Home / Gia Đình / 22 điều cần lưu ý về tình dục trong tình yêu vợ chồng mới cưới

22 điều cần lưu ý về tình dục trong tình yêu vợ chồng mới cưới

/

Thế nào là tình dục an toàn? Những điều quan trọng cần lưu ý dành cho các cặp đôi vợ chồng mới cưới để cuộc sống hạnh phúc, mặn nồng, thăng hoa.

Những điều cần lưu ý về tình dục trong tình yêu

1. Làm thế nào vệ sinh phần dưới thân thể?

Mép ngoài âm hộ của nữ có nhiều nếp nhăn, thường có tuyến mồ hôi, tuyến mỡ da và chất phân tiết của âm đạo. Phía trước âm đạo có niệu đạo, phía sau có hậu môn, dễ nhiễm bệnh, cho nên phải chú ý vệ sinh bên ngoài âm hộ. Nói chung mỗi ngày trước khi đi ngủ nên vệ sinh một lần, thời gian hành kinh nên mỗi ngày vệ sinh hai lần vào buổi sáng và tối. Nếu bạn không muốn có thai, mỗi lần sau khi sinh hoạt tính dục nên vệ sinh phần ngoài âm hộ và đi tiểu để đề phòng nhiễm bệnh hệ thống tiết niệu; nếu bạn muốn có thai, sau khi sinh hoạt tính dục, tạm thời chưa lau rửa, đợi sáng hôm sau hãy lau rửa sạch sẽ, bởi vì sau khi sinh hoạt tính dục, nếu bạn đứng lên lau rửa, có khả năng tinh dịch thoát ra ngoài.

Nữ khi vệ sinh phần thân dưới, tốt nhất là dội rửa, từ phía trước đến phía sau, tức là rửa niệu đạo, bộ phận ngoài âm hộ, rồi rửa vùng xung quanh hậu môn. Phạm vi rửa nên rộng, rửa xong lau khô.

Đối với nam, tuy không có bạch đới, nước tiểu,… thấm ướt bên ngoài bộ phận sinh dục, nhưng sau khi đại tiện không dễ dùng giấy lau sạch hậu môn, vì không nhìn thấy phân dính. Nên biết rằng vi khuẩn bệnh như kiết lỵ, viêm ruột, thương hàn, giun kim qua phân, do hậu môn – tay – mồm truyền vào người. Không chú ý vệ sinh hậu môn, bệnh tật có thể lây nhiễm cho cả nhà; ngoài ra, vi khuẩn trong phân dính ở cửa hậu môn, cũng dễ truyền sang âm đạo của nữ trong khi sinh hoạt tính dục. Có người, vòng phía sau đầu dương vật thường cáu bẩn bị bao quy đầu che lấp mà không chú ý. Thí nghiệm trên động vật cho thấy, đưa chất cáu bẩn đó vào âm đạo của chuột cái, sẽ gây ra ung thư cổ tử cung chuột cái, cho nên chất cáu bẩn nằm dưới bao quy đầu là chất gây ung thư, nếu không thường xuyên rửa sạch, để tích lũy lâu ngày, không những có thể gây ung thư dương vật nam, mà nếu lọt vào âm đạo nữ dẫn đến ung thư cổ tử cung. Sự thật là vậy, nên chú ý.

Thực ra, nam cũng như nữ, mỗi tối nên vệ sinh một lần phần dưới thân, không làm được chỉ vì không tạo ra thói quen mà thôi. Vì vậy, nam mỗi ngày vệ sinh một lần phần dưới thân, thường xuyên chú ý vệ sinh phía trong bao quy đầu, chớ để cáu bẩn tích tụ, giữ gìn vệ sinh phần dưới thân; người vợ nên tăng cường đôn đốc việc này, làm cho mọi người đều có thói quen vệ sinh phần dưới thân thể.

2. Những dấu hiệu về sinh hoạt tình dục quá độ

Sinh hoạt tính dục không nên quá độ. Nói chung vợ chồng mới cưới hoặc vợ chồng trẻ, mỗi tuần 1 – 2 lần là vừa, vợ chồng trung niên mỗi tuần 1 lần. Ngoài ra, yêu cầu sau mỗi lần sinh hoạt tính dục (hoặc hôm sau, hoặc trong một thời gian) không thấy tín hiệu sinh hoạt tính dục quá độ, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Vậy, sinh hoạt tính dục có những tín hiệu gì? Chủ yếu có mấy tín hiệu sau đây: Mặt mày tiều tụy, người gầy, tinh thần mỏi mệt, cơ bắp đau nhức, đầu choáng mắt hoa, cơ thể rã rời, thở dốc, tim đập nhanh, mồ hôi trộm đầm đìa, biếng ăn, mất ngủ, mộng mị nhiều.

Thực ra, muốn đề phòng những “tín hiệu” nói trên xuất hiện, nên giảm số lần sinh hoạt tính dục và thực hiện “ba không” sau đây:

Một, không sinh hoạt tính dục sau khi lao động nặng. Sau khi lao động nặng, thân thể mỏi mệt, cần phải nghỉ ngơi, lúc đó không nên sinh hoạt tính dục, nếu không thể lực tiêu hao quá nhiều, tổn hại “nguyên khí, để lại tai họa không nhỏ.

Hai, sau khi tắm không nên sinh hoạt tính dục. Bởi vì ngay sau khi tắm xong, tuần hoàn máu trong cơ thể tăng nhanh, ngang bằng với vận động toàn thân, mạch máu ở da căng lên. Tình trạng đó kéo dài một thời gian sau khi tắm, nếu sinh hoạt tính dục sẽ tụ máu gấp đến bộ phận sinh dục, như vậy máu trong mạch máu đang căng từ các bộ phận khác phải dồn đến, tuần hoàn máu trong cơ thể bị mất cân bằng. Thêm nữa, sau khi tắm, cơ bắp toàn thân dãn ra, hoạt động của thần kinh ở trong “trạng thái nghỉ ngơi”. Nếu sinh hoạt tính dục tức là khiến cơ bắp, thần kinh đang ở trạng thái tĩnh bỗng chốc gia tăng tốc độ làm việc, phải tiêu hao quá nhiều năng lượng, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.

Ba, sau khi uống rượu không nên sinh hoạt tính dục. Đông y nói “say vào phòng, vì dục mà kiệt sức”. Ý của câu này là sau khi uống rượu mà sinh hoạt tính dục sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, là nguyên nhân của tình trạng già sớm, chết yểu.

Tóm lại, nên tiết chế sinh hoạt tính dục, đó là một phần quan trọng trong “đạo dưỡng sinh”.

3. Những bệnh nào có thể dẫn đến liệt dương

Bệnh liệt dương phần lớn là do yếu tố tinh thần, nhưng do nhân tố bệnh tật cũng nhiều. Theo các tư liệu có liên quan thì 10 – 15% bệnh liệt dương là do bệnh tật gây nên, thường thấy ở những trường hợp dưới đây: 

3.1. Biến chứng hệ thống thần kinh

Biến chứng não và tủy cột sống như tổn thương não hoặc tủy cột sống, bệnh Parkinson, u tủy cột sống,… đều liên quan đến sự chỉ huy của “bộ tư lệnh”, khiến cho các “mệnh lệnh” không thể kịp thời đưa ra nên dẫn đến hiện tượng liệt dương.

3.2. Biến chứng nội tiết

Biến chứng nội tiết có rất nhiều loại, trong đó có tổn thương thùy não, công năng thùy não suy kém, công năng tuyến giáp trạng quá mức bình thường,… là nguyên nhân thường thấy dẫn đến chứng liệt dương. Các chứng bệnh đó ở mức độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự chuyển hóa bình thường của chất kích thích nội tiết, khiến chất kích tố cần có để duy trì công năng tính dục của nam thấp dưới mức bình thường, gây trở ngại cho dương vật căng cứng.

3.3. Bệnh bộ phận sinh dục

Bệnh của bộ phận sinh dục nam có quan hệ chặt chẽ với tình trạng liệt dương. Một số bệnh nhân mắc bệnh ẩn tinh hoàn, tinh hoàn phát triển không bình thường, do cơ thể thiếu chất kích tố nam, nên bộ phận sinh dục bên ngoài không phát triển. Một số thì dương vật dị hình, bìu dái toàn nước hoặc phù thũng, tĩnh mạch tinh tố quá ngoằn ngoèo, bao quy đầu thắt chặt, do những nguyên nhân về tâm lý và cơ thể ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách và công năng tính dục. Ngoài ra, có những nam thanh niên có bộ phận sinh dục dị hình, cố ý tránh sinh hoạt tính dục, lâu ngày thành liệt dương.

3.4. Ảnh hưởng của phẫu thuật ngoại khoa

Có một số phẫu thuật ngoại khoa, như phẫu thuật bàng quang, hoặc tuyến tiền liệt, phẫu thuật cấy dương vật và thay thận,… có thể phá hoại công năng thần kinh chi phối hoạt động tính dục, thể hiện ở chỗ dù trong trường hợp nào dương vật cũng không thể căng cứng.

Nếu xảy ra liệt dương, sau khi loại trừ nhân tố tinh thần, nên tìm cho ra nguyên nhân về mặt bệnh tật, đáng chú là nên tăng cường tập thể dục, không những phòng bệnh, tăng cường thể chất, mà còn kiện toàn công năng tính dục và khắc phục bệnh liệt dương.

4. Những loại thuốc nào có thể dẫn đến liệt dương?

Từ lâu, không ít người cố công tìm kiếm loại thuốc hưng phấn tính dục để trị bệnh liệt dương của nam, nhưng hiệu quả chưa được bao nhiêu. Ngược lại, một số nhà y học lâm sàng phát hiện rằng, nhiều loại thuốc có tác dụng phụ ở mức độ khác nhau đối với công năng tính dục, cho đến bây giờ đã phát hiện ít nhất hơn 40 loại thuốc dẫn đến liệt dương gồm:

– Thuốc chữa trị huyết áp cao ảnh hưởng đến công năng truyền đạt “tin tức” của hệ thống thần kinh, khiến cho hoạt động của huyết quản “mất linh” khi dương vật muốn căng cứng.

– Thuốc lợi tiểu làm mất một lượng lớn nguyên tố kali trong cơ thể, giảm nồng độ kali trong máu, làm giảm tính nhạy cảm của thần kinh, cơ bắp, khiến quá trình chuyển hóa bình thường của tế bào thất thường, từ đó làm cho phản ứng căng cứng của dương vật suy yếu.

– Thuốc chống chất kích tố nam làm thay đổi công năng nội tiết trong hệ thống khưu não – tuyến yên – tinh hoàn, khiến tính dục giảm.

– Thuốc an thần ổn định và giảm sự hưng phấn của hệ thống thần kinh.

– Thuốc chống viêm mật ức chế hệ thống thần kinh giao cảm, dùng nó loại trừ hiện tượng co giật đường ruột nhưng gây tắc máu ở dương vật.

– Thuốc chữa bệnh thần kinh có tác dụng ở đại não, khống chế hoạt động thần kinh.

– Trúng độc rượu cồn sẽ ức chế hệ thống thần kinh trung khu, ảnh hưởng đến hoạt động tính dục.

Đương nhiên, mỗi loại thuốc nói trên là dùng chữa trị cho một loại bệnh. Do mức phản ứng thuốc đối với từng người có khác nhau, sau khi dùng các loại thuốc đó, không phải ai cũng bị tác dụng phụ làm liệt dương, không ít người công năng tính dục vẫn bình yên vô sự. Khi phát hiện có hiện tượng liệt dương, nên truy tìm nguyên nhân, không ngại kiểm tra lại thuốc dùng, có thể một loại thuốc nào đó gây phản ứng không tốt. Như vậy, có hi vọng khắc phục được hiện tượng liệt dương.

5. Xuất tinh ngược chiều thì làm thế nào?

Xuất tinh ngược chiều là khi sinh hoạt tính dục, dương vật vẫn căng cứng, tính dục cao hứng bình thường và xuất tinh, nhưng kỳ quái là tinh dịch không bắn ra từ miệng niệu đạo một cách bình thường, mà lại từ từ chảy ngược vào bàng quang. Trường hợp như vậy, thì sau khi sinh hoạt tính dục nên lấy một ít nước tiểu để hóa nghiệm, nếu thấy trong nước tiểu có tinh dịch kết tủa màu trắng, dùng kính hiển vi soi thì thấy nhiều tinh trùng và lượng lớn đường glucose trong nước tiểu, như vậy rõ ràng là tinh dịch đã chảy ngược chiều.

Nguyên nhân chủ yếu khiến tinh dịch chảy ngược là do cơ năng của cơ vòng trong bàng quang, nơi bàng quang và niệu đạo tiếp giáp nhau bị rối loạn. Trong trạng thái bình thường, khi xuất tinh, cơ vòng trong bàng quang co lại, đóng kín lối thông giữa niệu đạo và bàng quang, tinh dịch bắn thẳng ra ngoài. Khi có hiện tượng bệnh biến, ví dụ viêm bàng quang hoặc niệu đạo, sự chi phối của thần kinh cục bộ bị mất sau khi phẫu thuật tuyến tiền liệt, trực tràng, bàng quang, đều có thể khiến cơ vòng trong của bàng quang đóng không  kín hoặc không đóng được, lúc tinh bắn ra, tinh dịch chảy ngược vào bàng quang.

Có nhiều phương pháp chữa trị hiện tượng xuất tinh ngược chiều, nếu nhẹ thì dùng Silver Nitrate đốt miệng trong của niệu đạo và niệu đạo sau, hoặc uống 50 – 75mg Ephedrin Chloridic trước khi sinh hoạt tính dục 30 – 60 phút, đôi lúc sẽ xuất tinh bình thường. Nếu nặng thì phải phẫu thuật ngoại khoa cho cổ bàng quang bình thường trở lại. Muốn giải quyết vấn đề sinh đẻ, có thể theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc, chọn đúng thời kỳ rụng trứng của nữ, thu lấy tinh trùng trong nước tiểu sau khi sinh hoạt tính dục, cho thụ tinh nhân tạo, nữ có thể có thai.

6. Nhân tố nào ảnh hưởng đến tinh trùng?

Do tinh trùng rất dễ bị nhiều “kẻ địch” phá hoại, vì vậy trong sinh hoạt hàng ngày không thể coi thường.

6.1. Sợ thuốc, rượu

Hút thuốc và uống rượu là hai kẻ địch nguy hại lớn của tinh trùng. Tinh trùng rất nhạy cảm với chất độc trong thuốc lá. Nicotin trong thuốc có thể giảm kích thích nội tiết và giết chết tinh trùng. Nếu nam thanh niên mỗi ngày hút 30 điếu thuốc, tỷ lệ sống của tinh trùng chỉ là 40%, tỉ lệ tinh trùng dị hình tăng cao; uống nhiều rượu lâu ngày sẽ gây ra trúng độc rượu mạn tính hoặc cấp tính, 70% tinh trùng phát triển không tốt hoặc mất sức sống.

6.2. Sợ “đói”

Một số nam thanh niên ăn uống đơn điệu, kiêng khem, kén ăn, không thích ăn thức ăn động vật (như thịt, trứng, gia súc, cá, các chế phẩm từ sữa), lâu ngày, khiến hàm lượng kẽm trong cơ thể giảm. Nguyên tố vi lượng kẽm được xem như là “chất hài hòa vợ chồng”; nam thiếu chất kẽm thì tính dục và công năng tính dục sẽ giảm, lượng tinh trùng giảm 30 . 40%, thậm chí làm mất khả năng sinh đẻ.

6.3. Sợ nóng

Bìu dái là “cơ quan điều tiết nhiệt độ” của tinh hoàn, thông thường nhiệt độ của nó thấp hơn nhiệt độ cơ thể 1 – 2 độ, tinh hoàn mới sản sinh tinh trùng một cách thuận lợi. Nếu nam quen tắm nước nóng, nhiệt độ bìu dái tăng lên, lượng tinh trùng sẽ giảm, nếu mặc quần lót bó chặt, bìu dái khó thoát nhiệt, nhiệt độ tinh hoàn tăng cao. Ngoài ra mặc quần lót bó chặt gây trở ngại cho máu ở tĩnh mạch quay về tim, không lợi cho việc sinh trưởng tinh trùng.

6.4. Sợ “nhiều”

Nếu sinh hoạt tính dục quá nhiều có thể dẫn đến liệt dương, có thể mỗi lần xuất tinh hàm lượng tinh trùng ít. Nếu mỗi miligam tinh trùng có chừng 20 triệu tinh trùng thì cơ hội có thai rất ít, 4 triệu tinh trùng thì không thể thụ thai.

6.5. Sợ “buồn”

Nếu gia đình có chuyện lủng củng, vợ chồng bất hòa, phê phán lẫn nhau, vợ chồng suốt ngày buồn phiền. Trạng thái tinh thần không tốt làm ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống thần kinh và công năng của nội tiết, khiến công năng sản sinh tinh trùng của tinh hoàn rối loạn, dẫn đến tình trạng vô sinh. 

7. Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh vô sinh nam

Tinh hoàn là nguồn sinh ra tinh trùng, là cơ quan tạo ra tinh trùng và tiết ra chất kích tố nam. Đó là hai yếu tố quan trọng của sinh đẻ. Nếu tinh hoàn có bệnh thì sẽ không sinh đẻ được. Tinh trùng là vật chất quan trọng để người phụ nữ thụ thai. Tinh trùng trong tinh dịch không bình thường là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng vô sinh do phía nam.

Cho nên, nguyên nhân vô sinh do nam có mấy tình huống sau đây:

7.1. Tinh trùng khác thường

Biểu hiện khác thường là không có tinh trùng, lượng tinh trùng ít, tinh trùng chết. Nhân tố ảnh hưởng đến tinh trùng khác thường gồm có: sự phát triển của tinh hoàn bẩm sinh không tốt hoặc công năng phát dục không tốt, như tinh hoàn nhỏ, hai tinh hoàn không lộ ra; tĩnh mạch tinh tố ngoằn ngoèo; cơ thể bệnh tật, dinh dưỡng không tốt, thiếu vitamin, đặc biệt là thiếu vitamin E, mắc bệnh truyền nhiễm cấp tính như bệnh quai bị cùng lúc với viêm tinh hoàn; mắc bệnh mạn tính như lao kèm viêm tinh hoàn, tiểu đường, lao lực quá độ, sinh hoạt tính dục quá nhiều; nhân tố vật lý hóa học, như chiếu X quang quá nhiều, hút thuốc uống rượu quá nhiều, làm việc lâu với nhiệt độ cao, mặc quần lót quá chặt,… đều ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của tinh trùng, dẫn đến vô sinh.

7.2. Đường dẫn tinh trùng tắc nghẽn

Do ống dẫn tinh và túi chứa tinh trùng bẩm sinh phát triển không tốt, niệu đạo dị hình bẩm sinh, viêm tuyến tiền liệt, lão túi chứa tinh trùng, u xơ,… khiến ống dẫn tinh và niệu đạo hẹp hoặc tắc nghẽn, tinh dịch không ra được, dẫn đến vô sinh.

7.3. Tinh dịch không vào âm đạo một cách bình thường

Công năng tính dục trở ngại và bộ phận sinh dục dị hình như liệt dương, xuất tinh sớm, không xuất tinh và niệu đạo nứt nẻ nghiêm trọng, khiến tinh dịch không thể bắn vào âm đạo, dẫn đến nữ không thể thụ thai.

Ngoài ra, yếu tố tinh thần, bệnh thuộc hệ thống thần kinh trung khu, ngoại thương,… cũng có thể dẫn đến tình trạng vô sinh ở nam.

8. Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh vô sinh nữ

Có mấy nguyên nhân dẫn đến bệnh vô sinh do nữ sau đây:

8.1. Buồng trứng bẩm sinh phát triển khác thường

Không có buồng trứng hoặc buồng trứng phát triển không toàn vẹn, nên không sinh ra trứng, không có kinh nguyệt, do đó không thể thụ thai.

8.2. Bộ phận sinh dục bẩm sinh khác thường

Bẩm sinh không có tử cung, không có âm đạo,… nên không thể thụ thai. Tử cung non nớt, tử cung dị hình, âm đạo hẹp, màng trinh khép kín,… đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến công năng sinh đẻ, hoặc khiến tinh trùng và trứng không thể kết hợp, hoặc khiến trứng thụ tinh không “lót ổ” được.

8.3. Nội tiết không đều

Hoạt động nội tiết giữa hạ khâu não, tuyến yên, buồng trứng mất cân bằng khiến kinh nguyệt khác thường, kinh nguyệt không có trứng rụng hoặc công năng của hoàng thể kém, nên không thể thụ thai.

8.4. Biến chứng ống dẫn trứng

Viêm ống dẫn trứng khiến ống dẫn trứng tắc nghẽn, không thông là nguyên nhân quan trọng dẫn đến bệnh vô sinh.

8.5. U xơ

U xơ tử cung chèn ép hoặc kéo ống dẫn trứng, ngăn chặn đường đi của tinh trùng, ảnh hưởng đến việc “lót ổ của trứng thụ tinh hoặc nhau thai nên dẫn đến vô sinh hoặc đẻ non.

8.6. Niêm dịch ở ống cổ tử cung tiết ra khác thường

Thời gian rụng trứng niêm dịch ở ống cổ tử cung tiết ra quá ít, tinh trùng rất khó chui vào tử cung để thụ thai. Ống cổ tử cung do viêm và tác dụng của vi khuẩn khiến niêm dịch tiết ra quá nhiều, làm thay đổi tính chất của niêm dịch ở cổ tử cung, làm rối loạn đường đi của tinh trùng nên không thụ thai được.

8.7. Viêm bộ phận sinh dục

Âm đạo, cổ tử cung, màng trong của tử cung bị viêm nghiêm trọng, vi khuẩn xâm nhập giết chết tinh trùng, phá hoại môi trường cục bộ của màng trong tử cung, gây trở ngại cho trứng thụ tinh lót ổ, nên không thụ thai được.

8.8. Màng trong tử cung nằm ở vị trí khác thường

Tổ chức màng trong của tử cung nằm ở ngoài khoang tử cung, như nằm ở khoang khung chậu, gây tắc nghẽn ống dẫn trứng.

8.9. Ảnh hưởng của nhân tố cơ thể

Tinh thần quá căng thẳng hoặc quá lo âu phiền não, quá béo phì, dinh dưỡng không tốt hoặc thiếu chất dinh dưỡng quan trọng trong ăn uống, rượu thuốc quá nhiều, chữa bệnh bằng chiếu xạ quá nhiều,… đều ảnh hưởng đến công năng của buồng trứng.

8.10. Những nguyên nhân khác

Vị trí tử cung chệch quá về phía trước hoặc phía sau và còn nhiều nguyên nhân vô sinh nữa mà qua một loạt kiểm tra cả nam và nữ vẫn không tìm ra nguyên nhân.

9. Kết hôn bao lâu không sinh con mới gọi là vô sinh?

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau đã lâu, sinh hoạt tính dục bình thường và không sử dụng phương pháp tránh thai, quá hai năm nữ không có thai thì gọi là bệnh vô sinh.

Nhiều đôi vợ chồng, sau khi kết hôn chưa được bao lâu, vợ chưa mang thai, đã sốt ruột, nghi ngờ mình mắc bệnh vô sinh nên vội đến bệnh viện khám, như vậy là quá vội. Thực tế, chưa phải đã mắc bệnh vô sinh, nên theo dõi một thời gian nữa. Bởi vì sau kết hôn còn cần có cơ hội cho tinh trùng và trứng kết hợp với nhau, vấn đề này có quan hệ nhất định với số lần sinh hoạt tính dục, thời gian sinh hoạt tính dục với thời kỳ rụng trứng, sức khỏe của con người.

Thống kê của y học cho thấy, nếu năng lực sinh hoạt tính dục của cả hai vợ chồng bình thường và không sử dụng biện pháp tránh thai, số phụ nữ mang thai trong vòng 3 tháng sau khi kết hôn chiếm 50 – 60%, mang thai trong vòng 6 tháng sau khi kết hôn chiếm 60 – 75%, mang thai trong vòng 1 năm sau kết hôn chiếm 75 – 85%, mang thai trong vòng 2 năm sau kết hôn chiếm 90%. Có thể thấy rằng, dù hai vợ chồng không mắc bệnh gì, cũng không thể bảo đảm 100% có thai trong vòng 2 năm. Vì vậy, có người nới rộng thời gian không mang thai đến 3 năm. Vợ chồng sống chung trong 3 năm mà vợ không mang thai, gọi là mắc bệnh vô sinh cũng có cái lý nhất định.

Ngoài ra, còn có tình trạng, nếu sau khi kết hôn phát hiện một trong hai bên (hoặc cả hai bên) công năng tính dục không bình thường, có nhân tố vô sinh, như vậy, từ khi phát hiện đã chẩn đoán mắc bệnh vô sinh, thì không nhất thiết phải đợi đến sau 2 năm mới chạy chữa bệnh vô sinh.

10. Nam thiếu một tinh hoàn có thể sinh con không?

Tinh hoàn là cơ quan quan trọng sản sinh ra tinh trùng và chất kích tố, không có nó, đương nhiên không thể sinh con.

“Tinh hoàn ẩn” là tinh hoàn ở trong bụng không lộ ra xuống phía dưới, nam mà như thế sẽ không có con. Bởi vì tinh hoàn rất kỳ quặc, nó cần một nhiệt độ thích hợp mới sản sinh được tinh trùng, nhiệt độ cao hoặc thấp đều không sản sinh được tinh trùng. Nhiệt độ trong bìu dái thích hợp nhất cho tinh hoàn sản sinh tinh trùng. Vì vậy, bản thân bìu dái đã có khả năng điều tiết nhiệt độ; quá lạnh, nó co lại, tự động giữ ấm; quá nóng, nó giãn ra, phát tán nhiệt độ dư thừa, giữ nhiệt độ bên trong không cao không thấp, ở mức bình thường. Nếu tinh hoàn ẩn trong bụng, nhiệt độ cao hơn nhiều trong bìu dái, tinh hoàn không thể sản sinh tinh trùng. Vì vậy, người mắc bệnh này cũng không thể sinh con.

Nhưng, người có tinh hoàn ẩn nếu có một tinh hoàn lộ ra ngoài, thì vẫn có khả năng sinh con. Bởi vì, trứng thụ tinh chỉ cần 1 tinh trùng là đủ. Khi vợ chồng sinh hoạt tính dục, một tinh hoàn có thể phóng ra mấy trăm triệu tinh trùng. Vì vậy người có 1 tinh hoàn vẫn có thể cho vợ thụ tinh sinh con. Nhưng, những người như vậy, năng lực sinh đẻ kém hơn người bình thường.

Ngoài ra, còn có tình trạng là phẫu thuật muộn, tinh hoàn nằm quá lâu trong bụng, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ cao trong thời gian dài, năng lực sản sinh tinh trùng kém, không thể sản sinh đủ tinh trùng, những người như vậy cũng không có khả năng sinh con.

11. Làm thế nào chăm sóc tốt sản phụ

Sản phụ sau khi đẻ, các tổ chức và cơ quan toàn thân, đặc biệt là bộ phận sinh dục đều phải trải qua một quá trình hồi phục dần dần, nói chung cần 6 – 8 tuần mới có thể hồi phục bình thường. Y học gọi thời kỳ từ lúc đẻ xong đến lúc bộ phận sinh dục hồi phục bình thường là “thời kỳ sau đẻ”. Dân gian thường gọi là “ở cữ”. Sản phụ đẻ xong phải được nghỉ ngơi, chăm sóc tốt. Vậy, nên chăm sóc sản phụ như thế nào? Có mấy điểm chủ yếu sau đây:

11.1. Ăn uống

Việc nghỉ ngơi, ăn uống sau khi đẻ cũng quan trọng như thời gian mang thai. Vì sản phụ phải được bổ sung sự tiêu hao của cơ thể trong thời gian mang thai và sinh đẻ, phải cung cấp sữa cho con bú, cho nên cần ăn những thức ăn giàu protein, chất khoáng và vitamin. Thức ăn đa dạng, tinh – thô – tanh đều có, một ngày ăn nhiều lần, cấm ăn chất cay – sống – lạnh, ăn nhiều rau tươi và trái cây. Ăn uống, nghỉ ngơi thỏa đáng có lợi cho việc bình phục sức khỏe của người mẹ và việc nuôi con.

11.2. Môi trường

Phòng ở của sản phụ phải thoáng mát, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, môi trường ở phải sạch sẽ vệ sinh, mùa hè lúc nhiệt độ cao nên giữ cho trong phòng không khí lưu thông, có thể dùng quạt điện nhưng không được để luồng gió thổi thẳng vào người sản phụ. Tập quán kiêng gió là không khoa học.

11.3. Vệ sinh

Sản phụ nên thường xuyên thay đổi tư thế nằm ngủ, không nên ngồi lâu, ngủ lâu do sau khi đẻ nhiều mồ hôi, nước ối còn ra. Vì vậy phải chú ý sạch sẽ, tránh dùng nước lã, đề phòng khí lạnh xâm nhập, hoạt động vừa phải.

11.4. Nghỉ ngơi và hoạt động

Sản phụ nên bảo đảm ngủ đầy đủ, không nên lao động quá sớm, quá nhọc. Nói chung, nửa tháng sau khi sinh có thể làm một số công việc nhẹ nhàng trong nhà. Nếu sản phụ đẻ thuận, sức khỏe tốt, vùng hội âm không bị thương tổn thì 24 giờ sau khi đẻ có thể đứng dậy hoạt động nhẹ nhàng. Chỉ có nghỉ ngơi đầy đủ cộng với hoạt động vừa phải sản phụ mới bình phục sớm.

11.5. Quan tâm chăm sóc

Là người chồng nên thương yêu gấp bội người vợ. Vợ sinh con, cơ thể suy yếu, cần phải nghỉ ngơi bổ dưỡng. Chồng phải tìm cách cho vợ ăn ngon, nghỉ ngơi đầy đủ, và giúp vợ loại trừ mọi nỗi buồn lo, khiến tinh thần thoải mái, như vậy, sức khỏe vợ chóng hồi phục, con cũng được chăm sóc tốt. Đồng thời nên tích cực động viên vợ và chủ động giúp vợ hoạt động nhẹ nhàng (kể cả thể dục sau đẻ). An ủi vỗ về vợ, thời gian vợ ở cữ không nên đối xử thô bạo, nên chú ý gánh vác các việc nặng nhọc trong nhà. Ngoài ra, trong vòng 6 tuần sau khi vợ đẻ, cấm chồng sinh hoạt tính dục với vợ, để tránh viêm nhiễm âm đạo và niệu đạo.

12. Sản phụ ngủ như thế nào thì tốt?

Tư thế ngủ tốt có liên quan tới sức khỏe và sự an toàn của mẹ và con. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, tư thế nằm ngủ tốt nhất của người phụ nữ mang thai là nằm nghiêng về trái, đặc biệt là từ tháng thứ sáu nhất định phải nằm nghiêng về trái.

Vì sao không nằm ở tư thế khác? Bởi vì phía sau tử cung là động mạch và tĩnh mạch lớn (y học gọi là phúc chủ động mạch và hạ xoang tĩnh mạch). Những huyết quản lớn này chạy thẳng lên tim và thông xuống chân và vùng hội âm, chúng chuyển máu từ tim đến các bộ phận trong cơ thể và dẫn máu từ các bộ phận của cơ thể trở về tim.

Nếu phụ nữ mang thai nằm ngửa, tử cung to sẽ đè lên phúc chủ động mạch và hạ xoang tĩnh mạch. Phúc chủ động mạch bị đè khiến tử cung và thai nhi thiếu máu, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi; hạ xoang tĩnh mạch bị đè khiến máu ở chân và phần bụng dưới không thể quay nhanh về tim, khiến tĩnh mạch ở chân và phần bụng dưới sưng phù, phụ nữ mang thai còn mắc những hiện tượng như đầu choáng, nôn ọe, huyết áp thấp,… thậm chí nguy hiểm cho người phụ nữ mang thai và thai nhi.

Nếu người phụ nữ mang thai nằm nghiêng về phải, tử cung với thể tích rất lớn đè lên các cơ quan khác trong bụng. Kết tràng chữ S trong khoang bụng dưới bị đè, tử cung có thể xoay về bên phải ở mức độ khác nhau, khiến dây chằng và nhau thai bị căng thẳng, mạch máu nuôi tử cung trong nhau thai bị níu kéo sẽ ảnh hưởng đến sự cung cấp oxy cho thai nhi, gây thiếu oxy mạn tính cho thai nhi.

Phụ nữ mang thai nằm nghiêng về trái có thể đề phòng và chữa được chứng huyết áp cao khi sinh đẻ. Vì nó có thể tránh được sức ép của tử cung khi mang thai đối với thận, do đó thận bảo đảm đầy đủ lượng máu, giữ cho công năng của thận tốt, giảm bớt 3 chứng bệnh lớn là huyết áp cao, phù thũng và tiểu albumin.

Ngoài ra, nằm nghiêng về trái có lợi cho nước ối chảy ra, sau khi đẻ tránh được bệnh phụ nữ như đau thắt lưng, đau lưng vì tử cung nghiêng về phía sau do nằm ngửa lâu ngày.

Tư thế ngủ tốt là đầu đặt lên chiếc gối nằm nghiêng về trái, đặt hai chiếc gối kê dưới khúc khuỷu của chân nằm trên, ống chân duỗi thẳng, thân người nghiêng về phía trước 30 – 40°, bụng chạm lên giường. Khi mang thai có thể kê một chiếc gối nhỏ ở dưới. Đầu và vai ở tư thế thích hợp, không nên để chân nọ đè lên chân kia, nhằm tránh ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của máu.

13. Nước ối không thoát hoặc thoát không hết thì làm thế nào?

Sau khi thai nhi lọt lòng, một ít máu và nước đục còn lại trong tử cung gọi là “nước ối”. Nước ối thoát ra ngoài một cách tự nhiên, nhưng nếu ngừng thoát hoặc thoát ra rất ít, khiến bụng dưới trương lên, thuộc dạng khí không thông, có thể dùng hương phụ, đương quy, xuyên khung, huyền hồ mỗi thứ 10 gam; ô dược, ngải diệp mỗi thứ 6 gam. Nếu bụng dưới đau, sờ chỗ đau thấy có cục, ấn thấy đau, thuộc về huyết ứ, có thể dùng đương quy, xuyên khung, đào nhân, xích thược, ngũ linh chỉ, ích mẫu thảo mỗi thứ 10 gam; gừng nướng, hồng hoa, mỗi thứ 5 gam; cam thảo 3 gam, sắc uống.

Sau khi sinh đẻ quá 20 ngày nước ối vẫn tiếp tục chảy ra, màu tím bầm hoặc kèm theo máu cục, ấn thấy đau, sờ thấy có cục đều thuộc dạng ứ máu, xử lý giống như cách xử lý nước ối không thoát. Nếu nước ối đỏ nhạt, sệt, thỉnh thoảng cảm giác bụng dưới xệ xuống, tinh thần mỏi mệt, chân tay rã rời, như vậy thuộc dạng khí hư, có thể dùng đảng sâm, hoàng kỳ, mỗi thứ 30 gam; bạch truật, đương quy, lộc giác giao, trần bì mỗi thứ 10 gam, thăng ma, sài hồ, mỗi thứ 6 gam; cam thảo 3 gam. Sau khi nước ối ra hết, nên uống hoàn quy tỳ, sớm tối mỗi lần 6 gam để bồi dưỡng nguyên khí.

13. Sau khi đẻ nên giữ gìn như thế nào?

Sau khi đẻ nên chú ý vệ sinh cá nhân, vệ sinh bộ phận sinh dục, vệ sinh vú. Cụ thể như sau:

– Hàng ngày phải dùng nước đun sôi để ấm lau rửa bộ phận sinh dục, giữ gìn sạch sẽ bộ phận sinh dục, cố hết sức giảm bớt cơ hội nhiễm bệnh. Khi rửa, lau phía ngoài âm hộ nên từ phía trước đến phía sau, từ trong ra ngoài, lau rửa xong phần ngoài âm hộ rồi chuyển sang lau rửa hậu môn.

– Bảo đảm đại tiểu tiện bình thường, tránh đại tiện táo bón dẫn đến bí đại tiện, ăn nhiều cá, thịt, trứng, rau, trái cây.

– Hàng ngày bảo đảm ngủ, nghỉ ngơi đầy đủ, tránh lao động chân tay.

– Xoa bóp vú và cho con bú đúng giờ quy định, giữ tinh thần ổn định ăn ít thức ăn quá mặn, ăn nhiều thức ăn nhiều nước để thúc đẩy thông sữa.

– Nếu do lúc cho con bú hoặc xoa bóp không thận trọng khiến đầu vú bị thương tổn, thì sau khi cho con bú nên bôi thuốc 10% Compound Benzoin Tincture,… Trước khi cho con bú lần tiếp theo nên lau sạch vú.

– Trong vòng 6 tuần sau khi sinh cấm không được sinh hoạt tính dục và khi sinh hoạt tính dục phải dùng biện pháp tránh thai.

– Nếu đẻ thuận, sau 1 tuần có thể hoạt động cho khỏe người; nếu đẻ khó, nên chờ khi sức khỏe hồi phục hãy hoạt động thể dục, có lợi cho việc khôi phục thể hình.

Ngoài ra, trong thời kỳ ở cữ không nên tùy tiện uống thuốc, tránh gây thương tổn cho đứa con qua đường sữa. Sau khi đẻ được 6 tuần nên kiểm tra một lần để biết tình hình sức khỏe toàn thân và sự bình phục của bộ phận sinh dục.

14. Sau khi đẻ nên ăn uống như thế nào?

Một tháng sau khi đẻ, dân gian gọi là “tháng ở cữ”, nên chú ý tẩm bổ cho sản phụ, có lợi cho cả mẹ và con. Nội dung quan trọng của thức ăn tẩm bổ là tăng cường dinh dưỡng, nhưng cũng không phải là dinh dưỡng càng nhiều càng tốt, vì trong thời gian ở cữ, lượng dinh dưỡng quá thừa sẽ làm cho sản phụ béo, béo quá sẽ có hại cho sức khỏe sản phụ, vì vậy dinh dưỡng hợp lý mới là điều kiện cần thiết để bảo đảm sức khỏe cho sản phụ và đứa con. Sau khi đẻ nên tăng cường dinh dưỡng mặt nào?

Trong sữa của người mẹ, ngoài chất protein, sữa và đường, còn có một lượng nhất định chất khoáng, vitamin và nguyên tố vi lượng. Trong giai đoạn cho con bú, vật chất dinh dưỡng trong cơ thể người mẹ bị mất đi, cần được thường xuyên bổ sung vào trong thức ăn hàng ngày. Cụ thể, mỗi ngày cần 25 gam protein, 90 gam mỡ, 300 gam canxi, vitamin và các nguyên tố vi lượng như sắt, phốt pho,… Các chất dinh dưỡng đó đều có từ các loại thực phẩm như rau tươi, trái cây, thịt, cá, gà, vịt,… Trong thức ăn hàng ngày đều có lẫn lộn các chất tinh, thô, tanh, cố gắng tăng cường chủng loại, chú ý chế biến đa dạng, ví dụ ngoài cá, thịt ra, nên thêm các loại chế biến từ hải sản, đậu, chú ý phối hợp hợp lý mỡ động vật và dầu thực vật.

Ngoài ra, thành phần của sữa mẹ chủ yếu là nước, cho nên phải chú ý ăn nhiều thức ăn nước như canh rau, canh cá, súp thịt, súp xương, canh trứng, canh đậu phụ,… vừa bổ sung thành phần nước cho sản phụ, vừa bổ sung các chất dinh dưỡng khác. Các gia đình hiện đại, nói chung có điều kiện kinh tế tốt, có thể căn cứ vào tập quán ăn uống của từng gia đình để bố trí hợp lý việc ăn uống. Chú ý kết cấu dinh dưỡng của thực phẩm, cũng có thể chọn dùng những phương thuốc thức ăn thúc đẩy sản sinh ra sữa, tất cả những thứ đó đều có lợi cho sức khỏe của sản phụ và đứa con.

15. Một số nguyên tắc ăn uống bồi dưỡng

Dinh dưỡng ăn uống là việc lớn quan hệ đến sức khỏe của mọi người và liên quan đến cuộc sống hàng ngày của mọi gia đình. Nhưng do ảnh hưởng của thói quen và sự hiểu biết chưa đầy đủ, nên vấn đề này bị người ta coi thường.

Theo kết cấu bữa ăn và tập quán ăn uống của nước ta, các nhà dinh dưỡng học nêu ra 8 nguyên tắc sau đây: 

– Thức ăn nên đa dạng. Bữa ăn phù hợp phải do nhiều thức ăn hợp thành, đạt được mục đích bữa ăn cân bằng. Những nhà dinh dưỡng học của nước ta chia thức ăn làm 5 loại lớn dưới đây:

  • Loại hạt, loại củ, loại đậu: chủ yếu cung cấp đường, protein và vitamin nhóm B, là nguồn cung cấp nhiệt năng chủ yếu trong bữa ăn của dân ta.
  • Thực phẩm từ động vật: bao gồm thịt, cá, trứng, sữa,… chủ yếu cung cấp protein, mỡ, chất khoáng, vitamin A và vitamin nhóm B, là nguồn cung cấp nhiệt năng chủ yếu trong bữa ăn.
  •  Đậu tương và các chế phẩm từ nó: chủ yếu cung cấp protein, dầu, xenlulo thực phẩm, chất khoáng và vitamin nhóm B.
  • Rau và trái cây: chủ yếu cung cấp xenlulo thức ăn, chất khoáng, vitamin C và chất carotin.
  • Thức ăn cung cấp nhiệt năng: gồm mỡ động vật, dầu thực vật, đường ăn, rượu, chủ yếu cung cấp nhiệt năng cho cơ thể.

Năm loại thức ăn nói trên nên dùng với lượng thích hợp.

– Đói no đúng mức. Ăn uống nên đúng mức, đói no nên đúng mức để đạt được độ dinh dưỡng đúng mức, để quá trình hấp thu và tiêu hóa của nhiệt năng và protein được tốt, tránh tình trạng cơ thể quá béo hoặc quá gầy.

– Lượng dầu mỡ vừa đủ. Trong cơ cấu thức ăn của gia đình bậc trung ở nước ta, lượng dầu thực vật sử dụng mỗi tháng là 750 gam, tương đương 25g/ngày, ngoài ra còn có các thức ăn có mỡ khác.

– Kết hợp thô – tinh. Mỗi ngày nên ăn những thức ăn có xenlulo khác nhau, như màu, lương thực phụ, đậu, rau, trái cây,… Nên ăn nhiều thức ăn phụ, ít ăn thức ăn tinh, bột mì trắng.

– Hạn chế muối ăn. Nhu cầu natri của người thành niên, bình quân mỗi ngày 2 gam, tính ra vào khoảng 5 gam muối ăn. Muốn đề phòng huyết áp cao, mỗi người mỗi ngày nên dùng một lượng muối ăn không quá 10 gam là vừa.

– Ít ăn chất ngọt. Đường ăn chỉ cung cấp nhiệt năng đơn thuần, ngoài cung cấp nhiệt năng ra, không có chất dinh dưỡng nào khác. Đối với những người muốn giảm nhiệt năng, nên tránh thường xuyên ăn thức ăn ngọt có kèm lượng lớn đường, để khỏi ảnh hưởng đến sự hấp thu các chất dinh dưỡng khác, đối với trẻ con cần chú ý.

– Hạn chế uống rượu. Thức uống có nồng độ rượu cao ngoài nhiệt lượng rất cao chẳng có chất dinh dưỡng gì khác, nếu không hạn chế uống rượu trắng nồng độ cao sẽ lười ăn, hấp thụ thức ăn kém, dẫn đến thiếu dinh dưỡng, nặng thì bị xơ gan do rượu.

– Hợp lý ba bữa ăn. Xây dựng chế độ ăn uống hợp lý. Nhất thiết tránh ăn uống no say, nên ăn ít uống ít. Mỗi người nên sắp xếp 3 bữa ăn trong ngày cho hợp lý. Nhiệt năng của mỗi bữa ăn trong ngày nên chia ra như sau: bữa sáng 30%, bữa trưa 40%, bữa tối 30%, đồng thời nên chiếu cố đến thói quen sinh hoạt và chế độ công tác.

16. Không cho xuất tinh có hại cho sức khỏe không?

Một số người khi sinh hoạt tính dục, do nguyên nhân nào đó, như sợ có thai, hoặc cho rằng tinh dịch là vốn quý của cơ thể,… nên khi sinh hoạt tính dục sắp đạt đến đỉnh cao hứng thì cố kìm giữ không cho xuất tinh, thậm chí dùng tay siết chặt dương vật không cho xuất tinh. Cách làm như vậy không phù hợp với sinh lý của cơ thể, có hại, vì các lẽ sau đây:

– Khoái cảm do xuất tinh tạo ra cảm giác thỏa mãn tính dục, do đó khiến sinh hoạt tính dục cả nam và nữ hài hòa, khiến cuộc sống gia đình vui vẻ. Kìm giữ không cho xuất tinh sẽ đánh mất niềm lạc thú trong cuộc sống.

– Quá trình phản ứng tính dục là một quá trình tự nhiên. Nếu con người can thiệp và khống chế sẽ gây rối loạn cho công năng tính dục. Hơn nữa sự khống chế đó làm tăng thêm sự ức chế của đại não, vì vậy dễ gây trở ngại cho công năng tính dục, một số người mắc bệnh không xuất tinh là do sự khống chế đó.

– Khi xuất hiện cao hứng tính dục, ống dẫn tinh, túi tinh, tuyến tiền liệt và cơ niệu đạo co bóp nhịp nhàng khiến tinh dịch bắn ra, nếu can thiệp và khống chế cũng không thể được. Nếu dùng tay siết chặt dương vật để tinh dịch không bắn ra, tinh dịch sẽ buộc phải chảy ngược vào bàng quang, tạo ra hiện tượng xuất tinh ngược. Lâu ngày như vậy có thể tạo thành phản xạ điều kiện, sinh ra xuất tinh ngược chiều thường xuyên, dẫn đến tình trạng vô sinh.

– Một số người cố giữ không cho xuất tinh là sợ mất tinh dịch, cho rằng tinh dịch là vốn quý của cơ thể, nói thế không khoa học. Thực ra, tinh dịch cũng chỉ là một chất được tiết ra từ trong cơ thể, nếu không qua xuất tinh thì cũng tiêu mất qua hiện tượng di tinh hoặc tiểu tiện. Suy nghĩ như trên là nguồn gốc gây trở ngại cho công năng tính dục và làm suy yếu thần kinh.

17. Vợ hoặc chồng mắc bệnh viêm gan truyền nhiễm thì làm thế nào?

Viêm gan truyền nhiễm là bệnh truyền nhiễm do virus viêm gan gây nên. Nói chung, trong phân, nước tiểu, nước bọt, tinh dịch của người bệnh đều có virus viêm gan, nếu tiếp xúc có thể bị lây.

Nếu một trong hai người yêu nhau mắc bệnh viêm gan truyền nhiễm nên cố gắng ít tiếp xúc, an tâm chữa trị, hoãn việc cưới xin cho đến lúc người kia lành bệnh.

Nếu cưới rồi mà một trong hai người mắc bệnh viêm gan truyền nhiễm, do hai người đã tiếp xúc nhau mật thiết, bắt đầu sinh hoạt tính dục, khả năng lây truyền cho nhau rất lớn. Lúc ấy nên dùng biện pháp cách ly, để riêng dụng cụ ăn uống, nấu nước sôi diệt trùng,… nhất là ngủ riêng giường, nếu có điều kiện thì ngủ phòng riêng, tránh sinh hoạt tính dục, nếu sinh hoạt tính dục thì phải dùng bao cao su.

Nữ mắc bệnh viêm gan, tốt nhất không nên có thai. Bởi vì thai nhi sống và phát triển nhờ vào dinh dưỡng trong cơ thể người mẹ, gan người mẹ đã bị tổn thương, càng thêm gánh nặng, khiến bệnh nặng thêm, thậm chí gây nên hoại tử gan cấp tính. Gan bị tổn thương sẽ ảnh hưởng đến thận, gây ra chứng đái dắt, trúng độc nước tiểu,… đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng. Lúc đẻ dễ băng huyết.

Do virus viêm gan truyền sang thai nhi qua nhau thai, thai nhi có khả năng dị hình, thai nhi chết. Cho nên nữ mắc bệnh viêm gan cấm có thai. Nếu đã có thai, nên nghĩ cách cho nạo thai. Nếu thai đã lớn, không cách nào xử lý, có thể sau khi sinh ra nên cách ly, không được cho con bú sữa mẹ.

18. Sản phụ khi ăn uống nên kiêng những gì?

Nói chung, sau khi sinh đẻ nên ăn uống những thức ăn có nhiều dinh dưỡng và dễ tiêu hóa. Ăn uống sau khi sinh cũng quan trọng như thời gian mang thai. Bởi vì người mẹ vừa là người chăm sóc vừa có nhiệm vụ cho con bú. Cho nên càng cần chú ý đa dạng hóa thức ăn và ăn nhiều thức ăn nhiều nước để tiết ra nhiều sữa. Ngoài ra nên chú ý mấy điều cấm kỵ dưới đây:

– Cấm ăn thức ăn sống, lạnh, không sạch. Như nước uống đông lạnh, thức ăn mất vệ sinh sẽ gây tổn thương đường ruột, dễ làm mắc bệnh đường ruột, đau bụng đi lỏng, đau dạ dày khiến sức khỏe sản phụ càng suy nhược.

– Cấm uống rượu trong thời gian cho con bú. Sản phụ uống rượu trong thời kỳ cho con bú, rượu qua máu vào sữa, đứa con bú sữa vào cơ thể, ảnh hưởng đến đại não, gan, thận của đứa trẻ, nguy hiểm đến sức khỏe đứa trẻ.

– Cấm ăn tuyến thượng thận của động vật. Nội tạng của động vật giàu dinh dưỡng, khi rửa thận động vật, phải rửa thật sạch thể tuyến màu nâu nhạt nằm phía trước thận. Tuyến thượng thận nhỏ bé có một lượng nhất định chất kích thích vỏ não, khiến cho muối trong cơ thể chuyển hóa gặp trở ngại, rất nguy hiểm cho người mẹ và đứa con.

– Không nên ăn thức ăn mốc. Không ăn hoặc ăn ít thức ăn hun sấy, xào rán để giảm bớt tiếp xúc các chất gây ung thư; ít ăn các chất kích thích vì các chất cay tăng thêm kích thích và gây tổn thương niêm mạc dạ dày, và cũng là một nguyên nhân cơ bản gây bí đại tiện.

– Không nên ăn nhiều chất béo. Ăn nhiều chất mỡ sẽ béo phì, gây tổn thương công năng hóa của tỳ vị; ít ăn thức ăn rán mỡ để bảo vệ công năng tiêu hóa bình thường.

– Nên uống ít cà phê, ca cao.. Bởi vì trong các loại nước uống đó đều có chất cafein có thể khiến trung khu thần kinh hưng phấn đê mê, qua sữa chất cafein hấp thu vào cơ thể đứa trẻ gây ra trạng thái hưng phấn, ảnh hưởng không tốt cho cơ thể.

Đông y cho rằng các chất chua, đắng, ngọt, mặn, cay trong thức ăn đều gây bệnh tật cho cơ thể. Trong thời kỳ cho con bú, sản phụ nên điều hòa hợp lý việc ăn uống, kết hợp khô- nước, tinh-thô, không nên nghiêng về một thứ.

19. Làm thế nào để phòng tránh béo phì sau khi sinh

Một số chị em thân hình ẻo lả, sau khi mang thai, sinh đẻ, rồi làm mẹ, dần dần béo phì ra, mất cả dáng đẹp trước đó. Hiện tượng trên là do mang thai gây ra sự rối loạn của công năng khâu não, đặc biệt là sự mất cân đối của quá trình chuyển hóa mỡ, y học gọi là béo phì do sinh đẻ. Muốn đề phòng hiện tượng béo phì đó, giữ được hình dáng yểu điệu, sau khi sinh đẻ nên chú ý:

Hoạt động sớm: Sau khi sinh đẻ, sức khỏe tốt, hội âm không bị mổ, sau 24 giờ có thể đứng dậy hoạt động, sau nửa tháng có thể làm một số việc nhẹ trong nhà. Bởi vì hoạt động sẽ tăng cường công năng hệ thống phân tiết của thần kinh, thúc đẩy sự điều tiết của quá trình chuyển hóa mới – cũ, tiêu hao lượng đường và mỡ quá nhiều trong cơ thể, đạt được yêu cầu phòng béo.

Ăn uống hợp lý: Sau khi sinh đẻ không ăn quá nhiều thức ăn giàu mỡ. Có thể ăn nhiều thịt nạc, các chế phẩm từ đậu, cá, trứng, rau, trái cây,… Như vậy vừa thỏa mãn được nhu cầu của cơ thể về protein, chất khoáng, vitamin, vừa đề phòng phát phì. Sau khi sinh đẻ hạn chế ăn đường và các chất ngọt khác.

Tự cho con bú: Tự cho con bú thúc đẩy nhanh quá trình tiết ra sữa, thúc đẩy quá trình chuyển hóa cũ – mới trong cơ thể người mẹ, và thúc đẩy quá trình tuần hoàn dinh dưỡng, tống các thành phần dinh dưỡng dư thừa trong các tổ chức của cơ thể ra ngoài, giảm bớt sự tích tụ của mỡ dưới da, nhờ đó mà phòng béo có hiệu quả.

Thể dục sau khi sinh đẻ: Sau khi đẻ một tuần có thể vận động cơ bụng ở tư thế nằm ngửa, và vận động cơ eo ở tư thế nằm sấp, như cử động hai chân duỗi thẳng, nằm ngửa ngồi dậy, đầu, vai, chân cử động về phía sau. Làm như vậy rất có công hiệu để giảm bớt mỡ ở bụng dưới, eo lưng.

20. Làm thế nào phòng trị bệnh tổng hợp của phụ nữ

“Bệnh tổng hợp của phụ nữ” có những biểu hiện chủ yếu sau đây: mỏi mệt, buồn ngủ, sắc mặt nhợt nhạt, khó tính, tim đập mạnh và loạn nhịp, trí nhớ kém, sức chú ý không tập trung. Nguyên nhân của bệnh này là do thiếu máu. Vì mỗi tháng nữ phải hành kinh một lần, nói chung mất 28 gam sắt, người nào lượng kinh nguyệt nhiều thì chất sắt mất nhiều. Tai hại là những người thiếu máu và sức khỏe không tốt thì lượng kinh nguyệt đặc biệt nhiều. Một mặt, thiếu máu sẽ làm cho khả năng kháng bệnh của cơ thể giảm sút, khiến dễ cảm cúm, mặt khác, các bệnh đó làm tiêu hao càng nhiều nguyên tố sắt và các nguyên tố vi lượng khác.

Muốn phòng trị bệnh tổng hợp của quý bà” xin tham khảo mấy phương pháp sau đây: 

Nhẹ thì ăn uống bồi dưỡng: ăn các thức ăn có sắt như gan, lòng đỏ trứng, thịt nạc, các loại đậu, hải sản, bánh bao làm bằng bột mì thô, rau tươi, trái cây… có rất nhiều sắt. Đáng chú ý là giá trị dinh dưỡng sắt trong thức ăn không chỉ liên quan đến hàm lượng sắt, mà quan trọng hơn là tỉ lệ hấp thụ sắt. Ví như, hàm lượng sắt trong gan động vật khá nhiều, tỉ lệ hấp thu cao. Dùng nồi sắt để nấu, do nồi sắt sinh ra một chất muối vô cơ phản ứng với vị toan, có thể hình thành chất sắt dễ hòa tan khiến cơ thể dễ hấp thu.

Nặng thì ăn uống bồi dưỡng kết hợp với dùng thuốc: Ngoài ăn các thức ăn có sắt ra, uống viên sắt vừa rẻ vừa tiện, đó là loại thuốc chữa bệnh thiếu sắt rất công hiệu. Căn cứ vào bệnh tình, xác định liệu trình uống thuốc, hiệu quả rất tốt. Nhưng khi dùng bất cứ loại thuốc nào cũng phải theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc, bởi vì chất sắt trong gan và các tạng khí khác nếu quá mức bão hòa sẽ gây ra xơ ở các tổ chức, tổn hại công năng của tạng khí, nặng thì có thể dẫn đến xơ gan, tiểu đường, suy tim.

Vận động ngoài trời: Nam giới rất ít mắc bệnh thiếu sắt, vì nam hoạt động nhiều hơn nữ, nhất là so với nữ thành niên, nam ngoài công tác ra, thích hoạt động bên ngoài. Nên biết rằng hiệu quả giữa lao động trong nhà với vận động không giống nhau, vận động là hoạt động cần oxy, còn lao động trong nhà chỉ cần cung ứng năng lượng trong thời gian ngắn, không phải là hoạt động cần oxy, chỉ tiêu hao nhiệt lượng và đường mà không thúc đẩy quá trình tuần hoàn oxy. Bảo đảm sự tuần hoàn của oxi trong cơ thể lành mạnh là thúc đẩy tốc độ sinh trưởng hồng huyết cầu trong máu, mà tỉ lệ hấp thụ sắt của cơ thể là theo tỉ lệ tốc độ sinh trưởng của hồng huyết cầu. Cho nên kết hợp vận động hợp lý và dinh dưỡng hợp lý là rất có lợi cho việc phòng trị “bệnh tổng hợp của quý bà”.

21. Trùng roi (trichomonas) có chui vào đường sinh dục của nam không?

Phụ nữ thường mắc một bệnh thường thấy, gọi là viêm âm đạo do trùng roi. Theo thói quen, người ta gọi nhiễm trùng roi là bệnh của phụ nữ. Nhưng đâu có biết trùng roi cũng xâm nhập vào đường tiết niệu và đường sinh dục của nam, do âm đạo của nữ viêm trùng roi lây sang, dưới các bệnh chứng sau đây.

21.1. Viêm đường tiết niệu

Sau khi bị lây nhiễm, từ 24 giờ đến mấy ngày có thể bệnh chưa phát, sau đó khi tiểu tiện hoặc sau khi tiểu tiện cảm thấy ngứa, nóng, rồi tiết ra một lượng nhỏ chất màu trắng như sữa, thậm chí đặc quánh.

21.2. Viêm túi tinh và tuyến tiền liệt

Xuất hiện cảm giác đau nhức ở bộ phận sinh dục và trực tràng, tiểu xong cảm thấy đau rát. Nếu đưa ngón tay vào hậu môn kiểm tra, sẽ phát hiện túi tinh và tuyến tiền liệt đều sưng to, mềm, ấn thấy đau.

21.3. Bao quy đầu viêm

Trùng soi gây viêm bao quy đầu, thậm chí thối rữa. Không dễ gì phân biệt các bệnh trùng roi nói trên với các bệnh viêm đường tiết niệu, viêm túi tinh và tuyến tiền liệt và viêm bao quy đầu. Vậy làm thế nào nhận biết nhiễm trùng roi? Một, nữ có bệnh sử viêm âm đạo do trùng roi; hai, dùng kính hiển vi kiểm dịch tuyến tiền liệt, dịch túi tinh, hoặc dịch tiết ra từ đường tiết niệu.

Khi mắc các bệnh đó, cả nam lẫn nữ phải cùng chữa trị, chỉ riêng nam hoặc nữ chữa trị mà vẫn sinh hoạt chung nhau thì khó chữa lành. Có 03 cách chữa bệnh: một là uống Metronidazol, mỗi viên 0,2 gam, mỗi lần 01 viên, mỗi ngày 03 lần, mỗi liệu trình là 7-10 ngày, có thể 1-2 liệu trình; hai là nếu bệnh nặng, thầy thuốc giúp rửa đường tiết niệu bằng dung dịch Silver nitrate 1:5000,… để diệt trùng roi chui vào đường tiết niệu; ba là nhờ thầy thuốc xoa bóp tuyến tiền liệt và túi tinh, mỗi tuần ít nhất 1 lần, làm cho dịch tuyến tiền liệt và dịch túi tinh thoát ra ngoài.

Nam giới nếu phát hiện viêm đường tiết niệu, viêm tuyến tiền liệt thì nên khám xem có bị viêm nhiễm trùng roi không, hoặc do nguyên nhân nào khác.

22. Những bệnh nào có thể gây ra xuất huyết âm đạo

Các bạn gái ở tuổi sinh đẻ mà sinh đẻ bình thường, cứ cách khoảng 28 ngày thì hành kinh một lần. Ngoài những ngày hành kinh ra, âm đạo không chảy máu. Nếu ngoài những ngày hành kinh mà âm đạo chảy máu, thì có thể đó là tín hiệu của bệnh tật. Âm đạo chảy máu là một trong những bệnh thường thấy ở nữ. Ngoài kinh nguyệt ra, thường ẩn chứa sinh lý khác thường và biến chứng. Nó có nhiều nguyên nhân, không dưới 30 loại. Có mấy loại thường thấy sau đây gây ra xuất huyết.

22.1. Tử cung chảy máu do công năng

Phần lớn ở nữ tuổi dậy thì, thời kỳ cho con bú và tuổi hồi xuân. Biểu hiện ở chỗ kinh nguyệt kéo dài, máu ra không ngừng. Nguyên nhân phần lớn là do công năng buồng trứng rối loạn hoặc cơ năng không bình thường.

22.2. Mang thai không bình thường

Âm đạo ra máu ở thời kỳ đầu mang thai, phần lớn là triệu chứng đẻ non, khó đẻ, đẻ không an toàn, thai ngoài tử cung,… thời kỳ cuối mang thai thường có “tín hiệu” nguy hiểm như nhau thai ở về phía trước, nhau thai tách sớm, tử cung rách.

22.3. Viêm bộ phận sinh dục

U cổ tử cung, u cơ tử cung, u thể tuyến tử cung, u da trên màng nhung mao, u tế bào hạt,… cũng gây xuất huyết đường ruột.

22.4. Các biến chứng khác

Lao bộ phận sinh dục, nhau thai sót, vị trí nhau thai và tử cung chưa hoàn toàn hồi phục, bệnh máu, công năng gan tổn thương,… đều dẫn đến tình trạng xuất huyết âm đạo. Dù chưa chồng hay đã có chồng, nếu phát hiện ngoài thời gian hành kinh ra, âm đạo thường chảy máu thì chớ nên coi thường, phải đến ngay bệnh viện khám để tìm ra nguyên nhân, kịp thời chữa trị. Không nên vì xấu hổ mà không dám nói, khiến chẩn đoán sai, bệnh càng nặng thêm, gây ra thiếu máu mạn tính do mất máu. Nếu âm đạo chảy máu nhiều, máu chảy nhanh, phải đưa đến bệnh viện cấp cứu ngay, đi đường tránh xóc.

23. Vì sao con gái mới lấy chồng dễ bị viêm bàng quang trong thời kỳ trăng mật?

Viêm bàng quang thời kỳ trăng mật là viêm bàng quang trong thời kỳ trăng mật lúc mới kết hôn. Triệu chứng như sau: tiểu nhiều lần, tiểu rắt, tiểu đau, nước tiểu màu đỏ, đau thắt lưng, bụng dưới đau, có người phát sốt, phát lạnh, kiểm tra nước tiểu thấy có hồng huyết cầu, bạch huyết cầu và tế bào mủ. Như vậy là thuộc phạm vi nhiễm bệnh đường tiết niệu.

Theo thống kê lâm sàng, viêm bàng quang thời kỳ trăng mật thường thấy nhiều ở nữ, ít ở nam, Trong số nữ lần đầu bị viêm đường tiết niệu cấp tính, thì viêm bàng quang chiếm trên 20%; nữ mới kết hôn bị viêm bàng quang thời kỳ trăng mật chiếm 45%. Từ đó có thể thấy, nữ vừa mới kết hôn chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong số nữ bị viêm bàng quang thời kỳ trăng mật.

Vậy, tại sao nữ mới kết hôn dễ mắc bệnh này? Nữ ở thời kỳ niên thiếu, mép âm hộ khép chặt như một bức chắn che khuất miệng đường tiết niệu, vi khuẩn khó nhiễm vào. Do đường niệu đạo của nữ cực ngắn, gần kề với miệng âm đạo, nếu đêm tân hôn động phòng không chú ý vệ sinh, vi khuẩn dễ xâm nhập gây viêm nhiễm. Trước và sau ngày cưới thường làm việc vất vả, sức đề kháng của cơ thể giảm nên dễ mắc bệnh này.

Nếu bị viêm bàng quang thời kỳ trăng mật, nên chú ý nghỉ ngơi, uống nhiều nước đun sôi để nguội, cấm sinh hoạt tính dục, có thể uống thuốc giải nhiệt lợi tiểu.

24. Tình dục nam suy yếu nên nghĩ đến tình huống nào?

Nói chung, nam khi bước vào tuổi phát dục dậy thì, tính dục mạnh hơn nữ cùng lứa tuổi. Nếu nam thấy tính dục giảm sút, nên nghĩ tới 3 tình huống sau đây.

Một, nhân tố tuổi tác. Tính dục nam xuất hiện là nhờ chất kích tố nam tiết ra từ tinh hoàn – xeton tinh hoàn, chất này tăng giảm theo lứa tuổi. Nói chung, nam trên 50 tuổi tính dục tự nhiên giảm, khoảng 70 tuổi phần lớn hầu như không còn nữa. Điều này phù hợp với quy luật sinh lý, không coi là bệnh lý.

Hai, nhân tố tinh thần. Hơn một nửa là do tình cảm vợ chồng không dung hợp, hoặc do nữ có hiện tượng lạnh nhạt tính dục, làm mất sự ham muốn của nam. Ngoài ra, còn do môi trường không tốt, ngại sinh đẻ, hoặc sinh hoạt tính dục quá độ.

Ba, nhân tố bệnh tật. Một số bệnh về hệ thống tiết niệu và sinh dục, ví như da quy đầu quá dài, quy đầu bị bao kín, viêm tuyến tiền liệt, viêm túi tinh, mẩn ngứa bìu dái, sa nang, viêm đường tiết niệu đều làm giảm tính dục. Đó là không kể đến các bệnh khác khiến cơ thể suy yếu, làm giảm tính dục. Đặc biệt là một số bệnh về nội tiết, như u tuyến yên, u tuyến thượng thận, công năng màng tuyến thận thượng không bình thường, công năng tuyến giáp trạng khác thường và bệnh biến tinh hoàn đều có thể làm giảm lượng ceton tinh hoàn trong cơ thể, dẫn đến suy giảm tính dục.

Có một số nguyên nhân gây giảm sút tính dục có liên quan đến nguyên nhân gây liệt dương. Muốn đề phòng chữa trị bệnh giảm sút tính dục nên tìm nguyên nhân từ 3 mặt nói trên, kịp thời chẩn đoán, điều trị, bệnh sẽ khỏi.

25. Trên mặt nữ có nốt tàn nhang thì làm thế nào?

Một số bộ phận lộ ra ngoài như mặt, cổ, tay,… của nữ có những nốt đen nhạt hoặc xám nâu to như hạt đậu. Những nốt đó, nói chung, không nổi cao hơn mặt da, thường đậm hơn về mùa xuân và mùa hạ hoặc dưới ánh nắng mặt trời, người ta thường gọi là nốt tàn nhang. Nó tuy không đau không ngứa, nhưng ảnh hưởng đến vẻ đẹp của con người, khiến chị em phiền não.

Nốt tàn nhang là một bệnh ngoài da do sự chuyển hóa sắc tố gặp trở ngại, do hắc sắc tố trong tế bào hắc tố của da tiết ra nhiều, tích lại mà tạo thành. Nốt tàn nhang có liên quan với các nhân tố di truyền, rối loạn nội tiết, phơi nắng quá nhiều, chất pH dưới da tăng cao,…

Nhìn vào quy luật bệnh, nốt tàn nhang nặng về mùa hè, nhẹ về mùa đông. Vì mùa hè nắng nóng, ánh nắng mặt trời kéo dài, tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời gay gắt chiếu lên mặt; mùa đông ánh nắng mặt trời yếu hơn, thời gian có ánh nắng ngắn hơn, vitamin C trong tế bào da được bảo tồn vào mùa đông. Các chuyên gia nghiên cứu cho rằng, vitamin C có tác dụng trực tiếp khiến hắc sắc tố hoàn nguyên và “tẩy trắng”, tác dụng đó nhiều ít tùy thuộc vào mức tăng giảm của pH và nồng độ cao thấp của vitamin C.

Nếu bị nhẹ, nên chú ý tránh phơi nắng, số nốt tàn nhang sẽ giảm, màu sẽ nhạt. Vào mùa hè ánh nắng gay gắt, khi ra ngoài nên đội mũ hoặc che ô. Trước khi ra ngoài, tốt nhất nên thoa kem chống nắng lên nơi có tàn nhang để đề phòng bức xạ của tia tử ngoại. Trong ăn uống nên ăn nhiều rau có chứa vitamin B, nhóm C, E, như cà rốt, cà chua, các loại rau xanh.

26. Vì sao có những phụ nữ rụng lông mày

Có những chị em lông mày thường xuyên rụng, trông lưa thưa, ảnh hưởng đến vẻ đẹp. Vì sao vậy?

Những năm gần đây, các nhà sinh lý học nghiên cứu thấy rằng, phần lớn các cô gái rụng lông mày là do cơ thể thiếu các nguyên tố vi lượng như kẽm, iốt,… dẫn đến tình trạng chân lông mày giảm ít, mật độ tổ chức keo dưới da thấp, lông mày phát triển không tốt, nên lông mày thưa, rụng dần.

Nữ bị viêm da do khô hoặc nhiều mỡ cũng rụng lông mày. Biểu hiện của bệnh này là tóc và lông mày rụng đứt từng đoạn nhỏ, ngứa ngáy khó chịu. Do bệnh này ảnh hưởng đến sự phát triển của chân lông, gây ngứa phải gãi nên lông mày rụng, thưa. Ngoài ra, tuyến giáp trạng quá kém, nội tiết rối loạn cũng làm cho lông mày rụng. Có một số chị em thích nhổ lông mày và kẻ lông mày, lâu ngày thành rụng lông mày vĩnh viễn.

Muốn phòng trị bệnh rụng lông mày, trước hết hãy tìm ra nguyên nhân. Nếu kiểm tra tóc, xác định lông mày rụng là do cơ thể thiếu nguyên tố vi lượng kẽm, có thể ăn các thức ăn giàu chất kẽm như ốc, mực, tôm, các loại đậu và gan động vật. Nếu lông mày rụng do thiếu nguyên tố vi lượng iốt thì ăn nhiều thức ăn giàu iốt như hải đới, rau câu, sò hến,… Nếu do viêm da vì khô và nhiều mỡ hoặc công năng tuyến giáp trạng kém nên nhờ thầy thuốc khám, điều trị, lông mày sẽ mọc lại bình thường. Những chị em thường nhổ lông mày cho đẹp, nên nhổ những sợi lông mọc chệch ngoài hàng.

27. Vì sao nữ giảm ăn lại tắt kinh?

Một số chị em thân hình béo phì, muốn giảm cân nhanh đã áp dụng cách giảm béo bằng việc giảm mạnh ăn uống. Hậu quả, sau một thời gian ngắn, thể trọng giảm không thấy có kinh nguyệt. Có những cô gái trẻ do thiếu hiểu biết vệ sinh sinh lý, cho đó là bình thường, thậm chí còn hiểu sai: không có kinh nguyệt đỡ phiền toái. Thực ra giảm ăn như vậy chỉ có hại cho sức khỏe.

Các chuyên gia đã điều tra phân tích: nữ trong 1 năm, thể trọng giảm hơn 5.000 gam, hoặc giảm 10%, chu kỳ kinh nguyệt theo quy luật sẽ thay đổi đột ngột và tắt kinh. Các chuyên gia cho rằng đó là một trở ngại của công năng hệ thống tinh thần, thần kinh. Biểu hiện chủ yếu là biếng ăn, gầy, giảm cân hơn trước đó 20%, đồng thời tắt kinh, thần kinh quá nhạy, lo nghĩ không yên,… kèm theo mắc bệnh tâm thần hay quên. Thời gian tắt kinh quá lâu do sự điều tiết của nội tiết thất thường, bộ phận sinh dục sẽ co lại, nặng thì ảnh hưởng đến công năng sinh dục. Vì sao giảm ăn thái quá sinh ra tắt kinh?

Sinh lý học về cơ thể cho chúng ta biết rằng, trong đại não của con người có hạ khâu não, trong đó có trung khu nhiếp thực và trung khu bảo thực. Khi người ta biếng ăn hoặc cố tình giảm ăn, vỏ đại não bị ức chế, lâu ngày, công năng của hai trung khu nói trên sẽ rối loạn, người sẽ giảm cân, ảnh hưởng đến trung khu tiết ra chất kích thích tạo ra chất hoàng thể của hạ khâu não, khiến trung khu này tiết ra ít chất nói trên trong tuyến yên, và chất noãn bào cũng giảm, do đó mà tắt kinh.

Có thể chữa trị bệnh tắt kinh do giảm ăn bằng cách chấm dứt giảm ăn, khôi phục lại thể trọng, hoặc dùng thuốc thúc tăng noãn bào.

28. Chuẩn bị thế nào khi đến thời kỳ mãn kinh?

Nữ, ai cũng trải qua thời kỳ mãn kinh, đó không phải là bệnh mà là hiện tượng sinh lý bình thường. Ở thời kỳ này, người chồng nên thông cảm, yêu thương người vợ hơn. Con cái, người thân, bạn bè cũng nên cố gắng tạo môi trường ổn định, thương yêu.

Phần lớn chị em bắt đầu mãn kinh vào độ tuổi trung niên, bình quân 47 tuổi. Khi thời kỳ mãn kinh đến, kinh nguyệt bắt đầu có sự thay đổi. Thời gian hành kinh hàng tháng không giống như trước, số ngày hành kinh cũng thay đổi, giảm dần cho đến lúc chấm dứt.

Do kinh nguyệt giảm, chất kích thích nội tiết trong cơ thể cũng ít. Trừ phi có sự điều chỉnh nào đó, sức ép tinh thần và tính khí của tuổi trung niên thường dẫn đến buồn phiền, khó chịu dù không có một lý do gì. Ăn uống lại kém, thế trọng giảm, thường xuyên mất ngủ. Đôi lúc chân tay run, một bộ phận nào đó trong cơ thể phát sốt, ngứa.

Không nên hoảng sợ trước hiện tượng đó. Nó là do nhiều huyết quản trong cơ thể co giãn không đều. Hiện tượng rối loạn đó sẽ qua đi. Phần lớn chị em cảm thấy tinh lực giảm hẳn. Ở thời kỳ này tinh lực có thể giảm 1/3. Người chồng nên gánh vác thêm công việc gia đình như quét nhà, nấu ăn, rửa bát.

Một vấn đề cần chú ý khác để sống được vui vẻ thuận lợi trong thời kỳ thay đổi, đó là dinh dưỡng và ăn uống. Vì toàn bộ sự biến đổi hóa học và sự biến đổi tâm tính cần có sự cân bằng trong ăn uống và dinh dưỡng hợp lý.

Trong mấy năm của thời kỳ mãn kinh, nhiều chị em thường kêu ca do thiếu canxi, loãng xương. Trong thời gian này, thường xuyên tập luyện thể dục là cực kỳ quan trọng, kết hợp với uống canxi.

Về mặt này, vợ chồng nên hỗ trợ cho nhau. Bắt đầu mỗi ngày đi bộ 3-4 lần, từ 1 kilômét, sau tăng dần 4-5 kilômét, nên tập trung theo cách này. Vợ chồng cùng đi bộ, cùng chuyện trò, hỗ trợ với nhau.

Ngoài bệnh trạng cơ thể và sức khỏe cơ thể trong thời kỳ mãn kinh ra, nên theo dõi sự biến đổi về tâm tính. Tâm tính thay đổi bất thường, ở mức độ nào đó, trong giai đoạn này, cần phải khắc phục.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :