng rốn cho bé:

  • Đầu tiên, mẹ hoặc người thay băng rốn phải rửa sạch tay bằng xà phòng.
  • Tháo bỏ băng rốn cũ (nếu băng rốn dính chặt phải dùng nước muối sinh lý làm mềm ra).
  • Dùng bông tẩm cồn 70 độ bôi vào cuống rốn để diệt trùng. Trước tiên, bôi ở đầu cuống rốn rồi mới bôi xuống thân và chân. Nếu muốn bôi lại thì dùng miếng bông khác thấm cồn rồi làm lại theo thứ tự trên. Không nên dùng cồn i ốt vì có thể làm cháy da bụng của bé.
  • Mở một miếng gạc vuông vào chân cuống rốn, lấy phần gạc còn lại đắp lên.
  • Cuối cùng băng rốn lại bằng băng sạch quấn ngang bụng, nhưng không quá chặt và quá dày, nhất là vào mùa hè. Làm cẩn thận quy trình này sẽ giảm bớt nguy cơ bị viêm rốn cho trẻ.

9. Viêm da

Bạn nên dùng tăm bông chọc thủng những mụn mủ, lau sạch mủ. Dùng bông khô tẩm dung dịch sát khuẩn để sát khuẩn mụn mủ. Bôi dung dịch xanh methylen vào. Vẫn duy trì tắm cho bé ngày một lần. Cách phòng ngừa viêm da cho trẻ em dưới 5 tuổi:

  • Tắm rửa thường xuyên cho bé, khi tắm bạn nên chú ý những vị trí nếp lằn như nách, cổ, dùng sữa tắm có độ PH phù hợp, tốt nhất nên dùng lactacyd baby.
  • Mặc quần áo thoáng mát, thoát mồ hôi, chất liệu cotton. Quần áo của bé phải được giặt bằng dung dịch giặt xả của bé để đảm bảo an toàn cho bé.

10. Sốt

Những điều bạn nên làm khi bé bị sốt:

  • Thường xuyên đo nhiệt độ cho bé.
  • Cho bé mặc quần áo rộng, thoáng.
  • Cho bé bú mẹ nhiều hơn.
  • Lau bằng nước ấm 38 – 40 độ ở trán, nách, tay, chân.
  • Theo dõi và mang bé đi khám.

Lưu ý khi cặp nhiệt độ cho bé:

  • Với bé sơ sinh, cha mẹ nên dùng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc hậu môn. Nên sử dụng loại nhiệt kế điện tử thay vì loại thủy ngân vì nhiệt kế thủy ngân dễ bị vỡ, gãy trong quá trình sử dụng. Nhiệt kế điện tử rất dễ đọc kết quả vì phần đuôi của loại nhiệt kế này sẽ hiển thị số đo nhiệt độ, như trên đồng hồ điện tử. Phần lớn các loại nhiệt kế điện tử sẽ cho kết quả tương đối chính xác trong vòng vài chục giây đến hại phút sau đó.
  • Đo nhiệt độ ở nách: Cách này đơn giản hơn cách đo ở hậu môn nhưng nhược điểm của nó là dễ bị sai số (có thể thấp hơn nhiệt độ ở hậu môn khoảng 0,5C). Nếu muốn dùng nhiệt độ cặp nách cho bé, cha mẹ nên chú ý những điểm sau:
  • Trước khi cặp nhiệt độ, cha mẹ nên lau khô nách cho bé để nhiệt kế được tiếp xúc trực tiếp với da.
  • Kẹp đầu nhọn của nhiệt kế vào nách bé; sau đó, bạn nên giữa cánh tay đang cặp nhiệt độ của bé áp sát dọc theo cơ thể. Đảm bảo rằng, đầu nhọn của nhiệt kế nằm hoàn toàn trong nách của bé.
  • Đợi khoảng 1-2 phút trước khi bạn rút nhiệt kế ra khỏi nách bé và bắt đầu đọc kết quả. Nhiệt kế điện tử thường có dấu hiệu thông báo khi nó đã thực hiện xong nhiệm vụ.

Trường hợp nên đưa bé đi khám:

  • Khóc không thể dỗ được trong vài giờ.
  • Thóp của trẻ sơ sinh phồng lên.
  • Bé họ và có nhiều dịch mũi.
  • Bé bỏ bú hoặc bú kém.
  • Bé bị co giật, tím môi, lưỡi và móng tay.

11. Ho gà

Sự phát triển trí thông minh ở trẻ nhỏ có thể bị ảnh hưởng xấu bởi những căn bệnh dưới đây. Vì vậy, cha mẹ phải nhanh chóng đưa trẻ tới viện nếu con mắc một trong những căn bệnh này.

Trẻ họ nhiều và dù đã dùng rất nhiều loại thuốc nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Có thể trẻ đã bị nhiễm virus ho gà. Căn bệnh này nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến những biến chứng như suy giảm tinh thần, phù não và nhiều biến chứng khác.

Bệnh ho gà có thể gây ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ. Vì vậy, để tránh cho con mình bị nhiễm ho gà, người lớn cần chú ý không để trẻ tiếp xúc với bệnh nhân bị ho gà hoặc người đang có nguy cơ bị nhiễm họ gà. Cần cho trẻ đi tiêm miễn dịch để bảo vệ sức khỏe.

12. Vi khuẩn bệnh lỵ

Đây là căn bệnh thường gặp ở trẻ từ 3-5 tuổi. Trẻ bị nhiễm vi khuẩn lỵ thường có triệu chứng như sốt cao, hôn mê, co giật và các triệu chứng khác. Các vi khuẩn này sản xuất độc tố, trực tiếp làm tổn thương hệ thần kinh, kích thích bộ não, thường dẫn đến tình trạng thiếu oxy não, ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ.

Để tránh trẻ bị nhiễm loại khuẩn này, người lớn cần chú ý bổ sung vitamin đầy đủ cho trẻ giúp tăng cường miễn dịch. Khi trẻ đã mắc bệnh, bạn nên chú ý đến việc bổ sung oxy để giảm các tác động của tình trạng thiếu oxy lên não của trẻ.

13. Uốn ván

Vi khuẩn uốn ván không chỉ ảnh hưởng đến phát triển cơ ở trẻ, mà còn có thể gây hoại tử mô, tổn thương cơ tim, dẫn đến tinh thần bị ảnh hưởng. Vì vậy sức khỏe thể chất và tinh thần của trẻ để giúp chống lại bệnh uốn ván rất quan trọng. Khi bị nhiễm uốn ván, điều quan trọng chính là rửa sạch vết thương, tiêm thuốc kháng độc uốn ván và làm theo chỉ dẫn của bác sĩ.

14. Bệnh tiểu đường

Nhiều nghiên cứu khảo sát gần đây cho thấy rằng, việc dư thừa chất dinh dưỡng chính là một trong những nguyên nhân gây ra căn bệnh tiểu đường ở trẻ nhỏ. Lý do dẫn đến căn bệnh này là do bài tiết không đủ insulin do rối loạn chuyển hóa glucose. Nhiều trẻ em bị bệnh này có nhiều triệu chứng hay đái dầm vào ban đêm, dễ ảnh hưởng đến sự phát triển tế bào não gây giảm trí thông minh ở trẻ nhỏ.

15. Bệnh viêm kết mạc

Viêm kết mạc hay còn gọi là bệnh “đau mắt đỏ” là bệnh do nhiễm vi khuẩn siêu vi hoặc do vô tình bị bụi bẩn rơi vào mắt. Nhìn bề ngoài, bệnh có vẻ như không nghiêm trọng, tuy nhiên trên thực tế nếu không được điều trị, các vi khuẩn hoặc virus sẽ tiếp tục tấn công lên não dẫn đến làm giảm trí thông minh.

16. Bệnh đái dầm ở trẻ

Chứng đái dầm là rối loạn thói quen thường gặp nhất ở trẻ nhỏ. Chứng bệnh này thường xảy ra vào ban đêm. Ở tuổi lên 5, đa số trẻ em đã biết giữ được mình khô ráo cả ban ngày lẫn ban đêm. Nhưng nếu khi lên 7 tuổi trẻ vẫn bị đái dầm thì có thể coi là bất thường và có thể do trẻ bị căng thẳng về mặt tâm lý tình cảm. Tình hình sẽ trở nên tốt hơn nếu trẻ hết căng thẳng.

Thực tế, các bậc cha mẹ nếu thấy con mình có những biểu hiện của chúng này thì nên đưa trẻ đi khám về thân thể trước xem có phải vì nguyên nhân về mặt sinh lý không. Rồi sau đó mới đưa đến gặp bác sĩ tâm lý để có phương pháp trị liệu.

Điều quan trọng nhất vẫn là sự quan tâm của bố mẹ đối với trẻ; nên giúp đỡ trẻ qua những lúc khó khăn, đừng trừng phạt trẻ; không nên đổ lỗi cho trẻ, mà ngược lại nên giúp trẻ hiểu biết, có trách nhiệm để trẻ có thể tự làm được những việc cần thiết.

Nếu trẻ cố gắng thức giấc, tự đi tiểu, hay đêm nào không bị đái dầm, thì bạn nên khen ngợi trẻ. Phương pháp này có thể giúp trẻ khỏi hẳn đái dầm, tỉ lệ lên đến 25% và giúp trẻ có thể tự kiểm soát được đái dầm khoảng 75%. Để khắc phục chứng đái dầm ở trẻ, cha mẹ cần lưu ý một số vấn đề sau:

  • Đái dầm không phải do lỗi của trẻ, vì thế cha mẹ không nên mắng mỏ, chế giễu hay chê bai trẻ.
  • Nên khuyến khích và khen ngợi trẻ khi mà trẻ tự chủ được và không đái dầm.
  • Các biện pháp như giới hạn uống nước trước khi đi ngủ và đánh thức trẻ dậy để đi tiểu trong đêm cũng rất tốt. Phương pháp dùng băng thấm và máy reo để trị đái dầm tức là máy sẽ reo khi tấm trải giường bị ướt, thành công trong một số trường hợp nhưng không nên áp dụng cho trẻ con dưới 7 tuổi.
  • Cách đối phó tốt nhất với chứng đái dầm là xem nó như một tình trạng chậm phát triển hơn là một căn bệnh, và không dồn sự chú ý quá nhiều vào trẻ.

17. Bệnh táo bón

Bố mẹ hãy khuyến khích bé một cách tích cực ngay khi trẻ cảm thấy muốn đi tiêu. Nên tắt tivi, cất các loại đồ chơi đang thu hút trẻ, để trẻ tập trung vào chuyện đi tiêu. Bố mẹ cần tinh ý nhận biết giờ quen đi tiêu trong ngày của trẻ để kịp thời động viên con. Bồn cầu dành cho trẻ cần vững chắc, có chỗ tựa cho bàn chân, giúp trẻ cảm thấy vững chắc và an tâm mà rặn. Thời điểm đi tiêu tốt nhất cho trẻ là sau bữa ăn, vì quá trình ăn kích thích ruột tăng nhu động, dễ đi phân.

Khi bé đi học, mẹ cần theo dõi việc đi tiêu của con qua việc hỏi thăm cô giáo và quan sát khi trẻ ở nhà. Cần hỏi xem cảm giác của trẻ sau khi tiêu xong để biết cách phối hợp cùng nhà trường tìm ra giải pháp thích hợp.

Trong nhiều nguyên nhân, khoảng 10% trẻ bị bón bởi các nguyên nhân thực thể. Trẻ có thể mắc các bệnh đại trực tràng (hẹp hoặc phình đại tràng bẩm sinh), bệnh lý về thần kinh hoặc ống thần kinh (những sắc tố bất thường vùng xương cụt). Cần điều trị dứt nguyên nhân thực thể mới dừng được chứng táo bón.

90% trường hợp trẻ bị táo bón do các nguyên nhân cơ năng. Có thể trẻ chưa hoàn thiện cơ chế bài xuất phân, do chế độ dinh dưỡng chưa cân bằng (ít rau, nhiều thịt, thiếu nước), và phần lớn là do tâm lý nín nhịn của trẻ. Đứa trẻ một khi bị táo bón vài lần, đi phân cứng phải rặn đau, chảy máu, đổ mồ hôi, cả cơ thể gồng lên… thì sau đó mỗi khi muốn đi tiêu, thường có thái độ né tránh. Bố mẹ có thể quan sát cử chỉ trốn né ở trẻ như: bắt chéo hai chân cố cho qua cơn buồn, gồng cứng người, trốn vào một góc, hoặc bấu víu mẹ. Nếu bố mẹ không tinh ý phát hiện sớm thái độ nín giữ của trẻ, việc điều trị càng khó khăn hơn. Bởi mỗi lần nín chịu, lượng phân đưa xuống ruột thêm ứ đọng, khô cứng, càng làm cho lần đi tiêu sau khó và đau hơn. Điều này càng khiến trẻ rơi vào tâm lý bất ổn; nếu không có sự can thiệp của bố mẹ, bác sĩ, trẻ có rất nhiều nguy cơ bị nứt hậu môn do bón nặng, són phân, cơ thể chậm phát triển, nguy hiểm nhất là căn bệnh bón mãn tính vê sau.

18. Rôm sảy ở trẻ vào mùa hè

Trẻ bị rôm sảy vào mùa hè không phải là ít. Rất nhiều trẻ, dù cha mẹ có ý thức cho con ăn uống đồ mát để không bị rôm nhưng lại có thể mắc phải sai lầm là giữ con quá kỹ, khiến cơ thể con không được thoáng khí, dẫn đến viêm da và nổi mụn như rôm.

Vào hè, để đề phòng rôm sảy cho con, các mẹ cần lưu ý điều quan trọng nhất là luôn để trẻ ở nơi thoáng mát, tránh nóng nực, ngột ngạt, cho trẻ mặc quần áo thoáng khí, thoát mồ hôi. Tránh cho trẻ ra ngoài vào những giờ nắng gắt từ 10 giờ đến 15 giờ, nếu cần ra ngoài vào lúc đó thì phải đội nón mũ rộng vành, mặc áo che kín da cho trẻ. Tắm rửa hàng ngày bằng nước mát cho da dẻ luôn sạch sẽ, các lỗ chân lông được thông thoáng. Cho trẻ ăn chế độ ăn uống hợp lý, đủ lượng nước, có nhiều vitamin, hạn chế các đồ ăn có nhiều đường. Nếu con bị rôm sảy, cha mẹ có thể áp dụng một số cách thức sau để con dễ chịu hơn và các nốt ngứa mau biến mất hơn:

  • Tắm hàng ngày cho con bằng một số loại lá hoặc quả như mướp đắng, lá rau má, sài đất, canh giới… vì các loại thảo dược này có tác dụng làm mát da rất tốt. Tránh sử dụng các loại xà phòng hay sữa tắm có độ PH không phù hợp với da của bé. Mẹ cũng có thể cho bé tắm bằng nước trà xanh, hoặc nước chanh.
  • Cho trẻ uống đủ nước, có thể uống nước sắn dây, nước sài đất, đỗ đen, quả cam, chanh.
  • Hạn chế các loại nước có nhiều đường.
  • Cho trẻ ăn đủ vitamin.
  • Tránh làm trầy xước các vết rôm sảy, bởi vì khi bị trầy xước da, dễ dẫn đến nhiễm trùng da.
  • Bạn cũng có thể giã nát hạt của cây thì là trộn lẫn với dầu dừa và thoa lên da trẻ, để trong vòng 1 giờ thì tắm lại với nước. Trộn bột gỗ của cây đàn hương với nước hoa hồng, dùng để thoa lên da bé, cũng sẽ nhanh chóng cái thiện tình hình.

19. Bệnh ghẻ ở trẻ

  • Giữ vệ sinh da cho bé, sử dụng các loại xà bông diệt khuẩn thông dụng để phòng ngừa bệnh ghẻ.
  • Cắt ngắn móng tay, chân cho bé thường xuyên để loại bỏ ổ chứa vi khuẩn.
  • Trong các trường mẫu giáo, nhà trẻ, trường tiểu học, khi phát hiện có trẻ bị ghẻ, các thầy cô cần có các biện pháp cách ly và không cho trẻ dùng chung chăn chiếu, đồ chơi để tránh ghẻ lây lan sang các trẻ khỏe mạnh khác.

20. Bệnh nấm tóc ở trẻ

Bệnh nấm tóc chủ yếu do hai loại vi nấm sợi tơ là Microsporum và Trichophyton gây ra. Nấm có thể gây bệnh ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ em, đặc biệt từ 5-6 tuổi đến 14-15 tuổi. Tùy theo tác nhân mà biểu hiện bệnh khác nhau. Bệnh chủ yếu lây do sự tiếp xúc trực tiếp như dùng chung lược, mũ, khăn quàng. Bệnh chủ yếu lấy do sự tiếp xúc trực tiếp như dùng chung lược, mũ, khăn quàng. Vì thế:

  • Nên cho trẻ sử hiện ra trẻ bị nấm dụng lược, mũ, khăn riêng và nếu phát tóc cần cách ly và điều trị kịp thời để tránh lây lan cho những trẻ khác.
  • Không nên tự ý mua thuốc về bôi lên da đầu trẻ vì dễ gây tai biến.

21. Bệnh quai bị ở trẻ

Bệnh quai bị hiện giờ vẫn chưa có thuốc đặc trị, thông thường nếu được chăm sóc, kiêng cữ tốt trẻ có thể khỏi bệnh trong vòng vài ngày nhưng nó cũng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm cho trẻ và dẫn đến vô sinh trong tương lai.

Bệnh quai bị có thể tự điều trị tại nhà, nhưng với trường hợp bé sốt cao, ói mửa, nhức đầu hoặc bộ phận sinh dục sưng to thì cần phải nhanh chóng đưa đến bệnh viện. Thời điểm giáp Tết, trời chuyển lạnh là lúc trẻ dễ mắc các bệnh liên quan đến hô hấp, trong đó có quai bị. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp do nước bọt bị nhiễm trùng khi người bệnh nói chuyện, ho hoặc hắt hơi. Bệnh thường gặp ở trẻ em lứa tuổi 5-14.

Quai bị là bệnh viêm tuyến mang tai, thường do 2 nguyên nhân: do siêu vi và do vi trùng. Với các trường hợp do siêu vi thì không cần phải đến bệnh viện điều trị, bệnh sẽ tự khỏi trong vòng 5 đến 7 ngày. Trong trường hợp này, bạn có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt tại nhà.

Với những trường hợp quai bị do vi trùng, bé có biểu hiện sốt cao, ói mửa, nhức đầu hoặc bộ phận sinh dục sung to thì cần phải đến bệnh viện điều trị càng sớm càng tốt. Nếu không được điều trị sớm, bé có thể xảy ra một số biến chứng như viêm não – màng não, viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng. Tình trạng viêm tinh hoàn có thể dẫn đến teo tinh hoàn và một số ít trong đó có khả năng dẫn đến vô sinh.

Hiện nay, chưa có một loại thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh quai bị nên ngoài việc đưa ngay trẻ đến cơ quan y tế để kiểm tra, cha mẹ cần lưu ý:

  • Cần cho trẻ một chế độ nghỉ ngơi hợp lý: không cho trẻ vận động nhiều, đặc biệt trong trường hợp trẻ sưng tinh hoàn thì trẻ cần được nghỉ ngơi tuyệt đối.
  • Chế độ dinh dưỡng: không kiêng cữ, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ, thông thường các bé bị quai bị ăn uống rất khó khăn, cần phải chọn thức ăn mềm, dễ nuốt, nhiều chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng cho cơ thể.
  • Nếu trẻ sốt hoặc quá đau, cha mẹ có thể cho trẻ uống thuốc giảm sốt.
  • Cho trẻ uống nhiều nước.
  • Không cho trẻ ra ngoài để tránh gió, nên giữ trẻ trong nhà cho đến khi vùng sưng tấy có dấu hiệu giảm. Trẻ mắc bệnh không cho đến trường và các khu vực vui chơi công cộng vì có thể lây bệnh cho những bạn khác.
  • Vệ sinh cá nhân và tẩy uế sát trùng các chất dịch tiết ra.
  • Tránh tự ý bôi hoặc đắp, phun những loại thuốc dân gian ở tuyến mang tai đề phòng nhiễm độc.

Biện pháp phòng ngừa bệnh quai bị ở trẻ:

  • Tránh cho trẻ tiếp xúc với bệnh nhân bị quai bị.
  • Cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm vắc xin chủng ngừa. Những bé từ 12 tháng tuổi trở lên có thể tiêm ngừa bệnh này. Tuy nhiên, không phải cứ chích ngừa là sẽ phòng được bệnh. Trên thực tế, việc chủng ngừa chỉ có thể phòng bệnh được khoảng 80% nên sau khi chích ngừa vẫn cần có ý thức phòng bệnh.

22. Bệnh ngọng cho trẻ

Nói ngọng là tình trạng xảy ra ở một số trẻ, xuất phát từ nhiều nguyên nhân như cấu trúc hàm, răng, lưỡi… Đa phần, việc nói ngọng sẽ dần cải thiện theo thời gian, nhưng có những trường hợp trẻ sẽ ngọng đến lúc lớn lên. Ngay khi phát hiện trẻ nói ngọng, cha mẹ cần giúp trẻ chỉnh sửa ngay để tránh kéo dài.

Tập chữa ngọng bằng hệ thống bài tập, dựa trên 4 nguyên tắc chính:

  • Thời gian của các bài tập phải ngắn: do sự tập trung vào bài tập của trẻ hạn chế. Nếu bài tập dài sẽ làm trẻ rất chóng mặt, do đó khả năng tập trung bằng tai, trẻ nghe âm thanh đúng của âm được luyện tập bị giảm sút. Vì vậy, thời gian bài tập chỉ nên khoảng 2-3 phút. Tuy nhiên muốn tập tốt phải tập nhiều lần trong ngày (có thể từ 20 – 30 lần/ngày).
  • Giám sát bằng tai nghe: thường trẻ ngọng không có ý thức rằng mình đã phát âm sai, do đó bạn cần phải luyện tập cho trẻ cách phân biệt thế nào là âm đúng.
  • Sử dụng các âm bổ trợ: thực tế là các mô hình phát âm sai thường cố định rất vững chắc và không thể phá vỡ bằng cách trình bày giản đơn cho trẻ cách thức cấu âm đúng. Vì thế khi tập bạn phải cho trẻ phát âm những cấu âm mà trẻ đã biết là đúng và có vị trí cấu âm tương tự với âm luyện tập. Ví dụ khi tập sửa âm gió, ta sử dụng âm bổ trợ “t”, trong tập âm r” sử dụng âm bổ trợ “đ”… Âm bổ trợ được chuyển dần từng bước sang âm luyện tập.
  • Dùng sức tác động tối thiểu gồm tiết kiệm cử động và sức trong khi cấu âm. Cần thiết lúc bắt đầu luyện tập một âm mới phải phát âm nhẹ, khẽ, không cần sức để cho âm đó không khác thường khi nói và được sát nhập nhanh chóng với các âm khác.

Giai đoạn đầu tập luyện, cha mẹ nên ngồi cùng các con khi giáo viên hướng dẫn thì mới có thể tập đúng cho trẻ khi ở nhà. Ngọng là một bệnh có thể chữa được vì thế bạn nên phải phát hiện sớm để hướng dẫn trẻ khắc phục kịp thời, tránh những thiệt thòi cho con trước khi đến trường.

23. Bệnh còi xương ở trẻ

  • Trong thời gian có thai và cho con bú, người mẹ nên dành thời gian tắm nắng, đi dạo ngoài trời. Nên ăn uống hợp lý, chú ý thực phẩm giàu vitamin D, canxi để phòng tránh còi xương sớm cho trẻ từ trong bào thai và trong những tháng đầu sau đẻ.
  • Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh, bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu, sau đó cho ăn bổ sung. Chú ý cho ăn dầu mỡ, thực hiện tô màu bát bột. Hằng ngày phải cho trẻ tắm nắng 5-10 phút để có đủ vitamin D.
  • Bổ sung vitamin D 400 đơn vị/ngày cho trẻ đẻ non, đẻ thấp cân. Một trong những biện pháp phòng bệnh còi xương là tăng cường vitamin D vào thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em.

24. Bệnh viêm não cấp ở trẻ

Viêm não cấp là tình trạng viêm cấp tính não bộ, bệnh có tỷ lệ tử vong và di chứng rất cao, nguyên nhân do một số loại virus gây ra. Virus có thể xâm nhập vào não bộ qua đường máu (do muỗi chích), theo đường tiêu hóa (do virus đường ruột) hoặc theo đường hô hấp và gây viêm não cấp.

Để phòng ngừa viêm não cấp, chúng ta cần diệt muỗi, ngủ màn, bảo đảm vệ sinh khi ăn uống cũng như trong sinh hoạt. Hiện nay ở nước ta mới chỉ sản xuất được thuốc chủng ngừa viêm não Nhật Bản. Trẻ có thể bắt đầu chủng ngừa viêm não Nhật Bản từ 12 tháng tuổi. Điều cần lưu ý là chủng ngừa viêm não Nhật Bản chỉ có thể ngừa được viêm não Nhật Bản, chứ không thể ngừa được các thể viêm não do nguyên nhân khác.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :