Home / Gia Đình / 10 điều cần thỏa thuận trước hôn nhân quan trọng nhất

10 điều cần thỏa thuận trước hôn nhân quan trọng nhất

/

Điều kiện thủ tục giấy tờ, những phát sinh sau khi kết hôn, tiêu chí nhận tài sản sau li dị là những điều cần thỏa thuận trước khi kết hôn mà vợ chồng nên biết.

điều cần thỏa thuận trước hôn nhân

1. Kết hôn phải có những điều kiện gì?

Theo luật hôn nhân, kết hôn phải có 4 điều kiện cơ bản dưới đây:

– Hai bên nam nữ phải hoàn toàn tự nguyện và tự chủ, không cho phép bên này cưỡng ép bên kia hoặc người thứ ba can thiệp vào. Tự nguyện tự chủ là tự mình tình nguyện, tự mình làm chủ lấy mình mà không phải là ý nguyện của người khác (kể cả cha mẹ), do người khác sắp đặt. Tự nguyện tự chủ phải là hoàn toàn tự nguyện tự chủ, không có sự cưỡng ép.

– Cả nam lẫn nữ đều phải đúng tuổi hôn nhân theo luật định.

– Hai bên nam nữ đều chưa vợ chưa chồng, phù hợp với nguyên tắc một vợ một chồng. Người đã kết hôn rồi, chỉ khi nào một trong hai người đã quá cố hoặc hai người đã ly hôn mới được phép kết hôn nữa. Nếu quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại, thì không được kết hôn lần nữa. Nếu không, sẽ vi phạm luật hôn nhân và gia đình.

– Hai bên nam nữ phải không có quan hệ huyết thống.

2. Quan hệ vợ chồng bao gồm những nội dung gì?

Quan hệ vợ chồng bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Quan hệ nhân thân là quan hệ quyền lợi và nghĩa vụ về nhân cách, thân phận, địa vị của hai vợ chồng trong gia đình. Về nhân thân, vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ như sau:

– Trong gia đình, hai vợ chồng đều bình đẳng.

– Vợ chồng đều có quyền sử dụng họ tên của mình. 3. Vợ chồng đều có quyền tự do tham gia sản xuất, công tác, học tập và các hoạt động xã hội, bên này không được hạn chế hoặc can thiệp với bên kia.

– Vợ chồng đều có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch

Quan hệ tài sản chủ yếu có ba mặt sau đây:

– Tài sản của hai vợ chồng kể từ khi bắt đầu có quan hệ hôn nhân đều thuộc sở hữu chung của hai vợ chồng (trừ có sự giao ước riêng của hai bên). Có nghĩa là, vợ chồng dù một bên thu nhập nhiều hay ít hoặc không có thu nhập thì thu nhập của bên kia cũng thuộc về sở hữu chung của cả hai người, cùng hưởng, cùng sử dụng, cùng chi phối, hai vợ chồng đều có quyền xử lý bình đẳng.

– Vợ chồng có nghĩa vụ nuôi dưỡng lẫn nhau. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ này, bên kia có quyền yêu cầu đối phương trả tiền nuôi dưỡng.

– Vợ chồng, có quyền thừa kế tài sản.

3. Giải quyết quan hệ gia đình theo luật hôn nhân như thế nào?

Thành viên gia đình gồm vợ chồng, cha mẹ, con cái, ngoài ra còn có ông bà nội, ông bà ngoại, cháu nội, cháu ngoại, và anh chị em. Trong một gia đình lớn, mối quan hệ chồng chéo đó rất phức tạp, cần phải làm rõ mối quan hệ gia đình về các mặt, và phải tuân theo. Chuẩn tắc cơ bản để xử lý các mối quan hệ đó là các quy định có liên quan đến quan hệ gia đình trong luật hôn nhân.

Luật hôn nhân có quy định quyền lợi và nghĩa vụ giữa vợ chồng, cha mẹ con cái, cha mẹ kế, cha mẹ nuôi, ông bà ngoại, ông bà nội, cháu nội, cháu ngoại và anh chị em. Căn cứ vào những quy định đó, khi xử lý mối quan hệ gia đình phải thể hiện được các mặt “kính già yêu trẻ, đối xử bình đẳng, dân chủ về kinh tế, cùng chung gánh vác công việc gia đình”.

– Kính già yêu trẻ, tức là lớp trẻ tôn kính lớp già, lớp già yêu mến lớp trẻ. Đó là khâu quan trọng xử lý tốt quan hệ gia đình. Thái độ đúng để xử lý các mối quan hệ đó là: Lớp già đã có những cống hiến trong việc nuôi dạy con cái, xây dựng sự nghiệp, v.v… cần được tôn trọng; lớp trẻ tham gia sản xuất, học tập, công tác cần được ủng hộ, khuyến khích. Ngược lại, cho lớp già là “đồ phế phẩm”, thậm chí “có họ không có ta”, tìm cách tống khứ; hoặc cho con dâu là “người ngoại tộc”, đối xử khác với con gái, đánh chửi ngược đãi con dâu… Những nhận thức đó đều là sai lầm và pháp luật không thể dung thứ.

– Giữa vợ chồng, anh chị em và chị em dâu, chị em chồng đều phải được đối xử bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đoàn kết, hòa thuận, cùng nhau tiến bộ.

– Dân chủ về kinh tế. Có việc thì mọi người cùng bàn bạc rồi thực hiện. Gia đình là đơn vị kinh tế sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Xử lý tốt vấn đề kinh tế là cơ sở để gia đình hòa thuận, đoàn kết.

– Cùng nhau gánh vác việc nhà. Bất cứ gia đình lớn hoặc nhỏ, mọi thành viên đều có bổn phận gánh vác công việc gia đình. Về mặt này nên thể hiện sự bình đẳng nam nữ đặc biệt giữa chị em dâu, chị dâu em chồng, đương nhiên nên chiếu cố đối với những thành viên bận rộn vì lao động, công tác để họ có thời giờ nghỉ ngơi thỏa đáng.

4. Sau khi kết hôn phát hiện đối phương đã có vợ (chồng) thì làm thế nào?

Ở nước ta, bất cứ chồng đã có vợ, vợ đã có chồng, quan hệ hôn nhân lần trước vẫn tồn tại, lại đăng ký kết hôn với người khác, hoặc tuy chưa đăng ký kết hôn nhưng đã hình thành quan hệ hôn nhân thực tế, đều bị coi là hành vi trùng hôn.

Trùng hôn là hành vi đồi trụy của giai cấp bóc lột trong xã hội cũ, được phản ánh trong quan hệ hôn nhân gia đình. Nó gây rối loạn quan hệ hôn nhân, phá hoại hạnh phúc gia đình, làm đồi bại phong tục xã hội, nó hoàn toàn trái ngược với luật pháp và đạo đức của nước ta. Luật hôn nhân đã quy định rõ chế độ “một vợ một chồng”, “cấm trùng hôn”. Nếu xét thấy trùng hôn, ngoài việc pháp luật xóa bỏ quan hệ trùng hôn bất hợp pháp đó ra, còn căn cứ vào tình tiết nặng nhẹ mà truy cứu trách nhiệm hình sự.

Muốn đề phòng trùng hôn, trước khi kết hôn, nam nữ thanh niên phải thận trọng tìm hiểu xem đối phương đã có quan hệ hôn nhân chưa, một khi phát hiện đối phương đã có quan hệ hôn nhân, hoặc tuy đã ly hôn nhưng chưa hoàn thành thủ tục ly hôn theo pháp luật, thì nên chấm dứt quan hệ. Nếu khi kết hôn mới phát hiện đối phương đã có quan hệ hôn nhân, nên xuất phát từ những nguyên tắc đã định của pháp luật, kịp thời tổ giác với cơ quan chức năng, và chấm dứt quan hệ hôn nhân bất hợp pháp đó.

5. Tiến hành thủ tục ly hôn như thế nào?

Vì muốn bảo vệ tự do ly hôn, củng cố quan hệ gia đình, luật hôn nhân nước ta đã quy định trình tự ly hôn một cách nghiêm túc, thận trọng. Có hai tình huống ly hôn: một, hai bên nam nữ tự nguyện ly hôn; hai, một bên kiên quyết xin ly hôn. Do tình huống khác nhan, ly hôn cũng có trình tự hành chính và trình tự tố tụng khác nhau.

Hai bên nam nữ tự nguyện ly hôn thì hai bên cùng tự mình đến cơ quan đăng ký kết hôn ở địa phương xin ly hôn, làm thủ tục ly hôn. Sau khi nhận được đơn xin ly hôn, cơ quan chức năng tiến hành thẩm vấn đương sự, hòa giải. Nếu hòa giải không thành và xét thấy đúng là hai bên tự nguyện, không có hành vi phạm pháp như cưỡng ép, lừa gạt vấn đề nuôi con, phân chia tài sản giải quyết thỏa đáng thì sẽ cấp giấy chứng nhận ly hôn.

Nếu một bên kiên quyết đòi ly hôn, một bên không đồng ý, thì cơ quan chức năng tiến hành hòa giải, hoặc không qua cơ quan chức năng hòa giải, trực tiếp đưa đơn ly hôn lên tòa án. Sau khi thụ lý, tòa án cũng tiến hành hòa giải, nếu hòa giải không thành thì phán quyết theo tình hình thực tế. Tình cảm vợ chồng không còn nữa, phán quyết ly hôn; quan hệ vợ chồng chưa mất hẳn, còn có khả năng hòa giải, không phán quyết ly hôn.

Sau khi tòa án phán quyết cho ly hôn, nếu đương sự không chấp nhận, trong thời gian pháp luật quy định, có thể đưa đơn lên tòa án cấp trên, khi tòa án cấp trên phán quyết, đương sự phải chấp hành. Nếu hai bên đương sự không có ý kiến đối với phán quyết của tòa án, quá thời gian quy định được phép kháng cáo, phán quyết của tòa án bắt đầu có hiệu lực, đương sự phải chấp hành.

6. Khi ly hôn, tài sản của hai vợ chồng giải quyết như thế nào?

Luật hôn nhân quy định: Khi ly hôn, tài sản của hai vợ chồng do hai vợ chồng thương lượng xử lý, nếu không kết quả, tòa án sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể của tài sản phán quyết theo nguyên tắc chiếu cố quyền lợi của con cái và phụ nữ. Vì vậy vấn đề phân chia tài sản chung là do hai bên thương lượng giải quyết. Nếu có tranh chấp, tòa án sẽ xử lý theo nguyên tắc do pháp luật quy định.

Khi phán quyết ly hôn, tòa án không thể phân nhiều cho ai tranh cãi nhiều, cũng không máy móc chia bình quân, mà theo nguyên tắc chiếu cố lợi ích của phụ nữ, và cả lợi ích của con cái, căn cứ tình hình cụ thể của tài sản để đưa ra phán quyết hợp lý.

Có người cho rằng, ai đòi ly hôn, người đó nhận phần ít hơn hoặc không được chia phần, còn bên kia nhận được phần nhiều hơn hoặc toàn bộ tài sản, đó hoàn toàn sai lầm. Còn có người cho rằng ly hôn, nên dùng tài sản làm điều kiện trao đổi, xem ly hôn là cuộc mua bán tiền bạc, hoặc lấy cớ ly hôn để chiếm đoạt tài sản. Những ý kiến đó đều sai lầm, không cho phép. 

7. Khi tái hôn có thể mang tài sản của người chồng trước theo không?

Luật hôn nhân có quy định: Vợ chồng có quyền thừa kế di sản của nhau, cha mẹ và con cái có quyền thừa kế di sản của nhau. Vì vậy, sau khi chồng qua đời, vợ và con đều là người thừa kế hàng đầu theo luật định, vợ và con cái đều có quyền thừa kế bình đẳng. Nhưng nên căn cứ vào tình hình cụ thể mà phân tích, xử lý.

Khi tái hôn, vợ có quyền mang theo tài sản cá nhân và tài sản thừa kế; nếu người vợ chịu trách nhiệm nuôi dạy con thì có thể mang theo cả phần di sản thừa kế của con. Bất cứ ai cũng không có quyền ngăn cản và can thiệp. Nếu vấn đề thừa kế di sản chưa được giải quyết hợp lý hợp pháp, có thể đưa đơn kiện lên tòa án, nhờ tòa án xử lý theo luật.

8. Quả phụ có quyền thừa kế di sản không?

Vợ chồng là hai người bạn đời cùng sống chung nhau, tài sản tạo ra trong thời gian bắt đầu có quan hệ hôn nhân cũng thuộc sở hữu chung của hai người, sau khi một người qua đời, người kia có quyền thừa kế di sản của người quá cố. Nhưng trước khi người kia qua đời, hai bên đã ly hôn, thì người kia không có quyền thừa kế. Cho nên, chồng mất, vợ có quyền thừa kế di sản của chồng, bất cứ ai cũng không được can thiệp.

Nếu người chồng qua đời, tài sản do hai người tạo nên từ khi bắt đầu có quan hệ hôn nhân có một nửa thuộc về chồng, một nửa thuộc về vợ, thì không thể quy tất cả là di sản của chồng.

Đối với di sản của người chồng, vợ, con, cha mẹ là người thừa kế theo luật định, và đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất theo nguyên tắc. Những người thừa kế đều được hưởng quyền thừa kế bình đẳng theo thứ tự. Đương nhiên, khi xử lý vấn đề cụ thể, trước tiên nên chiếu cố những người thừa kế vị thành niên và mất sức lao động, sau đó nên xem xét đến nghĩa vụ của người thừa kế và nhu cầu thực tế trong cuộc sống của người thừa kế.

Sau khi người chồng đã mất, người vợ và những người thừa kế khác theo luật định không chỉ thừa kế quyền sở hữu của anh ta mà còn thừa kế cả nợ nần của anh ta. Đương nhiên, người thừa kế chỉ có thể hoàn trả các món nợ của anh ta trong phạm vi giá trị của di sản, nếu nợ vượt quá phạm vi đó, người thừa kế không chịu trách nhiệm phần nợ vượt quá.

9. Có thể làm ngơ đối với tình trạng trùng hôn không?

“Làm ngơ” không phải là ngôn ngữ pháp luật, mà là ngôn ngữ thường dùng trong quần chúng đối với các vụ án dân sự. Với các vụ án dân sự, phải có một bên đương sự tố cáo, tòa án mới thụ lý. Vụ án hình sự, luật hình quy định, đối với mỗi vụ phạm tội phải được người bị hại hoặc người được ủy nhiệm cho luật định đệ đơn tố cáo, thì tòa án mới thụ lý, không tố cáo thì thôi.

Theo quy định của luật pháp, vụ án trùng hôn thuộc vụ án tố, nhưng không phải vụ án “tố cáo mới xử lý”. Đặc điểm của vụ án trùng hôn: nó là vụ án tự tố, cũng có thể chuyển hóa thành vụ án công tố (chỉ khi bị cáo không tố giác, người khác tố giác với cơ quan kiểm sát thì mới chuyển thành vụ án công tố). Không ít người bị hại của loại án này do phụ thuộc kinh tế vào kẻ phạm tội trùng hôn, vì vậy họ không dám tố cáo, hoặc sau khi tố cáo bị đối phương nói ngon nói ngọt hoặc uy hiếp đe dọa nên rút đơn tố cáo và xin “hòa giải”, để kẻ phạm tội ung dung ngoài vòng pháp luật, trốn tránh pháp luật.

Vì vậy, cơ quan tư pháp có quy định bổ sung: nói chung vụ án trùng hôn do người bị hại tố cáo, nếu tình tiết nghiêm trọng, ảnh hưởng rất xấu, nếu người bị hại không khởi tố, thì quần chúng nhân dân, đoàn thể xã hội hoặc cơ quan hữu quan có thể tố cáo, sau đó cơ quan kiểm sát thẩm tra quyết định có cấu thành tội trùng hôn hay không. Nếu cần truy cứu trách nhiệm hình sự thì đưa đơn lên tòa án.

10. Bị ly hôn thì làm như thế nào?

Luật hôn nhân và thủ tục đăng ký hôn nhân của nước ta quy định: hai bên nam nữ tự nguyện ly hôn, đã thỏa thuận về các mặt phân chia tài sản và nuôi dạy con cái, thì đến cơ quan chức năng đăng ký. Sau khi điều tra xác thực, cơ quan chức năng chấp thuận cho ly hôn và cấp giấy chứng nhận ly hôn, tức là bắt đầu có hiệu lực pháp lý. Nếu một bên không đồng ý ly hôn mà bên kia kiên quyết ly hôn, thì phải do tòa án phán quyết ly hôn hay không. Phán quyết đó có hiệu lực, tức là bắt đầu có hiệu lực pháp lý.

Trong quá trình đăng ký ly hôn hoặc khiếu tố ly hôn, bất cứ bên nào có thủ đoạn lừa bịp, đều là phạm pháp. Nếu cơ quan đăng ký ly hôn và tòa án phát hiện có sự lừa dối, không những không cho ly hôn mà còn phê bình nghiêm khắc.

Ngay đến những vụ ly hôn đã có hiệu lực pháp lý, nếu khi xử lý có sai lầm, cơ quan chức năng và tòa án nên sửa sai theo đúng pháp luật. Nếu một bên đương sự phát hiện bị lừa trong vụ án ly hôn đã có hiệu lực pháp lý, có thể đưa đơn kiện lên cơ quan chức năng và tòa án. Cơ quan đăng ký hôn nhân và tòa án sau khi nhận đơn khiếu tố, cần thẩm tra lại và xử lý thỏa đáng.

This div height required for enabling the sticky sidebar
error: Content is protected !!
Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views : Ad Clicks : Ad Views :